Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

Sưu tầm bài hát dân gian

Hồi còn học, bọn sinh viên K17 mình được các thầy Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế... (Khoa Văn, Tổng hợp Hà Nội) dạy rằng văn học dân gian (folklore) có tính vận động, luôn thay đổi, nhiều dị bản. Thầy Khánh khi giảng chuyên đề Tấm Cám (một trong những công trình nghiên cứu văn học dân gian, theo cá nhân mình là xuất sắc nhất) bảo truyện này có hàng trăm dị bản, tiêu biểu là chuyện về cô Lọ lem. Thầy Diên (một trong những thầy đẹp trai đỉnh khoa, từng chủ nhiệm lớp mình) thì thuộc hàng chục dị bản của mỗi tác phẩm. Công nhận các thầy hồi đó thầy ra thầy, còn trò có ra trò không thì đến giờ vẫn chưa xác định được.

Mình còn nhớ thầy Khánh, thầy Diên, thầy Quế luôn nhắc rằng văn học dân gian là trí tuệ, tình cảm của nhân dân, nó vừa mộc mạc, vừa bác học, đặc biệt là rất hài hước. Nhiều tác phẩm lấy cái tục để vui vẻ. Đã dân gian thì phải tục, thế mới là dân, chứ chả nhẽ lại giống văn chương bác học đạo mạo của ông Hữu Thỉnh thì còn nói làm quái gì.

Nghĩ đến công ơn các thầy, mình chợt nhớ hồi nhỏ thường nghe người nhớn hát những bài hát đương thời, hát chán bài gốc thì họ chuyển sang hát bài dị bản, bài phăng tơ ri. Đến giờ đầu óc cũng lẫn nhiều rồi, nhớ nhớ quên quên nhưng mình cũng còn thuộc vài câu vài bài. Biên lại đây cho cả nhà vui.

Nhạc sĩ Trọng Bằng có bài hát “Bão nổi lên rồi” ca ngợi cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968, mở đầu bằng câu “Bão nổi lên rồi từ miền Nam quê hương thân yêu…”, được mấy ông thanh niên làng mình hát thành “Vú nổi lên rồi, thày bu may xu chiêng cho con. Tiền đâu may xu chiêng cho con, con lấy yếm này về mà dùng dần…” (đến đây thì tôi quên béng).

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

Chuyện vải lụa

Bảo tôi ăn theo vụ ông Khải silk (dân dã gọi thành Khải siu) đang nóng rẫy thu hút sự chú ý của dư luận cũng được bởi thấy thiên hạ đang nói về ông lụa này rát quá, tự dưng nhớ đến lụa, những thứ liên quan tới lụa.

Nước Nam ta, ngôn ngữ miền Bắc có những khác biệt cơ bản với ngôn ngữ miền Nam dù cùng chung tiếng Việt chữ Việt. Có lẽ do di dân khai phá phương nam muốn tạo ra chút bản sắc riêng để không bị trộn lẫn. Ngoài bắc, tất cả các loại sản phẩm dệt bằng sợi tơ tự nhiên hay nhân tạo đều gọi chung là vải, rồi từ vải mới chia ra từng loại, như diềm bâu (chúc bâu), thổ cẩm, lĩnh, sa tanh, phin, kaki, ka tê, simili, chéo go, lụa… “Ôi chiếc quần chéo go/Ống rộng dài quét đất/Chiếc áo trắng chúc bâu/Đi qua nghe sột soạt” (thơ Xuân Quỳnh). Trong từng loại lại chia nhỏ hơn, chẳng hạn vải phin thì có phin thường, phin nõn, lụa có lụa tơ tằm, lụa nhân tạo… Trong nông nghiệp cũng phân biệt rất rõ ràng, tất cả những thứ cây trổ ra hạt thóc thì đều là cây lúa, lúa tẻ, lúa nếp, lúa mì; từ cây lúa sinh ra thóc, thóc lại chia thành thóc nếp, thóc tẻ; thóc tẻ có những giống khác nhau như tám, di, dự, chân trâu lùn, nông nghiệp 8; nhỏ hơn nữa thì lại có tám xoan, tám hạt tròn, tám thơm. Xay thóc thì sẽ ra gạo, gạo cũng chia thành gạo nếp, gạo tẻ. Đem gạo nấu lên sẽ có cơm hoặc cháo. Nếp nấu bình thường thì ra cơm nếp, bỏ vào chõ nấu xông hơi cách thủy thì có món xôi (nấu kiểu vậy gọi là đồ xôi), nếp trộn với đỗ xanh, thịt lợn gói trong lá dong lá chuối đem luộc thì gọi là bánh chưng, v.v..

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

Hội ăn tiền

Xứ ta có rất nhiều hội 
Lập ra chỉ để mà chơi
Và để xài tiên ngân sách
Mặc dân đóng thuế ngậm ngùi

Coi kìa cái hội phụ nữ
Cười tươi xúng xính áo quần
Khi đàn bà bị làm nhục
Nó chẳng một lần hỏi han

Hội nông dân đông nhất nước
Từ thôn cho tới trung ương
Nông dân bị cướp ruộng đất
Nó còn giá họa vu oan

Ơ kìa cái hội nhà báo
Cai trị cả vạn hội viên
Nhà báo bị thoi vào mặt
Hội vẫn dửng dưng ăn tiền

Hội bảo vệ người tiêu dùng
Chia nhau tiền thu bá tánh
Khách mua khăn dởm Khải “siu”
Nó vẫn ngậm mồm im tiếng

Tội to nhất cái hội nước
Hội họp xuân thu nhị kỳ
Mỗi ngày tốn cả tỉ bạc
Dân chẳng được lợi lộc gì

Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Trò mị dân vô pháp luật

Việc nhà cai trị miễn phí, giảm phí cho những người sống gần trạm thu phí là biện pháp mị dân, vừa rất vô pháp luật, bất bình đẳng, vừa rất cải lương, vớ vẩn.

Nếu đúng con đường đó cần phải thu phí thì bất kỳ xe nào đi trên nó cũng phải thu, mức thu như nhau theo quy định, cớ sao lại phân biệt thu nhiều thu ít với người này người kia, thu người này, không thu người khác. Xin nhớ mức thu chỉ phân biệt theo loại xe chứ không được phân biệt theo người.

Việc giảm hoặc không thu phí với một số đối tượng chỉ là trò mèo đánh lừa dư luận, mua chuộc người dân tại chỗ, không có căn cứ pháp luật gì cả. Điều này càng đào sâu hố ngăn cách mâu thuẫn trong người dân, gây sự bất bình trong nội bộ dân chúng. Đó là kiểu lấy dân trị dân, mỡ nó rán nó, rất thâm độc.

Phải thượng tôn pháp luật. Trạm BOT nào được quyền thu thì thu như nhau, còn vô lý đặt không đúng chỗ thì phải dẹp. Mấy vị đại biểu quốc hội cũng tinh ăn theo nói leo chính quyền, điều cần chỉ ra thì không chỉ.

Người dân cần tỉnh táo đấu tranh cho quyền lợi của mình. Đừng thấy họ nhử mồi thơm mà mắc phải. Đừng thấy đem cảnh sát cơ động ra dọa thì sợ. Cứ theo công lý mà làm.

Nguyễn Thông

Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

Nhặt nhạnh từ chuyến ra miền Trung

Phải nói ngay từ đầu, vừa xấu hổ vừa không, đám lứa 5X chúng tôi sinh ra và lớn lên (không dám dùng chữ trưởng thành) ở miền Bắc là chúa vô thần. Chả chịu tin vào điều gì ngoài tin đảng, Bác và chính phủ. Thực ra thì cả ba món ấy cũng chỉ là một. Vừa thôi bú mẹ là đã được tuyển vào đội nhi đồng, rồi đội thiếu niên, tiếp nữa là đoàn thanh niên, họ nhồi nhét vào đầu chủ nghĩa duy vật, vật chất quyết định ý thức, công ơn trời biển của đảng của bác, cứ thế là tin thôi. Chỉ tin những cái hiện hữu trước mắt, còn thứ gì siêu hình đều là nhảm nhí, tào lao, mê tín dị đoan cả.

Lớn lên chúng tôi lại chứng kiến những cuộc ra quân phá đình phá chùa, phá cả nhà thờ. Đình của bọn phong kiến cổ hủ lạc hậu, phải phá lấy gỗ lấy gạch xây chuồng lợn hợp tác xã. Nhất cử lưỡng tiện, vừa thủ tiêu được tàn tích phong kiến, vừa có vật chất phục vụ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Hồi bé tôi nghe người lớn hát bài “Phá đình đi, phá đình đi” hào hùng khí thế lắm. Đình làng Trà Phương quê tôi có gốc tích từ thời Mạc, phục dựng thời cuối Lê đầu Nguyễn, to như… cái đình, mấy chục cột gỗ lim cả vòng tay ôm, đá xanh Thanh Hóa, Ninh Bình tảng nào tảng ấy nặng cả tấn ghép xung quanh hành lang, chạm khắc làm chân cột, mái ngói vảy khít rịt chắc khừ, mưa bão không rịn nổi một giọt, thế mà đùng một cái, năm 1964, chính quyền và hợp tác xã tiến hành “hạ giải” lấy gỗ gạch đá ngói để xây trại chăn nuôi. Chỉ trong 1 tuần ngôi đình sạch bách, trơ cái nền ngổn ngang vữa gạch vụn. Giờ thỉnh thoảng về quê, tôi lại ngóng ra phía đình cũ, chỗ đất đẹp nhất làng ấy người ta đã xây trường cấp 2, còn lại dấu tích duy nhất của đình là gốc nhãn cổ thụ đã vài trăm tuổi. Cây nhãn này hồi chúng tôi còn bé chơi trốn tìm, đứa nào giỏi leo trèo mà trèo lên núp trong đám lá rậm rạp, đố đứa nào tìm ra nổi.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Tếu táo lẫn trầm sâu Nguyễn Sự (phần 2)

Trong chút ồn ắng nhẹ nhàng dễ thương của đô thị Hội An, tự dưng thấy yêu mến con người hơn. Không có sự tranh giành vội vã như thường gặp ở Sài Gòn hoặc Hà Nội. Con người sống thật tự nhiên. Như Nguyễn Sự đang ngồi trước mặt kia, gần gũi ấm áp, cởi mở ân tình. Những câu chuyện vui xen lẫn cởi mở về thế sự khiến 2 tiếng đồng hồ trôi nhanh quá.

Nói không quá đáng, có những đô thị trong sự phát triển và tồn tại giai đoạn nào đó được gắn với tên tuổi của cá nhân nhất định. Hà Nội suốt thời gian dài ghi liền với tên vị chủ tịch ủy ban hành chính đầu tiên Trần Duy Hưng. Cứ nhắc thủ đô là nghĩ ngay tới bác sĩ Trần Duy Hưng. Những năm 72-76 tôi học ở Hà Nội, ông Hưng vẫn còn làm chủ tịch, ông ngồi ghế ấy một mạch suốt từ khi tôi chưa đẻ (từ năm 1954) tới năm 1977, đó là chưa kể gánh nhiệm kỳ đầu 1945-1946 rồi kéo nhau lên rừng kháng chiến. Có nhiều giai thoại truyền kỳ về ông Hưng, một vị trí thức đáng kính, vị lãnh đạo giản dị liêm khiết, gần dân, được cụ Hồ rất tin tưởng. Chả hiểu sao rất nhiều đời đô trưởng kế nhiệm về sau, họ không học gương của ông Hưng, chỉ nảy nòi tinh đám Hoàng Văn Nghiên, Nguyễn Thế Thảo đầy tai tiếng.

Đà Nẵng cũng vậy, trải qua nhiều đời lãnh đạo như Hồ Nghinh, Mai Thúc Lân, Trương Quang Được, Nguyễn Văn Chi… nhưng hầu như tên tuổi Nguyễn Bá Thanh lấn át tất cả. Dấu ấn Nguyễn Bá Thanh đậm đến mức cụm từ Đà Nẵng - Nguyễn Bá Thanh thành cái tên chung, nếu chỉ nhắc một nửa sẽ thấy thiêu thiếu, chưa hoàn chỉnh. Tất nhiên không có thứ gì, không có ai là vĩnh cửu, muôn năm, mãi mãi, nhưng có thể đoán rằng dân Đà Nẵng nhiều năm nữa còn nhớ tới Nguyễn Bá Thanh. Tôi có con bé cháu từ Hải Phòng theo bác nó vào Đà Nẵng chơi, nhất quyết đòi chở bằng được tới cổng nhà ông Thanh chụp cái ảnh, đem về quê khoe như một chiến tích.

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Chuyện thư từ thời bao cấp (phần 2 - cuối)

Những lá thư thời chiến luôn gợi nhiều kỷ niệm. Ngoài tâm trạng xa cách thường thấy ở trong bất kỳ thư nào, thư chiến tranh còn chứa đựng những bi thương, hào hùng của một thời. Không hẳn chỉ có nhớ nhung, day dứt, mong ngóng, chờ trông, có những lá thư người viết còn gửi vào đó niềm khát khao chấm dứt chiến tranh, hy vọng vào ngày mai được buông súng về quê cầm cày cầm cuốc, có cả những niềm vui khi nghe tin quê nhà vẫn yên bình, thày mẹ, vợ con, các em vẫn khỏe, lúa má vẫn xanh. Tôi từng đọc những lá thư như thế, của gia đình tôi do anh tôi gửi về, của những người trong họ trong làng, cảm động lắm. Chỉ tiếc rằng hồi ấy ý thức lưu giữ kỷ vật chưa nhuần, chưa nghĩ rằng nó là thứ tài sản lưu niệm tinh thần nên cứ đọc xong biết được nội dung rồi là bỏ lăn bỏ lóc, thậm chí vứt đi, dùng nhóm lửa, dùng vào trăm thứ việc có sử dụng giấy vụn, giờ nghĩ lại thấy tiếc, nhất là với những trường hợp người ra chiến trường đã hy sinh. Chết khi tuổi mười tám đôi mươi, còn rất trẻ, thậm chí tấm ảnh chân dung cũng chả có (nhiều thanh niên nông thôn thời ấy không hề chụp ảnh bởi một phần không có tiền, muốn chụp phải lên huyện mới có cửa hàng ảnh, một phần nghĩ chụp cũng chả để làm gì, nhiều đám cưới cũng không có tấm ảnh nào, vào bộ đội lên rừng Yên Tử huấn luyện 3 tháng là hành quân vào Nam, không có thời giờ chụp ảnh), lá thư thủ bút cũng không còn, tiếc lắm.

Thời đánh nhau với Mỹ, trên sóng phát thanh Đài tiếng nói Việt Nam thỉnh thoảng phát bài hát Lá thư hậu phương của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Phải công nhận bài hát khá hay, tình cảm. Lời ca kể về tâm trạng của người vợ ở nông thôn chờ chồng đang đánh giặc ngoài mặt trận. Cả ngày bận việc đồng áng, đến đêm mới thắp ngọn đèn hạt đỗ tranh thủ viết thư cho chồng, “biên thư nhắn thăm anh, lúc xóm làng đã ngủ yên, ánh trăng về khuya thêm sáng trong, em gửi anh đôi lời…”. Nhưng ca ngợi cái gì cũng vậy, cứ chừng mực, chân thật thì mới hay, chứ cái đoạn nhạc sĩ viết thay cho chị vợ “biên thư nhắn thăm anh, lúc con nhỏ đã ngủ ngoan, suốt ngày đùa vui nó hát ca, con khỏe anh yên lòng, tin tàu bay giặc Mỹ cháy, nó mừng vỗ tay reo hò…” thì nghe cứ sao sao ấy. Tôi trải qua những năm tháng đó, phải thưa thực với bác Phạm Tuyên rằng, đứa trẻ mà đã biết vỗ tay reo hò khi máy bay Mỹ cháy thì ở nông thôn thì bị coi là lớn rồi, chả có thời gian để “suốt ngày đùa vui hát ca” đâu, việc nhà nông tối mắt tối mũi đến mức không ngóc đầu nổi chứ ở đó mà hát ca. Có lần tôi lê la chuyện này với ông bạn cùng tuổi, nhà báo Đào Lê Bình, một tay làm báo có sạn trong đầu, y bảo ấy văn nghệ sĩ xứ ta nó hay vớ vẩn vậy, ông có nhớ hồi bé tí chúng mình học bài vỡ lòng “Bố Tý làm công nhân/Ở bến tàu khuân vác/Vừa làm lại vừa hát/Trong buổi sáng mùa xuân” không, ối giời, đang còng lưng khuân vác mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chân tay bủn rủn mà lại còn hát hò được nữa thì có mà thánh chứ không phải bố Tý, không phải người.