Thời thập niên 80 trở về trước, vừa trải qua cuộc chiến tranh kéo dài mấy chục năm, thiệt hại vật chất không biết bao nhiêu mà kể, miền Bắc dù thắng cuộc nhưng gần như chỉ còn cái xác. Những anh cả anh hai Liên Xô, Trung Quốc thấy Việt Nam thắng được Mỹ có vẻ vênh váo nên cũng ghét, cắt dần viện trợ. Tôi còn nhớ những năm 76-77 chi đó, báo Nhân Dân hãnh diện ca ngợi sức mạnh quân sự của Việt Nam giờ đây mạnh nhất khu vực, riêng hải quân có thể đứng đầu châu Á bởi thu được của hải quân Việt Nam cộng hòa (mà họ gọi là ngụy) cơ man tàu chiến hiện đại, đó là chưa kể đám quân dưới quyền đề đốc Chung Tấn Cang đã lấy không ít chiếc để chạy trốn, chứ nếu không hải quân ta sẽ vào nhóm mạnh nhất địa cầu. Cứ như cách mô tả của tờ báo lớn này thì so với tàu chiến lợi phẩm của ta, tàu dạng Hải Ưng (trong một bộ phim Trung Quốc tôi xem thời niên thiếu) chỉ là con muỗi so với đại bàng. Liên Xô cũng giảm viện trợ và bắt đầu đòi nợ, khi “bạn chí cốt trên tuyến đầu chống Mỹ” chưa có tiền trả thì lấy bằng phương tiện chiến tranh do Mỹ bỏ lại, vơ bèo vạt tép, gom cả hạt điều, tiêu, cà phê, cao su, quần áo may sẵn…, lấy tất. Dùng máu người Việt ngăn được Mỹ rồi, thế là xong nhiệm vụ quốc tế, không cần giúp theo tình hữu nghị anh em nữa. Mỹ thì ngày càng cấm vận gắt gao. Người tài bỏ nước đi từng đàn dù biết có thể bỏ mạng trên hành trình gian khổ. Đất nước vì vậy càng xơ xác, kiệt quệ. Chính ông Nguyễn Văn Linh tại đại hội 6 của đảng cầm quyền cũng phải thừa nhận tình hình đang trên bờ vực.
Thực tế là vậy, nhưng tư duy đặc quyền đặc lợi đã ngấm vào máu cán bộ mất rồi. Sau bao năm chiến tranh gian khổ, giờ phải là lúc được tận hưởng, chia phần. Không thế, ai thèm dấn thân làm cách mạng. Ngay cả những vị từng nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử, cùng sống chết với dân, ngọt bùi chia sớt “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” thời chống Pháp, chống Mỹ cũng ngày càng chễm trệ như ông lớn. Ra đường phải ngựa ngựa xe xe, đến công sở đòi bàn này ghế nọ. Một mặt họ tuyên truyền ca ngợi tấm gương lão thực, giản dị, tiết kiệm của cụ Hồ, kêu gọi dân hãy noi gương cụ, mặt khác họ lên chương trình, kế hoạch chia bôi, giành phần cho cá nhân. Họ mặc nhiên coi đó là chủ trương của đảng, của nhà nước, chứ mình trong sạch, vô can. Dân có thắc mắc lăn tăn điều gì, cứ tìm hiểu chính sách của đảng và nhà nước. Mà dân chúng an phận, ngại đụng đến chính sách (bởi bao tấm gương tày liếp đang đếm kiến trong tù còn sờ sờ ra kia) nên cán bộ cứ ung dung hưởng lợi. Dần dà, đặc quyền đặc lợi trở thành nếp, anh nào nhảy vào bộ máy cai trị cũng nghiễm nhiên ngồi “chiếu hoa cạp điều” vênh váo với làng nước.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018
Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018
Tòa án làm trò rởm
Dẹp tòa, dẹp luôn cả những cấp trên giật dây tòa.
Ấy là tôi muốn nói đến vụ án Huỳnh Thị Huyền Như mà tòa đang xử. Cứ lúng túng như gà mắc tóc trong việc xác định ai phải đền số tiền lừa đảo của khách hàng, Huyền Như đền, hay Vietinbank đền. Tòa có vẻ muốn làm theo chỉ đạo của nhà nước, bảo vệ cho nhà băng nhà nước nên lý sự bảo rằng khách hàng tham lam, hám lời, mắc mưu của Huyền Như thì khách hàng ráng chịu, chứ ngân hàng vô can trong vụ này.
Thế tôi hỏi:
-Mụ Huyền Như có phải cán bộ có cỡ của ngân hàng Vietinbank không, một Phó trưởng phòng quản lý rủi ro Vietinbank chi nhánh TP.HCM không, hay nó chỉ là đứa cha vơ chú váo?
-Huyền Như hằng ngày có ngồi làm việc, lãnh đạo chỉ đạo này nọ ở trụ sở Vietinbank không, hay chỉ là con mụ lê la đầu đường xó chợ?
-Mọi giấy tờ được coi là lừa đảo của Huyền Như có phải là giấy lộn xé ra từ tập học trò, ghi bằng viết tay kiểu chơi hụi không, hay là đều dùng các loại chứng từ hóa đơn hợp pháp của Vietinbank?
-Ngân hàng nhà nước cũng như Vietinbank có cấm mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đem tiền tới gửi ở Vietinbank để lấy lời không, hay là khách hàng ẩu tả tự chui đầu vào thòng lọng?
Hãy trả lời những câu hỏi đó, rồi tòa hãy xù tiền của khách hàng.
Ấy là tôi muốn nói đến vụ án Huỳnh Thị Huyền Như mà tòa đang xử. Cứ lúng túng như gà mắc tóc trong việc xác định ai phải đền số tiền lừa đảo của khách hàng, Huyền Như đền, hay Vietinbank đền. Tòa có vẻ muốn làm theo chỉ đạo của nhà nước, bảo vệ cho nhà băng nhà nước nên lý sự bảo rằng khách hàng tham lam, hám lời, mắc mưu của Huyền Như thì khách hàng ráng chịu, chứ ngân hàng vô can trong vụ này.
Thế tôi hỏi:
-Mụ Huyền Như có phải cán bộ có cỡ của ngân hàng Vietinbank không, một Phó trưởng phòng quản lý rủi ro Vietinbank chi nhánh TP.HCM không, hay nó chỉ là đứa cha vơ chú váo?
-Huyền Như hằng ngày có ngồi làm việc, lãnh đạo chỉ đạo này nọ ở trụ sở Vietinbank không, hay chỉ là con mụ lê la đầu đường xó chợ?
-Mọi giấy tờ được coi là lừa đảo của Huyền Như có phải là giấy lộn xé ra từ tập học trò, ghi bằng viết tay kiểu chơi hụi không, hay là đều dùng các loại chứng từ hóa đơn hợp pháp của Vietinbank?
-Ngân hàng nhà nước cũng như Vietinbank có cấm mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đem tiền tới gửi ở Vietinbank để lấy lời không, hay là khách hàng ẩu tả tự chui đầu vào thòng lọng?
Hãy trả lời những câu hỏi đó, rồi tòa hãy xù tiền của khách hàng.
Nguyễn Thông
Ghi thêm: Con mụ Huyền Như ấy, ai cũng biết nó phạm tội tham ô chứ không phải lừa đảo. Nếu xử nó tội tham ô, mà những hơn 4.000 tỉ đồng, thì nó phải bị tử hình. Nó mà chịu án tử nó sẽ khai tùm lum. Khép nó vào tội lừa đảo, khung hình phạt cao nhất chỉ có chung thân, vừa cứu được ngân hàng nhà nước khỏi bị đền tiền, vừa bịt mồm Huyền Như bằng cái ơn tha mạng. Bắt nó đền cho khách, nó còn cái lồn mà đền. Cuối cùng chỉ khách hàng chịu thiệt.
Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018
Quả táo tây năm xa lắc
Nhớ năm ngoái, sáng mùng 5 tết dọn bàn thờ tổ tiên ông bà, thay cốc nước, lau tàn nhang, bỏ bình hoa sắp tàn, xin các cụ cho đem đĩa trái cây xuống để con cháu hưởng lộc, tâm tưởng bất chợt sống lại một chuyện hồi xa lắc.
Trong đĩa trái cây có những quả táo tây. Quả nào quả nấy to mọng, căng tròn, ánh lên sắc hồng đỏ nâu tím. Cứ như tem của siêu thị ghi dán ịch trên vỏ thì đó là táo Úc, không phải táo Trung Quốc. Chẳng biết tự bao giờ đâm sợ táo Trung Quốc. Những quả táo kia, chỉ nhìn đã phát thèm.
Cuối những năm 70, đầu 80 thế kỷ trước cuộc sống thật thiếu thốn khó khăn. Mãi khi vào miền Nam nhận công tác năm 1977 tôi mới được nếm mùi vị táo tây, mà cũng chỉ một miếng nhỏ trong bữa tiệc cuối năm do nhà trường chiêu đãi. Nó có cái ngon riêng so với táo dai, táo xoan, táo Thiện Phiến xứ ta, nhưng về hình thức thì ăn đứt, sang trọng, hấp dẫn hơn nhiều.
Tôi có chú em rể họ, tên là Thọ, dân Kim Sơn kháng Nhật (thôn đầu tiên trên đất Hải Phòng nổi trống mõ phá ách cai trị của phát xít Nhật, ở xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy), lấy con cậu ruột tôi. Y làm thủy thủ tàu viễn dương Công ty Vosco. Thời ấy, thủy thủ Vosco được coi như tầng lớp quý tộc, thượng đẳng thần, giới kỹ sư bác sĩ cũng chỉ xách dép cho họ. Khi cả xã hội, trong đó có nhiều giáo sư tiến sĩ “vua biết mặt, chúa biết tên” gò lưng trên chiếc xe đạp thì các vị thần này thả sức lướt trên xe máy Nhật mới coóng, DD đỏ hoặc Cup 81 kim vàng giọt lệ. Mình vừa đạp vừa quệt mồ hôi vã ra, còn chúng nhẹ lướt qua, tiếng máy êm như ru, để lại làn khói xanh mỏng cay mắt. Ông anh con bác tôi cười bảo con gái nhà nào chớp được "thằng" viễn dương Vosco thì chả khác gì lấy được cả chục thằng A Phủ làm chồng. Làng trên xóm dưới nhìn vào mà thèm.
Chú Thọ nhà tôi quanh năm suốt tháng lênh đênh trên biển, mỗi năm chỉ lên bờ vài lần. Y là thủy thủ viễn dương nhưng không giống đa số Vosco mà tôi đã nhắc ở trên. Y rất giản dị, tốt tính, không lên mặt với đời, đối xử với người nhà và bạn bè chí tình chí nghĩa. Vợ y vẫn làm cô giáo, cần mẫn với nghề dù chồng kiếm ăn được. Tôi mỗi lần ra Bắc vào Nam, gặp trúng chuyến tàu của Thọ thì không khác gì trúng số độc đắc, gần 3 ngày hành trình Hải Phòng - Sài Gòn lênh đênh trên biển chẳng những không mất tiền (khi ấy vé tàu biển khách Thống Nhất 120 đồng) mà còn được ăn uống như ông hoàng. Gọi là ông hoàng nhưng ông hoàng thời ấy thôi, những năm đầu thập niên 80, bởi thường ngày tinh nhét hạt bo bo vào bụng, lâu lắm mới được chạy qua hàng thịt hàng cá, thì trên tàu cứ ngày 3 bữa cơm trắng muốt, thịt cá đầy đủ, ăn xong còn có đét-xe (tráng miệng) trái cây, khi nho, khi táo tây, rồi trà túi lọc, cà phê sữa đá, bia Nhật... Sướng không thể tả. Đứa tôi nguyên quả táo to tròn ửng hồng, giục anh ăn đi, rồi Thọ bảo tôi, anh đừng ngại, đừng sĩ diện, chả mấy khi có dịp hưởng thụ vậy đâu. Em sang Nhật một chuyến, chỉ mua con xe bãi rác đem về bán cũng đủ tiền anh em mình ăn nhòe.
Hè năm 1980, chiếc tàu viễn dương mang tên Thái Bình (các con tàu của Vosco đều đặt tên theo tên sông, chẳng hạn Cửu Long, Sông Cầu, Sông Thương, Sông Hương, Vàm Cỏ, Thu Bồn…) của Thọ đi Osaka (Nhật) cập bến Hải Phòng. Tôi khi ấy đang nghỉ hè từ Sài Gòn về thăm quê nhà, thăm thày bu tôi. Buổi tối Thọ chạy xe máy xuống, khệ nệ ôm một bọc rõ to. Thọ rất quý thày tôi, lần nào về cũng có quà. Biết thày tôi hay viết lách ghi chép, Thọ thường mua biếu bút bi Nhật. Lần này ngoài bút bi, giấy trằng, còn “cháu biếu bác chút quà hoa quả”, mở ra toàn táo tây và lê. Thọ bảo cháu mua từ Nhật nhưng là táo Mỹ, táo Úc, lê Nhật. Tôi đã đi làm giáo học, dạy cả sinh viên, nhưng chưa bao giờ thấy nhà tôi có nhiều hoa quả ngoại ngon đến thế. Thày tôi thì khác, cụ từng làm thư lại ở phủ Kiến Thụy thời Pháp, từng biết đến những thứ này, nhưng cũng qua lâu rồi. Thày tôi cảm ơn Thọ, sai các con sắp táo lê bày trên bàn thờ. Thắp hương xong, đã tàn hẳn, thày lấy hoa quả xuống chia đều cho mọi người trong nhà, bảo ăn lấy thảo, ăn cho biết. Em rể tôi khi ấy ở cùng nhà, nói quà của ông, để ông ăn dần, sao ông chia hết thế, thày tôi nói hồi xưa thày đã được ăn rồi, biết mùi vị rồi, miếng ngon quý hiếm nên chia cho mọi người, nhất là “chúng bay từ bé đến giờ chưa biết nó thế nào”.
Trong số táo mâm quả mùng 5 tết tôi vừa dọn có một quả táo tây hơi bị dập. Bà xã tôi bảo nếu nó hư thì bỏ đi. Tôi tỉ mẩn ngồi gọt, khoét bỏ chỗ hư, giữ lại chỗ còn ăn được. Tôi bần thần nhớ đến lát táo tây mỏng lần đầu được nếm năm 1978, nhớ những quả táo tây thày tôi chia đều cho cả nhà. Tôi nhớ thày tôi, miếng ngon chả bao giờ dành về mình, giữ riêng cho mình.
Nguyễn Thông
Trong đĩa trái cây có những quả táo tây. Quả nào quả nấy to mọng, căng tròn, ánh lên sắc hồng đỏ nâu tím. Cứ như tem của siêu thị ghi dán ịch trên vỏ thì đó là táo Úc, không phải táo Trung Quốc. Chẳng biết tự bao giờ đâm sợ táo Trung Quốc. Những quả táo kia, chỉ nhìn đã phát thèm.
Cuối những năm 70, đầu 80 thế kỷ trước cuộc sống thật thiếu thốn khó khăn. Mãi khi vào miền Nam nhận công tác năm 1977 tôi mới được nếm mùi vị táo tây, mà cũng chỉ một miếng nhỏ trong bữa tiệc cuối năm do nhà trường chiêu đãi. Nó có cái ngon riêng so với táo dai, táo xoan, táo Thiện Phiến xứ ta, nhưng về hình thức thì ăn đứt, sang trọng, hấp dẫn hơn nhiều.
Tôi có chú em rể họ, tên là Thọ, dân Kim Sơn kháng Nhật (thôn đầu tiên trên đất Hải Phòng nổi trống mõ phá ách cai trị của phát xít Nhật, ở xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy), lấy con cậu ruột tôi. Y làm thủy thủ tàu viễn dương Công ty Vosco. Thời ấy, thủy thủ Vosco được coi như tầng lớp quý tộc, thượng đẳng thần, giới kỹ sư bác sĩ cũng chỉ xách dép cho họ. Khi cả xã hội, trong đó có nhiều giáo sư tiến sĩ “vua biết mặt, chúa biết tên” gò lưng trên chiếc xe đạp thì các vị thần này thả sức lướt trên xe máy Nhật mới coóng, DD đỏ hoặc Cup 81 kim vàng giọt lệ. Mình vừa đạp vừa quệt mồ hôi vã ra, còn chúng nhẹ lướt qua, tiếng máy êm như ru, để lại làn khói xanh mỏng cay mắt. Ông anh con bác tôi cười bảo con gái nhà nào chớp được "thằng" viễn dương Vosco thì chả khác gì lấy được cả chục thằng A Phủ làm chồng. Làng trên xóm dưới nhìn vào mà thèm.
Chú Thọ nhà tôi quanh năm suốt tháng lênh đênh trên biển, mỗi năm chỉ lên bờ vài lần. Y là thủy thủ viễn dương nhưng không giống đa số Vosco mà tôi đã nhắc ở trên. Y rất giản dị, tốt tính, không lên mặt với đời, đối xử với người nhà và bạn bè chí tình chí nghĩa. Vợ y vẫn làm cô giáo, cần mẫn với nghề dù chồng kiếm ăn được. Tôi mỗi lần ra Bắc vào Nam, gặp trúng chuyến tàu của Thọ thì không khác gì trúng số độc đắc, gần 3 ngày hành trình Hải Phòng - Sài Gòn lênh đênh trên biển chẳng những không mất tiền (khi ấy vé tàu biển khách Thống Nhất 120 đồng) mà còn được ăn uống như ông hoàng. Gọi là ông hoàng nhưng ông hoàng thời ấy thôi, những năm đầu thập niên 80, bởi thường ngày tinh nhét hạt bo bo vào bụng, lâu lắm mới được chạy qua hàng thịt hàng cá, thì trên tàu cứ ngày 3 bữa cơm trắng muốt, thịt cá đầy đủ, ăn xong còn có đét-xe (tráng miệng) trái cây, khi nho, khi táo tây, rồi trà túi lọc, cà phê sữa đá, bia Nhật... Sướng không thể tả. Đứa tôi nguyên quả táo to tròn ửng hồng, giục anh ăn đi, rồi Thọ bảo tôi, anh đừng ngại, đừng sĩ diện, chả mấy khi có dịp hưởng thụ vậy đâu. Em sang Nhật một chuyến, chỉ mua con xe bãi rác đem về bán cũng đủ tiền anh em mình ăn nhòe.
Hè năm 1980, chiếc tàu viễn dương mang tên Thái Bình (các con tàu của Vosco đều đặt tên theo tên sông, chẳng hạn Cửu Long, Sông Cầu, Sông Thương, Sông Hương, Vàm Cỏ, Thu Bồn…) của Thọ đi Osaka (Nhật) cập bến Hải Phòng. Tôi khi ấy đang nghỉ hè từ Sài Gòn về thăm quê nhà, thăm thày bu tôi. Buổi tối Thọ chạy xe máy xuống, khệ nệ ôm một bọc rõ to. Thọ rất quý thày tôi, lần nào về cũng có quà. Biết thày tôi hay viết lách ghi chép, Thọ thường mua biếu bút bi Nhật. Lần này ngoài bút bi, giấy trằng, còn “cháu biếu bác chút quà hoa quả”, mở ra toàn táo tây và lê. Thọ bảo cháu mua từ Nhật nhưng là táo Mỹ, táo Úc, lê Nhật. Tôi đã đi làm giáo học, dạy cả sinh viên, nhưng chưa bao giờ thấy nhà tôi có nhiều hoa quả ngoại ngon đến thế. Thày tôi thì khác, cụ từng làm thư lại ở phủ Kiến Thụy thời Pháp, từng biết đến những thứ này, nhưng cũng qua lâu rồi. Thày tôi cảm ơn Thọ, sai các con sắp táo lê bày trên bàn thờ. Thắp hương xong, đã tàn hẳn, thày lấy hoa quả xuống chia đều cho mọi người trong nhà, bảo ăn lấy thảo, ăn cho biết. Em rể tôi khi ấy ở cùng nhà, nói quà của ông, để ông ăn dần, sao ông chia hết thế, thày tôi nói hồi xưa thày đã được ăn rồi, biết mùi vị rồi, miếng ngon quý hiếm nên chia cho mọi người, nhất là “chúng bay từ bé đến giờ chưa biết nó thế nào”.
Trong số táo mâm quả mùng 5 tết tôi vừa dọn có một quả táo tây hơi bị dập. Bà xã tôi bảo nếu nó hư thì bỏ đi. Tôi tỉ mẩn ngồi gọt, khoét bỏ chỗ hư, giữ lại chỗ còn ăn được. Tôi bần thần nhớ đến lát táo tây mỏng lần đầu được nếm năm 1978, nhớ những quả táo tây thày tôi chia đều cho cả nhà. Tôi nhớ thày tôi, miếng ngon chả bao giờ dành về mình, giữ riêng cho mình.
Nguyễn Thông
Đặc quyền quan cách mạng (kỳ 2)
Tối 6.2, tôi coi tivi nhà nước thấy cảnh ông Võ Văn Thưởng, yếu nhân phụ trách mảng văn hóa tư tưởng của đảng cầm quyền (họ gọi là tuyên giáo) đi thăm 2 lực lượng quan trọng lúc này: Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng (của quân đội) và Cục An ninh mạng (của công an). Ông này thì tôi biết tương đối rõ bởi hồi là người đứng đầu Trung ương Đoàn ông không để lại được dấu ấn, ấn tượng gì cho đám lính lác chúng tôi. Giờ may mắn làm tuyên giáo, ông phải ăn nói như bất cứ anh tuyên giáo nào. Ông ca ngợi này nọ. Ông làm nhiệm vụ bảo vệ đảng của ông.
Tôi biên điều ấy ra để nói rằng người ta thấm nhuần ý thức “đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại”, chả bao giờ tự phơi bày cái xấu của chính họ. Bệnh đặc quyền quan cách mạng là một thói xấu, thậm xấu, có bề dày lịch sử, ông Thưởng biết mà không thể nói, nhưng chúng ta cần chỉ ra cho mọi người thấy, cũng để những người như ông Thưởng biết rằng chẳng có gì giấu được mãi.
Đa số những người cộng sản mắc chứng nói một đằng, làm một nẻo. Thế gian này, nếu tất cả mọi điều như chính người cộng sản nói thì đẹp vô cùng. Các quan hệ xã hội, cách đối nhân xử thế, nếu cứ theo họ tuyên bố, thì mọi thể chế, hình thái xã hội khác đều phải bái phục, vác bút nghiên đến mà học mệt nghỉ.
Tôi biên điều ấy ra để nói rằng người ta thấm nhuần ý thức “đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại”, chả bao giờ tự phơi bày cái xấu của chính họ. Bệnh đặc quyền quan cách mạng là một thói xấu, thậm xấu, có bề dày lịch sử, ông Thưởng biết mà không thể nói, nhưng chúng ta cần chỉ ra cho mọi người thấy, cũng để những người như ông Thưởng biết rằng chẳng có gì giấu được mãi.
Đa số những người cộng sản mắc chứng nói một đằng, làm một nẻo. Thế gian này, nếu tất cả mọi điều như chính người cộng sản nói thì đẹp vô cùng. Các quan hệ xã hội, cách đối nhân xử thế, nếu cứ theo họ tuyên bố, thì mọi thể chế, hình thái xã hội khác đều phải bái phục, vác bút nghiên đến mà học mệt nghỉ.
Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018
Bài hát kỳ này: Mùa xuân làng lúa làng hoa
Lứa ra đời nửa sau thập niên 50 chúng tôi quen với những bài hát chiến tranh ùng oàng bom đạn, hừng hực “tinh thần cách mạng tiến công” chứ mấy khi được nghe những ca khúc trữ tình. Nói công bằng thì ngay cả những bài trữ tình nhất hồi ấy như “Tình ca” của Hoàng Việt, “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ cũng cứ phải đúng luồng, chảy theo dòng định sẵn, phải phả ra chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cái riêng tư mà đứng một mình thì chết ngay, bị quy là làm yếu tinh thần dân tộc, mất sức chiến đấu. Thôi thì thời thế nó vậy, biết làm sao.
Vì vậy, tới khi được nghe bài hát “Mùa xuân làng lúa làng hoa”, tôi sững sờ. Cái phần tưởng như đã chai sạn, hóa đá, chết lặng trong con người mình lại được khơi ra. Hóa ra mình vẫn có nhu cầu yếu đuối, yêu bằng thứ tình yêu nhẹ nhàng, giản dị, yêu đất, yêu người, yêu những cái hết sức gần gũi, quen thuộc.
Nhạc sĩ Ngọc Khuê viết bài này năm 1982, tức là khi ấy đám chúng tôi văng vào đời đã được gần 6 năm. Thời nớ, chả biết các bạn thế nào chứ tôi trong cảnh đời giáo Thứ sống mòn, chỉ lo kiếm cơm đổ vào mồm, nào có quan tâm tới cái gì. Nhưng rồi một ngày được nghe cô ca sĩ trẻ Trung Anh hát về làng lúa làng hoa, tự dưng ứa nước mắt, thầm nghĩ đời mình rồi sẽ thay đổi chứ lẽ đâu mãi chịu thế này.
Lại nhớ một lần, năm 1975 tôi cùng nhóm bạn đến chơi nhà một người bạn ở khu làng hoa Ngọc Hà phía sau lăng cụ Hồ. Bạn chủ nhà hiếu khách mời chúng tôi ngồi chơi, nhờ tôi bật giùm cái quạt máy Trung Quốc nhưng thằng thộn tôi cứ loay hoay chả biết phím bật nó ở chỗ nào. Hương hoa ngoài vườn thoảng thoảng vương vít hiên nhà như cười trêu vị khách vụng về quê kệch.
Nay tất cả đã xa rồi, cả làng hoa, hương hoa, cả người, cả những vụng về của một thời trẻ dại.
Nhiều người hát “Mùa xuân làng lúa làng hoa” nhưng mình nghĩ có lẽ ca sĩ Thanh Hoa hát hay nhất, tình cảm nhất.
Vì vậy, tới khi được nghe bài hát “Mùa xuân làng lúa làng hoa”, tôi sững sờ. Cái phần tưởng như đã chai sạn, hóa đá, chết lặng trong con người mình lại được khơi ra. Hóa ra mình vẫn có nhu cầu yếu đuối, yêu bằng thứ tình yêu nhẹ nhàng, giản dị, yêu đất, yêu người, yêu những cái hết sức gần gũi, quen thuộc.
Nhạc sĩ Ngọc Khuê viết bài này năm 1982, tức là khi ấy đám chúng tôi văng vào đời đã được gần 6 năm. Thời nớ, chả biết các bạn thế nào chứ tôi trong cảnh đời giáo Thứ sống mòn, chỉ lo kiếm cơm đổ vào mồm, nào có quan tâm tới cái gì. Nhưng rồi một ngày được nghe cô ca sĩ trẻ Trung Anh hát về làng lúa làng hoa, tự dưng ứa nước mắt, thầm nghĩ đời mình rồi sẽ thay đổi chứ lẽ đâu mãi chịu thế này.
Lại nhớ một lần, năm 1975 tôi cùng nhóm bạn đến chơi nhà một người bạn ở khu làng hoa Ngọc Hà phía sau lăng cụ Hồ. Bạn chủ nhà hiếu khách mời chúng tôi ngồi chơi, nhờ tôi bật giùm cái quạt máy Trung Quốc nhưng thằng thộn tôi cứ loay hoay chả biết phím bật nó ở chỗ nào. Hương hoa ngoài vườn thoảng thoảng vương vít hiên nhà như cười trêu vị khách vụng về quê kệch.
Nay tất cả đã xa rồi, cả làng hoa, hương hoa, cả người, cả những vụng về của một thời trẻ dại.
Nhiều người hát “Mùa xuân làng lúa làng hoa” nhưng mình nghĩ có lẽ ca sĩ Thanh Hoa hát hay nhất, tình cảm nhất.
Nguyễn Thông
Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018
Đặc quyền quan cách mạng
Thiên hạ đang ồn ào về cái dự án nghĩa trang Yên Trung dành cho quan chức cấp cao định mở ở ngoại thành Hà Nội. Rộng hơn trăm mẫu tây, dự chi ngân sách tròm trèm 1.400 tỉ đồng.
Lâu nay, nhà cầm quyền đã tự mặc định chỗ chôn ông to bà lớn ở nghĩa trang Mai Dịch. Nhắc tới cái tên này, một thời đồng nghĩa với sự kính cẩn, khiếp sợ, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” bởi đất vàng chỉ dành cho một hạng người nhất định. Nhưng rồi Mai Dịch, phần thì chật chội hết chỗ, phần kém thiêng, nên nhà nước đang tính phải có nơi thay thế, “cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”.
Nếu ai còn chút lăn tăn, giở từ điển tiếng Việt thì từ “đặc quyền” được giải thích là “quyền, quyền lợi đặc biệt dành cho cá nhân, tập đoàn, hay một giai cấp nhất định”. Muốn tin cậy hơn nữa, bởi đây là từ gốc Hán Việt, thì mở thêm cuốn “Từ điển Hán Việt” của cụ học giả Đào Duy Anh thì đặc quyền tức “quyền lợi đặc biệt”. Thế là rõ.
Trong xã hội loài người, xét về lý thuyết, chỉ khi nào tiến lên tới hình thái cộng sản, khi ấy mọi người đều bình đẳng, thì mới hết đặc quyền. Ấy, cứ nghe bộ máy cai trị dóng dả tuyên truyền vậy chứ đã ai biết cái xã hội cộng sản nó mặt ngang mũi dọc thế nào. Giá có sống lâu như cụ Bành Tổ cũng chả mong nhìn thấy thiên đường “cùng làm cùng hưởng, bình quân chia đều”. Câu này thế hệ chúng tôi sinh vào thập niên 50 thế kỷ trước đứa nào cũng thuộc, khoái lắm, nhiều đứa còn mơ mộng sau một đêm ngủ dậy, ngỡ ngàng thấy sự nghèo đói đã lùi xa tít tắp, ngay cả ăn ngon mặc đẹp cũng không thèm, chả cần làm gì vẫn có ăn. Xã hội cộng sản là thế, chỉ nghĩ tới người đã tràn cảm giác lâng lâng.
Lâu nay, nhà cầm quyền đã tự mặc định chỗ chôn ông to bà lớn ở nghĩa trang Mai Dịch. Nhắc tới cái tên này, một thời đồng nghĩa với sự kính cẩn, khiếp sợ, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” bởi đất vàng chỉ dành cho một hạng người nhất định. Nhưng rồi Mai Dịch, phần thì chật chội hết chỗ, phần kém thiêng, nên nhà nước đang tính phải có nơi thay thế, “cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”.
Nếu ai còn chút lăn tăn, giở từ điển tiếng Việt thì từ “đặc quyền” được giải thích là “quyền, quyền lợi đặc biệt dành cho cá nhân, tập đoàn, hay một giai cấp nhất định”. Muốn tin cậy hơn nữa, bởi đây là từ gốc Hán Việt, thì mở thêm cuốn “Từ điển Hán Việt” của cụ học giả Đào Duy Anh thì đặc quyền tức “quyền lợi đặc biệt”. Thế là rõ.
Trong xã hội loài người, xét về lý thuyết, chỉ khi nào tiến lên tới hình thái cộng sản, khi ấy mọi người đều bình đẳng, thì mới hết đặc quyền. Ấy, cứ nghe bộ máy cai trị dóng dả tuyên truyền vậy chứ đã ai biết cái xã hội cộng sản nó mặt ngang mũi dọc thế nào. Giá có sống lâu như cụ Bành Tổ cũng chả mong nhìn thấy thiên đường “cùng làm cùng hưởng, bình quân chia đều”. Câu này thế hệ chúng tôi sinh vào thập niên 50 thế kỷ trước đứa nào cũng thuộc, khoái lắm, nhiều đứa còn mơ mộng sau một đêm ngủ dậy, ngỡ ngàng thấy sự nghèo đói đã lùi xa tít tắp, ngay cả ăn ngon mặc đẹp cũng không thèm, chả cần làm gì vẫn có ăn. Xã hội cộng sản là thế, chỉ nghĩ tới người đã tràn cảm giác lâng lâng.
Chữ ký
Nửa tuần nay, phải công nhận các chàng trai cầu thủ U.23 và ông thầy Park ký tên mệt nghỉ. Ký lên cờ, lên áo, ký lên quả bóng, ký vào sổ tay... Ai cũng muốn có chút kỷ niệm chữ ký của những con người nổi tiếng ấy.
Tôi rất trân trọng cả người ký lẫn người xin chữ ký. Đó là nét văn hóa khá mới mẻ trong xã hội hiện đại.
Nhưng tôi không cố chen lấn để xin cho được chữ ký của ai đó, những yếu nhân, văn nghệ sĩ, ca sĩ, cầu thủ, đại gia, nói chung là những người nổi tiếng. Tôi tự biết, mình quý trọng họ là được rồi, bởi trên thực tế thấy những chữ ký lưu niệm, kỷ niệm bị đối xử hắt hủi, lãng quên, thật tội.
Tôi mê sách, thường la cà ở những tiệm bán sách cũ đường Trần Nhân Tôn (quận 5), hoặc Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1), không ít lần mua được những cuốn sách hay, giá rẻ, trang đầu có chữ ký trân trọng của tác giả ký tặng người này người nọ. Sách quý như thế mà trôi nổi lưu lạc, cũng có thể chủ nhân cuốn sách gặp cảnh khốn khó tang thương đến nỗi phải bán cả sách mà sống qua ngày, nếu vậy thì thật đáng thương, dễ thông cảm. Nhưng cũng có thể họ cũng chả tha thiết gì với kỷ niệm của người khác. Những cuốn sách ấy, sau khi mua về, bao giờ tôi cũng lấy kéo cắt cẩn thận tờ có chữ ký bỏ đi. Mình dễ bị hiểu nhầm là mượn sách của người khác nhưng không trả. Nhưng cái chính là giữ gìn cái tiếng cho ai đó từng là chủ nhân cuốn sách.
Hồi đầu năm ngoái, chị Ái Vân về nước giới thiệu cuốn hồi ký của chị, tôi được chị ký tặng một bản. Đối với tôi, chữ ký ấy có giá trị ngang cuốn sách. Mỗi lần mở ra đọc lại, ngắm nghía chữ ký chán chê rồi mới lật từng trang, thấy thú vị vô cùng. Cuốn Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, có chữ ký của cụ Khánh, rồi bộ sách Bạn Văn, Ký Ức Vụn của nhà văn Nguyễn Quang Lập, cuốn nào bọ Lập cũng đề tặng rất cẩn thận nắn nót, nét ký thật đậm phía dưới, những cuốn ấy, tôi bảo các con "đứa nào cho mượn làm mất mấy cuốn này của bố, phải đền 1 tỉ", chúng lắc đầu lè lưỡi.
Tôi rất trân trọng cả người ký lẫn người xin chữ ký. Đó là nét văn hóa khá mới mẻ trong xã hội hiện đại.
Nhưng tôi không cố chen lấn để xin cho được chữ ký của ai đó, những yếu nhân, văn nghệ sĩ, ca sĩ, cầu thủ, đại gia, nói chung là những người nổi tiếng. Tôi tự biết, mình quý trọng họ là được rồi, bởi trên thực tế thấy những chữ ký lưu niệm, kỷ niệm bị đối xử hắt hủi, lãng quên, thật tội.
Tôi mê sách, thường la cà ở những tiệm bán sách cũ đường Trần Nhân Tôn (quận 5), hoặc Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1), không ít lần mua được những cuốn sách hay, giá rẻ, trang đầu có chữ ký trân trọng của tác giả ký tặng người này người nọ. Sách quý như thế mà trôi nổi lưu lạc, cũng có thể chủ nhân cuốn sách gặp cảnh khốn khó tang thương đến nỗi phải bán cả sách mà sống qua ngày, nếu vậy thì thật đáng thương, dễ thông cảm. Nhưng cũng có thể họ cũng chả tha thiết gì với kỷ niệm của người khác. Những cuốn sách ấy, sau khi mua về, bao giờ tôi cũng lấy kéo cắt cẩn thận tờ có chữ ký bỏ đi. Mình dễ bị hiểu nhầm là mượn sách của người khác nhưng không trả. Nhưng cái chính là giữ gìn cái tiếng cho ai đó từng là chủ nhân cuốn sách.
Hồi đầu năm ngoái, chị Ái Vân về nước giới thiệu cuốn hồi ký của chị, tôi được chị ký tặng một bản. Đối với tôi, chữ ký ấy có giá trị ngang cuốn sách. Mỗi lần mở ra đọc lại, ngắm nghía chữ ký chán chê rồi mới lật từng trang, thấy thú vị vô cùng. Cuốn Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, có chữ ký của cụ Khánh, rồi bộ sách Bạn Văn, Ký Ức Vụn của nhà văn Nguyễn Quang Lập, cuốn nào bọ Lập cũng đề tặng rất cẩn thận nắn nót, nét ký thật đậm phía dưới, những cuốn ấy, tôi bảo các con "đứa nào cho mượn làm mất mấy cuốn này của bố, phải đền 1 tỉ", chúng lắc đầu lè lưỡi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)