Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Ông cụ Đẹn

PHẦN 1

Cho đến giờ, tôi chưa thấy ai khổ như ông cụ Đẹn. Hình như cái tên nó vận vào người. Cuộc đời cứ ngày càng quắt queo. Và không chỉ một mình cụ ông, cả nhà ấy mỗi người là một số phận nghèo khó, khổ đau, thảm hại. Bức tranh gia đình toàn màu xám xịt.

Ông Đẹn người làng tôi, nếu xét họ xa bên ngoại thì là bề trên cả bu tôi, mấy chị em tôi phải gọi bằng ông, nhưng cứ quen cách xưng hô một điều cụ Đẹn hai điều cụ Đẹn, các con cụ chúng tôi kính cẩn thưa bằng bác bằng bá dù họ chỉ bằng, thậm chí kém tuổi. Chỉ có người con gái lớn của cụ đi học, hết cấp 2 thì nghỉ, lấy chồng xa, còn 3 người con trai kế tiếp chả bác nào học hành gì, nguyên do tôi sẽ nói sau.

Lúc tôi bắt đầu học lớp vỡ lòng thì quê đang phong trào hợp tác hóa. Cán bộ xã đến từng nhà, trước thì vận động sau thì gò ép bắt phải góp ruộng góp trâu vào hợp tác. Cơn bão cải cách ruộng đất vừa đi qua vài năm nhưng đâu đây, góc nọ góc kia vẫn thấy đeo đẳng khốc liệt. Những nỗi khiếp sợ, chán nản còn hằn trên gương mặt người. Anh chị tôi thỉnh thoảng kể lại cái thời ấy và thường nhắc đến cụ Đẹn. Chuyện rằng đội cải cách thấy cụ thành phần bần cố nông cốt cán, họ xúi cụ hăng hái đấu tố rồi còn xếp cụ tham gia đội hành quyết địa chủ. Cụ cứ như con loi choi, ai sai cũng dạ ai bảo cũng vâng, việc gì cũng làm, con người hiền lành bỗng chốc biến thành hung thần, chẳng cần phân biệt đúng sai. Những gia đình bị cụ tố oan sai căm cụ đã đành, ngay cả người làng người nước chả thù hằn gì cũng dần dần xa lánh cụ. Nhưng nếu chỉ có vậy thì còn phúc cho ông cụ Đẹn lắm.

Vào hợp tác, hai vợ chồng cụ suốt ngày quần quật ngoài đồng, lúc thì việc do đội sản xuất phân công lúc thì chăm bón hơn sào ruộng rau xanh, mùa lúa cấy lúa mùa khoai trồng khoai. Cụ ông thật khỏe, hình như tôi chả thấy cụ ốm bao giờ. Vậy mà đói rách quanh năm. Những khi nhà tôi có việc gì nặng nhọc một chút, như đánh mấy gốc tre, bửa đám củi gộc… thì thày tôi lại sai con cái ra gọi cụ Đẹn. Nhà tôi hồi ấy cũng giống bao gia đình xã viên, chả khá giả gì, được cái bu tôi tháo vát biết chút ít buôn bán nên bữa ăn đôi khi chút thịt chút cá. Sau một vài lần như vậy, tôi tỏ ý ngấm nguýt bởi cụ Đẹn ăn khỏe nên khi thày bảo sang mời cụ ra làm giúp thì cứ lần lữa thoái thác, kiếm cớ bận chuyện này chuyện kia rồi chuồn. Nhưng thày hiểu, một lần trong bữa cơm thày bảo (đại khái rằng) các con ạ, việc này việc khác nếu thày hoặc chúng mày (khi thân mật thày gọi như vậy) cố một tí thì cũng xong nhưng để cho cụ Đẹn làm là thày muốn đãi cụ bữa cơm, cụ quanh năm đói nên cả đời chẳng biết no là gì. Chúng tôi nhìn nhau, từ bấy không hề ý kiến ý cò nữa, thày vừa ngỏ ý là tôi co cẳng phóng vào kêu cụ ngay.

Nơi ở của gia đình cụ Đẹn gọi là nhà cũng được, không phải nhà cũng chả sai. Ba gian tường đất nện thấp tè, mái rạ, sân đất, ngõ đầy cỏ dại. Mấy bụi tre lơ phơ khô cằn sau cái chuồng lợn ọp ẹp dột nát trống hoác. Trong nhà hầu như chẳng gì đáng kể ngoài 2 chiếc giường tre khập khễnh, giữa nhà đặt cái thùng gỗ tạp cũ kỹ chả ra vuông chả ra chữ nhật bị mọt ăn loang lổ, vừa dùng đựng thóc vừa làm bàn thờ ông bà. Góc nhà quần áo rách rưới bạc phếch vắt lộn xộn trên cây sào tre, sộc mùi ẩm mốc. Hai chiếc ổ rơm có lẽ là chỗ nằm chỗ ngủ của mấy người con trai. Mỗi lần vào nhà cụ tôi cứ thấy chờn chợn thế nào ấy, một phần bởi sự hoang vắng hôi hám lạnh lẽo từ một không gian nghèo khó, phần khác vì phải vòng qua cái vũng nong tát nước ngay đầu ngõ nhà cụ, sát ao ông Vình, nơi nổi tiếng lắm ma. Hồi ấy người ta làm thơ viết nhạc ca ngợi “dân có ruộng dập dìu hợp tác, lúa mượt đồng ấm áp làng quê, chiêm mùa cờ đỏ ven đê, sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”, xảy ra ở đâu tôi chẳng biết, chỉ thấy vùng quê mình sao mà vắng lặng, u tối, nhiều chỗ ma quỷ trú ngụ đến thế. Nào bờ tre nhà cụ Xe có cây tre đực cứ ai đi ngang thì nó ngả rạp xuống chắn lại, trèo qua thì nó vổng lên; bờ duối già gần nhà bá Thược xóm trong đêm nào cũng vọng ra tiếng cười rúc rích; rồi ma trâu gần ngõ bà Thậm, bóng người con gái quần áo trắng tinh tóc xõa chỗ cây sung nhà ông Mông, còn lối ra xóm Trợ cứ nửa đêm vào dịp ngày rằm mùng một lại có đoàn lính tráng mờ ảo kéo nhau đi… Vậy nên chỉ sau lúc gà lên chuồng một chặp là các xóm yên ắng lạ lùng, chìm trong bóng tối, đây đó vài ánh đèn dầu le lói nơi lũ trẻ học bài. Dường như tất cả im lìm sau một ngày mệt mỏi, đến nỗi nghe rõ mồn một tiếng cò xao xác bay đi kiếm ăn vọng vào đêm thoáng xa thoáng gần, dài từ bờ đầm Trợ đến tận đầu núi Chè. Có lẽ xóm thôn chỉ vui hơn vào những tối chia thóc, ông Tư đội trưởng sản xuất cho đốt cái đèn măng-xông sáng choang treo ngay giữa sân hợp tác, cả xóm tụ về chia thóc chia rơm, công điểm tính thừa tính thiếu cứ ồn cả một chặp. Còn bọn trẻ con thì những đêm trăng rủ nhau ra đình, lúc ấy được trưng dụng làm trường cấp 2, đánh trận giả hoặc chơi trốn tìm, nhiều hôm ham chơi lúc bố mẹ gọi về thì trăng đã xế ngọn tre, quên cả ma quỷ.

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

Cảm tác ngày chủ nhật

Đấu nhau chủ nhật hằng tuần

Nồi da xáo thịt, tương tàn anh em

Thằng Tàu “hổ đấu quan sơn”

Chàng ơi có biết thẹn chăng, hỡi chàng.

17.7.2011

Gửi bác A

TS Nguyễn Quang A (áo sọc hàng đầu)

TS Nguyễn Quang A (thứ 2 từ phải qua)

Anh Nguyễn Quang A

Bác Nguyễn Quang A

Ông Nguyễn Quang A

Đồng chí, à không xin lỗi, công dân Nguyễn Quang A

Cái tên như con người

Chữ cái đứng đầu trong mọi chữ cái

Công dân đứng hàng đầu cùng đất nước, nhân dân

Quyết đem lòng yêu nước rửa mối nhục nỗi hèn

Phản đối bọn quàng xiên

Lũ cách mạng chót môi đầu lưỡi

Hai bàn tay múa máy búa liềm.


Anh không cúi đầu để sống

A nhọn hoắt mũi tên

Mỗi chủ nhật cùng các cháu các em giương lá cờ đỏ thắm

Rầm rập bước chân trên đường phố quảng trường

Hô vang nổ vang tiếng đại bác căm hờn

Nã vào dinh bọn Tàu đểu giả

Bọn cướp thuyền đánh cá

Bọn cẩu xực Hoàng Sa

Bọn gặm nhấm Trường Sa

Bọn đang thò móng vuốt về Hà Nội

Cùng bọn đê hèn đang hà hiếp nhân dân.


Anh đứng hàng đầu

Nhưng anh không đơn độc

Bạn bè anh

Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hồng Kiên

Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Minh Tuấn, Đỗ Trung Quân

Phạm Duy Hiển, Trần Nhương, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Viết Đào

Cả phơ phơ tóc trắng Nguyễn Đình Đầu

Cùng lớp cháu con Phan Nguyên, Nguyễn văn Phương, Mr.Do…

Cho chúng biết thế nào là lễ độ

là sức mạnh hờn căm

Suốt bao năm nén chặt trong lòng.


Thăng Long cuồn cuộn chuyển mình

Con thuyền nhân dân giữa dòng thác dữ

Có những người như thế

Lịch sử mai này ghi cho họ nét son tươi.


Xin cám ơn anh và bạn bè

cho chúng tôi hiểu rõ hơn giá trị của con người.

-------

Chủ nhật - 17.7.2011
(Ghi chú: Hai tấm ảnh trên của CTV trang Nguyễn Xuân Diện blog, mạn phép sử dụng, xin cám ơn).

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Ối giời đề thi văn

Lại qua một mùa thi khổ nhục, hành hạ nhau.
Nhưng nếu nó ra trò, đàng hoàng, đề ra đề, thi ra thi thì cũng thể tất phần nào. Đằng này:
Đề thi văn năm nào cũng sai, không thấy báo nào phản ánh. Lẽ ra phải yêu cầu viết bao nhiêu chữ (chẳng hạn 600 chữ) thì các ông bà soạn đề và duyệt đề trời đánh cứ đòi phải viết bao nhiêu từ (năm nay đòi 600 từ). Chữ và từ hoàn toàn khác nhau, trên văn bản người ta phải dùng chữ, nhất là muốn đếm số lượng để khống chế độ dài ngắn. Một chữ là 1 đơn vị, còn 1 từ có khi có đến mấy chữ (mấy đơn vị), đếm thế đếch nào được.
Chả trách vì sao dư luận phàn nàn khối C ngày càng teo tóp.
Nhớ hồi bé đọc chuyện tiếu lâm có câu thơ kết về ông thầy đồ dốt:
Ngưu là con bò tót
Đinh là giằng cối xay
Thày dạy hay chữ quá
Xin thày về đi cày.
Mấy ông lãnh đạo bộ Giáo dục về đi cày cho rồi.
12.7.2011

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Ai sỉ nhục kẻ sĩ?

Ban đầu định đặt tít “Kẻ sỉ nhục kẻ sĩ” nhưng rồi sợ lỡ có ai đọc, hiểu nhầm cái tiêu đề ấy mà lý sự rằng nhà cháu chơi chữ hoặc viết ngọng thì sinh lắm chuyện. Cũng khó cãi bởi người miền Nam do phát âm hỏi ngã lẫn lộn nên thường viết tuốt cả hỏi lẫn ngã thành dấu hỏi, ví dụ sĩ thành sỉ. Theo cách đó, “Kẻ sĩ (làm) nhục kẻ sĩ” có lẽ cũng chả sai về nội dung, cơ mà huỵch toẹt ngay như thế thì e khí sớm.

Nói nôm na, trong xã hội xưa nay, những người có học vấn cao thường được gọi chung là kẻ sĩ. Để cẩn thận, nhà cháu tra trong từ điển do GS Hoàng Phê và cộng sự biên soạn, thấy rõ ràng ngắn gọn “kẻ sĩ: trí thức trong xã hội phong kiến” (Từ điển tiếng Việt- Viện Ngôn ngữ học- 2003).

Nhớ hồi còn bé, ngay mấy thầy giáo làng dạy lớp vỡ lòng đã là hình ảnh của tầng lớp có học, nói chi những vị chữ đầy bồ, thiên kinh vạn quyển, mở mồm là nhả ngọc phun châu. Kính phục, ngưỡng mộ lắm. Với các vị cao nhân đó, được nhìn thấy họ từ xa đã sướng rơn rồi, nào dám mong trò chuyện mấy lị bắt chân bắt tay. Lớn thêm tí nữa cái nhìn đã khang khác, hiểu rằng kẻ sĩ và những người có học vấn cao chưa hẳn đã là một, kẻ sĩ lại càng không đồng nhất với kẻ có quyền (dù quyền cực cao) có tiền (dù tiền cực nhiều). Quyền to ngất trời, giàu muôn bạc vạn nhưng nào mấy ai được coi là kẻ sĩ. Tất nhiên trong giới trí thức cũng có người giàu, chức cao nhưng hiếm, mà đại đa số nghèo nghèo, địa vị thường thường bậc trung. Điều đáng nói, truyền từ thời này qua thời khác, một thứ tiêu chuẩn định luận, bất cứ ai đã được công nhận kẻ sĩ đều không thể thiếu: khí tiết. Khi nghe lỏm chuyện của các cụ bên bàn trà thuốc, nghe các cụ trao đổi với nhau thì mình lờ mờ một cách không chắc chắn lắm (bởi chưa đủ khôn) rằng các ông Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Đức Thảo và một số vị Nhân văn giai phẩm có tư cách kẻ sĩ, họ bị đầy ải, đời trầm luân khốn nạn bởi họ thà hy sinh cái thể xác tầm thường chứ quyết không từ bỏ phẩm chất cao quý ấy. Sau này thì hiểu các cụ nhà mình đã nhận xét đúng.

Người xưa có câu “Sĩ khả lục bất khả nhục” (士可戮不可辱),tạm dịch đối với người là kẻ sĩ thì chỉ có thể giết được chứ không thể làm nhục được họ. Loại người nào đó có thể nịnh nọt chứ kẻ sĩ nhất quyết không bao giờ nịnh. Đành rằng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”, dân tình đùa cợt cho vui thế thôi chứ ai chả hiểu một xã hội thì thiếu kẻ sĩ sao được. Họ là tinh hoa, là đẳng cấp hơn mình bởi họ có cái mà mình không có hoặc có nhưng chả đáng kể. Họ khác mình ở cái đầu, “một người hay lo bằng kho người hay làm”, họ xứng đáng được tôn trọng.

Dân tôn trọng kẻ sĩ đã đi một đằng, nhưng vua chúa, lãnh tụ xưa nay đối với kẻ sĩ, trí thức lại khác một nhẽ. Lúc “việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần/nơi duy ác hiếm người bàn bạc” (Nguyễn Trãi) thì các đấng ấy bày đủ mọi trò “chiêu hiền đãi sĩ”, xong đại sự bèn phủi tay ráo hoảnh “trí thức chỉ là cục phân”. Cũng chả trách được bởi dưới mắt dân, kẻ sĩ là người giương cao ngọn cờ, lắm mưu nhiều kế, thậm chí tiên phong, còn trong ý nghĩ vua quan, kẻ sĩ là bọn chuyên xúi giục, đầu têu, gây mầm phản loạn. Gì thì gì cũng có hại cho chính quyền, nhất là nếu cái chính quyền ấy chuyên chế, độc tài, phát xít, mất dân chủ. Vậy thì khó tránh Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò; triều Lê tru di Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn; Brejniev khủng bố Sakharov; Mao Trạch Đông đày đến khốn cùng đám trí thức cục phân…, kể cả cái khẩu hiệu, chủ trương hết sức lưu manh “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” kéo xềnh xệch trí thức lên hàng đầu đội ngũ cần bắn bỏ. Những bi kịch ấy, khỏi cần nói ra ai cũng rõ kẻ sỉ nhục kẻ sĩ chính là lũ cầm quyền, bọn vô lại. Trong chừng mực nào đó, khi kẻ sĩ – người hiền tài “nguyên khí quốc gia” là tinh hoa dân tộc bị vùi dập, khinh bỉ thì cũng có nghĩa gần như cả dân tộc bị đày đọa, khinh bỉ dưới gót bạo quyền.

Cũng có trường hợp “củi đậu nấu hạt đậu”, anh em sĩ một nhà hại nhau, như Đặng Trần Thường đánh đòn sỉ nhục Ngô Thì Nhậm ngay tại Văn miếu đó. Cùng kẻ sĩ Bắc hà nhưng anh đi đường anh tôi đường tôi, lại thêm mối tư thù, thôi thì dẫn đến kết cục bi hài giữa người đắc thế và thất thế. À, mà chuyện về hai vị này cũng có khá nhiều lăn tăn, chưa thỏa đáng lắm, mình sẽ có bài riêng.

Thế thì ai, vào những ngày hàng triệu, triệu người dân sôi sục vì vận mệnh đất nước và căm phẫn bọn xâm lược Trung Quốc, ném bầu máu nóng ra đường phố quảng trường để góp nên sức mạnh, ai đã dửng dưng, ngậm miệng, mũ ni che tai, lẩn trốn tháp ngà? Nhìn vào hàng quân biểu tình đông đảo thời gian qua, chỉ thấy phần đông những người dân bình thường, thanh niên học sinh, thợ thuyền, cả người buôn thúng bán bưng, những khuôn mặt lam lũ hằng ngày, thường khép nép lặng câm, khiêm nhượng đủ mọi điều. Họ ít học, cạn nghĩ nhưng lòng yêu đất nước tràn trề. Họ không như mấy ông bà lắm chữ, làm bất cứ điều gì cũng phải nhìn trước ngó sau trăm lần, dù là điều tốt đẹp, cao cả. Kẻ sĩ thời nay phần đông đã tự tước đi cái giá trị, thiên chức cao quý, tự trói mình vào danh lợi, địa vị, tự ru ngủ mình. Bao nhiêu hội này đoàn nọ, bao nhiêu ông nọ bà kia, sao mọi ngày cao đàm khoát luận, lên giọng chỉ thị dạy dỗ đám đông cần lao, lúc cần đi cùng nhân dân lại vắng hoe thê thảm thế. Chả dẫn chứng đâu xa, cả nước hiện có hàng vạn GS, PGS, học giả, nhà nghiên cứu, nhà báo nhà văn tiếng tăm từng nổi như cồn, còn tiến sĩ thì đông ngất trời mây, vậy mà trong những cuộc tuần hành yêu nước chỉ quanh đi quẩn lại vài gương mặt Nguyễn Đình Đầu, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang A, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Duy Hiển, Nguyễn Xuân Diện, Đỗ Minh Tuấn, Đỗ Trung Quân… Còn lại số đông, rất rất đông, họ đã đi đâu, làm gì, trốn đâu mất cả?

Xin đừng lý sự, bao biện, giải thích kiểu “ai có phận nấy, mỗi người có cách bày tỏ lòng yêu nước riêng, có hoàn cảnh riêng…”. Riêng mà nhằm vụ lợi cá nhân, đáng khinh. Dân không cần họ, đất nước không thể dựa vào họ.

Thật buồn khi phải nói ra sự thật: chính kẻ sĩ làm nhục kẻ sĩ chứ chẳng ai khác!

Chủ nhật 10.7.2011, Sài Gòn

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Nói với người sợ đường phố

Ngồi trong nhà mà sao anh đòi thấy mặt trời
Nắng dù chẳng của riêng ai nhưng không thể ban cho người sợ gió
Anh đừng tự dối lòng dù vắng ta dòng người vẫn đủ
Ngày mai dưới vầng thái dương anh sẽ hổ thẹn với chính mình.
(Nguyễn Thông)

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Đọc lại Hịch tướng sĩ

Trưa nay 3.7, soạn lại đống sách cũ tình cờ gặp cuốn cổ văn. Mình cẩn trọng thổi sạch bụi, nắn nót trên tay, lẩm bẩm theo kiểu bói Kiều, đại loại lạy thần thánh tổ tông, các vị anh hùng dân tộc…cho con một quẻ về vận dân vận nước. Giở trúng ngay trang có bài Hịch tướng sĩ. Ôi Đức thánh Trần, ngài quả là thiêng.

Hơn 700 năm trôi qua, lời của đức ngài như còn văng vẳng. Nghe rằng Đại vương kỳ khu soạn xong Binh thư yếu lược rồi, nhưng có lẽ cảm thấy chả yên tâm mấy về đám bày tôi, những kẻ sẽ sử dụng, tiếp thu “binh pháp các nhà” nên ngài dồn hết mọi lời gan ruột vào áng văn hịch mà đâu nghĩ về sau này nó còn nổi tiếng hơn cả cuốn binh thư. Với cương vị Quốc công tiết chế, Hưng đạo đại vương, vị Bộ trưởng quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Trần Quốc Tuấn đã gửi tới toàn thể cán bộ tướng lĩnh, sĩ quan quân đội, công an, an ninh, dân quân tự vệ, dân phòng, cảnh sát biển, thanh niên xung phong… nhà Trần tâm sự đau đớn nhưng đầy quyết tâm của ngài. Kẻ hậu sinh như mình dù chỉ là loại dân thường (không thuộc đối tượng “các ngươi” mà đức ngài kêu gọi) đọc xong, thấy run người, toát cả mồ hôi, quả quyết rằng Đại vương bộ trưởng đang tỏ tường cả mọi chuyện hôm nay. Xin mạo muội trích ra vài chỉ dạy của người xưa để tự răn mình:

“Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Trông thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. Lại cậy thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, giả hiệu Vân Nam Vương để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng. Thật khác nào như đem thịt nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau.

Nay các ngươi: nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục không biết thẹn; làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc tràn sang thì: Cựa gà trống sao đâm thủng được áo giáp giặc, mẹo cờ bạc sao dùng làm mưu lược nhà binh. Dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con dín, việc quân cơ trăm sự ích chi. Tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe khôn đuổi được quân thù. Chén rượu ngon không làm giặc say chết, tiếng hát hay không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào. Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc của các người cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những tông miếu tổ tiên ta bị giày xéo mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên. Chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục mà các ngươi tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, đời đời manh danh là tướng bại trận.

Lúc bấy giờ các ngươi muốn vui chơi, phỏng có được không?”.

Đọc lần nữa vẫn thấy bần thần, nhất là vào hôm nay chủ nhật 3.7, trên đất Sài Gòn.

Chiều 3.7.2011

Nguyễn Thông