Những lá thư thời chiến luôn gợi nhiều kỷ niệm. Ngoài tâm trạng xa cách thường thấy ở trong bất kỳ thư nào, thư chiến tranh còn chứa đựng những bi thương, hào hùng của một thời. Không hẳn chỉ có nhớ nhung, day dứt, mong ngóng, chờ trông, có những lá thư người viết còn gửi vào đó niềm khát khao chấm dứt chiến tranh, hy vọng vào ngày mai được buông súng về quê cầm cày cầm cuốc, có cả những niềm vui khi nghe tin quê nhà vẫn yên bình, thày mẹ, vợ con, các em vẫn khỏe, lúa má vẫn xanh. Tôi từng đọc những lá thư như thế, của gia đình tôi do anh tôi gửi về, của những người trong họ trong làng, cảm động lắm. Chỉ tiếc rằng hồi ấy ý thức lưu giữ kỷ vật chưa nhuần, chưa nghĩ rằng nó là thứ tài sản lưu niệm tinh thần nên cứ đọc xong biết được nội dung rồi là bỏ lăn bỏ lóc, thậm chí vứt đi, dùng nhóm lửa, dùng vào trăm thứ việc có sử dụng giấy vụn, giờ nghĩ lại thấy tiếc, nhất là với những trường hợp người ra chiến trường đã hy sinh. Chết khi tuổi mười tám đôi mươi, còn rất trẻ, thậm chí tấm ảnh chân dung cũng chả có (nhiều thanh niên nông thôn thời ấy không hề chụp ảnh bởi một phần không có tiền, muốn chụp phải lên huyện mới có cửa hàng ảnh, một phần nghĩ chụp cũng chả để làm gì, nhiều đám cưới cũng không có tấm ảnh nào, vào bộ đội lên rừng Yên Tử huấn luyện 3 tháng là hành quân vào Nam, không có thời giờ chụp ảnh), lá thư thủ bút cũng không còn, tiếc lắm.
Thời đánh nhau với Mỹ, trên sóng phát thanh Đài tiếng nói Việt Nam thỉnh thoảng phát bài hát
Lá thư hậu phương của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Phải công nhận bài hát khá hay, tình cảm. Lời ca kể về tâm trạng của người vợ ở nông thôn chờ chồng đang đánh giặc ngoài mặt trận. Cả ngày bận việc đồng áng, đến đêm mới thắp ngọn đèn hạt đỗ tranh thủ viết thư cho chồng, “biên thư nhắn thăm anh, lúc xóm làng đã ngủ yên, ánh trăng về khuya thêm sáng trong, em gửi anh đôi lời…”. Nhưng ca ngợi cái gì cũng vậy, cứ chừng mực, chân thật thì mới hay, chứ cái đoạn nhạc sĩ viết thay cho chị vợ “biên thư nhắn thăm anh, lúc con nhỏ đã ngủ ngoan, suốt ngày đùa vui nó hát ca, con khỏe anh yên lòng, tin tàu bay giặc Mỹ cháy, nó mừng vỗ tay reo hò…” thì nghe cứ sao sao ấy. Tôi trải qua những năm tháng đó, phải thưa thực với bác Phạm Tuyên rằng, đứa trẻ mà đã biết vỗ tay reo hò khi máy bay Mỹ cháy thì ở nông thôn thì bị coi là lớn rồi, chả có thời gian để “suốt ngày đùa vui hát ca” đâu, việc nhà nông tối mắt tối mũi đến mức không ngóc đầu nổi chứ ở đó mà hát ca. Có lần tôi lê la chuyện này với ông bạn cùng tuổi, nhà báo Đào Lê Bình, một tay làm báo có sạn trong đầu, y bảo ấy văn nghệ sĩ xứ ta nó hay vớ vẩn vậy, ông có nhớ hồi bé tí chúng mình học bài vỡ lòng “Bố Tý làm công nhân/Ở bến tàu khuân vác/Vừa làm lại vừa hát/Trong buổi sáng mùa xuân” không, ối giời, đang còng lưng khuân vác mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chân tay bủn rủn mà lại còn hát hò được nữa thì có mà thánh chứ không phải bố Tý, không phải người.