Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

Chuyện hát chèo (kỳ 2)

Như đã nói ở bài đầu, chèo ngấm vào người dân xứ bắc, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ như một lẽ tự nhiên. Có không ít người, cả già lẫn trẻ, mở miệng ra là có thể hát được cả bài chèo cổ dài dằng dặc, ngân nga í a ì a, a í a, í ì i, biết đủ làn điệu với những tên gọi khó nhớ như hồi văn, cách cú, sắp qua cầu, xẩm xoan, lới lơ… Cũng giống như món cải lương quen với người Nam Bộ vậy. Hồi tôi mới vào Nam, năm 1977, thỉnh thoảng trong đám đông đồng nghiệp hoặc bạn bè mới, thấy ai đó đứng lên góp vui văn nghệ ngâm mấy câu vọng cổ hoặc hát một trích đoạn cải lương khá dài, lúc đầu nghe phục lắm, sau chợt hiểu rằng “đất lề quê thói”, mỗi vùng một sản vật, một nét đặc trưng.

Miền Bắc nhiều chiếu chèo, mỗi “chiếu” mang dáng vẻ riêng, tuy nhiên hồn cốt chèo thì hầu như đâu cũng thế. Phải công nhận, giữa bao nhiêu chiếu chèo, vùng chèo, tỉnh chèo, huyện chèo, thậm chí cả xã chèo có tên có tuổi, thì nổi tiếng, lừng danh nhất là đất chèo Thái Bình. Ông anh tôi bảo rằng Thái Bình, vùng đất thuộc trấn Sơn Nam Hạ khi xưa, là tỉnh duy nhất ở miền Bắc không có núi đồi, nhưng bù lại chèo của quê lúa này thì không đâu bằng. Nghe rằng đây chính là cội nguồn của chèo, nơi sản sinh ra chèo. Đoàn chèo tỉnh Thái Bình đi tới đâu làm rộn ràng sống động chỗ ấy. Được coi các diễn viên chèo Thái Bình diễn những vở kinh điển Lưu Bình Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính, Nghêu Sò Ốc Hến… một lần thôi cũng đủ hả dạ, biết thế nào là chèo đặc sản, đẳng cấp, chèo chất lượng cao. Ấy, nói chuyện ngày xưa thì vậy, chứ bây giờ không biết thế nào, chả dám bàn.

Lại nhớ, hồi máy bay Mỹ mới ra đánh phá miền Bắc những năm 1964 - 1965, tôi chưa được mười tuổi, đang học lớp 4 trường làng. Một hôm đám trẻ cùng xóm rủ nhau kéo bộ sang tận xã Đại Hà cách gần 2 cây số để coi chèo. Có đoàn chèo nghiệp dư tư nhân, nhớ láng máng tên Bình Minh hoặc Ánh Dương chi đó (lâu quá quên) diễn vở Quan Âm Thị Kính. Vé vào cửa 1 hào. Diễn viên không chuyên, kiểu văn nghệ quần chúng, nhưng với đám khán giả nông thôn thèm khát coi nghệ thuật thì vẫn cứ hay. Nghệ sĩ hát trên sân khấu, khán giả bên dưới cũng í a ì a theo. Sau này học lên lớp 8, trong sách Trích giảng văn học có hẳn đoạn trích cảnh “Nỗi oan giết chồng”, cô Thị Kính bị bắt quả tang. Tôi vẫn còn nhớ đoạn trò chuyện của đôi vợ chồng, anh chồng (Thiện Sĩ) thì “Nàng ơi, đã bao lần soi kinh bóng quế/Ta dùi mài đợi hội long vân/Đêm nay mỏi mệt tâm thần/Mượn kỷ này ta nghỉ lưng một lát”, xong thiu thiu ngủ. Cô vợ (Thị Kính) thương chồng, lại gần ngắm chàng, thấy sợi râu mọc ngược cho là điềm xui định lấy dao may vá cắt đi, dao vừa kề cổ, ai ngờ chồng choàng tỉnh kêu la. Bà mẹ chồng xông ra đay nghiến “cái con mặt sứa gan lim kia, gái bất nghì bà phó giả mẹ cha/ngựa bất kham thôi phó về Bồng Báo”, v.v.. Coi mà tức chết đi được. Bà chị tôi xem xong thủng thẳng kết luận thế mới là oan Thị Kính. Vãn cuộc chèo, nghe đoàn thông báo đêm tiếp theo sẽ diễn vở Ngao Sò Ốc Hến.

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 2)

Những năm chiến tranh và thời bao cấp ở miền Bắc, nếu không kể tới chuyện chết chóc đạn bom vốn rình rập thường ngày, thì trong những cái khổ, khổ nhất là đói ăn và rách rưới, khổ nhì là việc đi lại. Những sự khổ sở bất hạnh khác, chỉ đáng xếp sau hai “đặc sản” ấy.

Đói và rách, đương nhiên không thể tránh khỏi. Nền kinh tế tập trung, quốc doanh tuyệt đối, nhất nhất theo sự chỉ đạo điều hành của nhà nước đã đẩy con người vào chân tường cùng quẫn. Loại trừ một bộ phận cán bộ được nhà nước chăm lo ưu đãi, thì hầu như cả phần sinh mệnh còn lại của xã hội, của cuộc sống đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, kể cả cán bộ và dân chúng, rơi vào thảm cảnh đói rách. Khổ nhất là nông dân và dân tự do ở thành thị. Tôi từng chứng kiến, từng nghe người ta khi trò chuyện vãn với nhau, họ chả ao ước gì, chỉ ước được ăn no, được bát cơm không có độn. Chỉ cần no thôi, không cần ngon, bởi bị đói quanh năm chứ đâu phải chỉ đận giáp hạt, tháng ba ngày tám, nên cốt no đã, ngon mà làm gì cho phí lời ao ước, khó thành hiện thực.

Và quần áo, cũng chỉ ước ao lành lặn, đừng rách rưới là được, chưa cần đẹp. Ai đời tới lúc máy bay Mỹ đánh ra miền Bắc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được cả chục năm, rồi 15 năm, rồi 20 năm mà vẫn cứ vá chằng vá đụp. Ông anh rể tôi có chiếc áo sơ mi vải pô pơ lin trắng Liên Xô, mặc sà sã hơn chục năm, lộn cổ đi lộn cổ lại, đứt cúc mấy lần, áo dài tay phải cắt thành ngắn tay bởi không thể vá mãi chỗ khuỷu bị dầy quá, màu trắng chuyển thành màu cháo lòng vàng khè, thế mà vẫn không dám bỏ. Tôi bảo, bác cứ giặt sạch, cất vào đáy rương, giữ như thứ kỷ niệm về một thời hãi hùng, đừng bỏ nhé, sau này lấy ra cho con cháu nó ngắm nếu đời nó khá hơn đời anh em mình. Chả biết bây giờ chiếc áo đầy dấu ấn “lịch sử thời đại” ấy có còn không.

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2019

Hạ giải, trùng tu, phá dỡ, hay… (kỳ 2)

Trong mấy ngày bận bịu việc nhà, tôi chưa kịp gõ nốt kỳ 2 thì hôm 9.5 đọc tin “Giáo xứ Bùi Chu thông báo ngưng hạ giải nhà thờ Chính tòa” (theo dự định là ngày 13.5) để bàn bạc kỹ hơn. Dù gì đi chăng nữa thì cụ đại lão nhà thờ 134 tuổi này tạm thời thoát nạn, bởi một khi những máy móc và đội thi công mà giáo xứ thuê về cứ đúng hạn ngày 13 đen nói trên làm ầm một phát, chắc chả còn gì phải bàn tới bàn lui.

Nhưng, vấn đề là ở chữ “nhưng” này, nếu chỉ là “tạm ngưng hạ giải” thì vẫn còn khả năng sẽ tiếp tục tháo dỡ công trình trăm tuổi, khiến nó vẫn có nguy cơ phải “kết thúc nhiệm kỳ” cho một ý định nào đó. Vậy nên cần bàn cho ra nhẽ, nếu nó có hy sinh thì cũng là hy sinh xứng đáng, còn thấy không hợp thì nên chấm dứt “hạ giải” ngay.

Trên khắp đất nước này, trải qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm, các tôn giáo đã bắt rễ vào đời sống, nhất là đời sống tâm linh, tinh thần, đạo đức của con người. Đã có tôn giáo thì đương nhiên phải có cơ sở thừa tự, am miếu, đền thờ, chùa chiền, nhà thờ, nơi tu hành, giảng đạo. Hai dòng đạo lớn nhất là Phật giáo và Thiên chúa giáo đã tạo nên vô số chùa và nhà thờ, chúng trở thành phần không thể thiếu trong đời sống xã hội. Nhiều chùa, nhà thờ không chỉ nổi danh trong dòng đạo mà còn được biết tới như thứ di sản lịch sử, văn hóa, tôn giáo, kiến trúc của toàn xã hội. Qua những biến thiên, tao loạn, những ngu dốt của con người, nhiều chùa, nhà thờ đã bị phá hủy, không chỉ tạo nên vết sẹo khó hàn gắn về tinh thần mà còn làm biến mất những giá trị vật chất vô giá. Chùa và nhà thờ, nói gì thì nói, vừa là của riêng tôn giáo, vừa là của chung cộng đồng (đất nước, dân tộc, nhân dân, vùng miền). Gìn giữ, bảo vệ, tu sửa các cơ sở tôn giáo này không thể chỉ của riêng bên đạo.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

Chế tạo tại Liên Xô

Tôi tự học tiếng Anh mới có... 5 lần, lần nào cũng khởi đầu, từ cuốn Streamline English 1 - Departure, cứ chăm chỉ được hai phần ba là... tự tốt nghiệp, để lần sau lại departure. Nhưng dù vốn liếng nông cạn tôi vẫn một mực tin vào đảng và chính phủ, cho rằng ông bộ trưởng 4T Nguyễn Mạnh Hùng dùng cụm từ "Make in Vietnam" là chẳng sai. Ông này nghe nói còn thạo tiếng Anh hơn cả ông Nguyễn Thiện Nhân nên dễ gì sai. Cách dùng chữ make ấy lấn cấn ở chỗ lâu nay xứ An Nam quen nghe ma re in Việt Nam (Made in VN) lâu rồi nên cứ thấy gờn gợn.

Hôm qua nghe bác thủ tướng Phúc nói mếch (make) xong, tôi sực nhớ một cụm từ viết tắt quen thuộc suốt mười mấy năm ở miền Bắc, là CCCP. Trên những thùng hàng viện trợ của Liên Xô luôn có dòng chữ bằng tiếng Nga, "Сделано B СССР", dịch ra nghĩa Việt là Chế tạo tại Liên Xô. CCCP tức Liên Xô, viết tắt tiếng Nga của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết. Các kho bãi ở cảng Hải Phòng, ven đường sắt các ga ở Đồng Đăng, Yên Viên, Gia Lâm hoặc dọc đường 5... luôn chất đầy hàng Liên Xô. Dân chúng nhỏ to với nhau rằng đó là nhờ những chuyến bị gậy sang Mạc Tư Khoa của ông Lê Thanh Nghị. Ông này ủy viên bộ chính trị, phó thủ tướng nhưng chỉ có mỗi việc ra nước ngoài xin hàng viện trợ. Ông người Hải Phòng, là cậu ruột của người bạn học cùng lớp với tôi, chị Nguyễn Ngọc Trâm. Tốt nghiệp phổ thông năm 1972, chị Trâm được đi học ở Liên Xô, về làm ở Bộ Giáo dục, sau mất sớm do bệnh nan y.

Ngoài vũ khí, quân nhu, lương khô, còn là cơ man hàng sinh hoạt như vải vóc, nồi nhôm, sách giấy, thức ăn, xe đạp, đồng hồ, đường sữa, bột mì, giấy dầu lợp nhà..., tức là một dạng "bơ thừa sữa cặn" nhưng không phải từ đế quốc thực dân mà của anh em phe XHCN. Tuy là hàng viện trợ nhưng không phải ai cũng được hưởng, bởi đã có quy định bất thành văn của trung ương, cứ theo nguyên tắc phân phối "xẻng cuốc từ dưới lên, đường sữa từ trên xuống" mà thi hành. Chừng ấy năm chiến tranh, nhà tôi chưa bao giờ được mua một thứ hàng gì chế tạo tại CCCP theo giá phân phối, mà muốn có, cái nồi nhôm, cái chậu men chẳng hạn, chỉ có cách ra chợ giời, ra chợ Sắt, mua với giá cao gấp nhiều lần. Dường như hàng Liên Xô đối với phần đông dân chúng phổ biến nhất chỉ là những chiếc thùng gỗ thông và những cái đai thùng bằng thép mỏng mà người ta ưu đãi bán cho dân để đem về đóng bàn ghế và làm rút dép.

Mấy ông anh tôi thường cắt nghĩa chữ CCCP thành "các chú cứ phá" hoặc "càng cho càng phá". Phải nói thẳng rằng thời ấy có "một bộ phận không nhỏ" cán bộ, đảng viên đã sống khá đầy đủ bằng hàng chế tạo tại CCCP. Sau này, khi Liên Xô cắt dần viện trợ, mức sống thiếu thốn nghèo khổ cào bằng trở lại ít nhiều, dân mới có dịp "sướng" bằng cán bộ.

Nguyễn Thông

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

Chơi tem

Tivi, báo chí vừa cho biết nhân đại lễ Phật đản Vesak năm nay tổ chức ở xứ ta, Bưu điện VN cho phát hành bộ tem về đại lễ, tất nhiên trong tem có hình đức Phật, hình chùa, hình nhà sư.

Mà không chỉ lần này, những khi xứ An Nam có sự kiện gì nhớn, bưu điện lại phát hành tem, chẳng hạn tổng thống Mỹ qua thăm, hội nghị quốc tế ở Đà Nẵng, anh cu Ủn đi tàu tới Đồng Đăng làm cú đúp vừa gặp đối tác vừa thăm bạn hiền... Bộ tem nào cũng rất hoành tráng, đẹp như tranh.

Mình vốn nông dân, sinh ra ở nông thôn, chỉ biết cày bừa, đập nương, nhổ mạ, gặt lúa, tát nước, chứ không biết chơi tem. Hồi bé, nghe bảo rằng phải là tay chơi lắm, có nghề lắm mới chơi tem được. Lại nghe có con tem bán tới mấy trăm đồng, đắt hơn cả chiếc xe đạp Vĩnh Cửu, khiếp quá, trợn tròn mắt, giãy đành đạch bảo không tin, không tin, làm đếch gì có cái tem 6 xu mà mua được xe đạp. Đại loại không biết cứ hay nói liều.

Hồi dân thành phố sơ tán về làng Trà mình, mấy anh em anh Tuấn cháu cụ Xe đã đem về làng cả một cuộc sống văn hóa cao, đẳng cấp. Anh Tuấn, các em anh là Sơn, Hải... người nào cũng chơi tem, nuôi cá cảnh (cá vàng, cá vạn long, cá kiếm...). Anh Tuấn có những cuốn album tem dày cộm, đủ loại tem cổ kim, nội ngoại. Phải cầu cạnh, năn nỉ lắm mới được xem. Mình chỉ nhớ, có lần anh ấy bảo không phải tem nào cũng chơi được, mà tem phải có dấu bưu điện, tem được sử dụng rồi thì mới có giá trị. Đắt nhất là những con tem bị lỗi, hoặc tem đã gần "tuyệt chủng", càng hiếm càng đắt. Nghe anh nói vậy, mình lén về nhà đốt hết bộ tem mà mình đã "sưu tầm". Chả là nhà mình gần ủy ban, cứ mỗi khi có thư từ nhà dây thép huyện chuyển về, mình lại năn nỉ với anh Hạ "gù" phụ trách văn hóa cho mình lột tem, thượng vàng hạ cám lấy tuốt, hóa ra chả có giá trị gì. Tinh những tem Lê Nin, Các Mác, cờ búa liềm, cách mạng tháng 10, bác cùng chúng cháu hành quân, tết trồng cây, làm phân xanh, chiến thắng Mậu Thân... Anh Tuấn bảo tem như thế đầy rẫy, ai mà thèm chơi, vứt là phải.

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2019

Nguyên

Hồi mình còn bé, theo người nhớn ra trận địa tên lửa Mả Đò coi đoàn văn công Tổng cục chính trị về biểu diễn phục vụ bộ đội. Có tiết mục tấu (để rồi mình sẽ viết cụ thể tấu là gì), một người đóng vai chiến sĩ mới nhập ngũ ra đọc-hát:

Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?

(Trong hậu trường có tiếng đế: Không xưng danh thì ai biết là ai)

Họ tên tôi cũng chẳng ngắn chẳng dài

Nói tóm lại, gọi là Huy cũng được...

Đại loại là cứ kể lể, xung quanh chuyện đi lính, ở nhà dân, làm vỡ chiếc nồi đất của chủ nhà, sắp vào B rồi mà chưa biết sẽ đền bù ra sao thì cô Lý con gái chủ nhà bảo (hát) anh ơi, anh cứ "yên tâm vững bước mà đi, hỡi người mà em yêu, việc nhà việc nước dẫu có bao nhiêu em gắng làm tròn, anh cứ yên tâm vững bước anh lên đường", đừng lăn tăn cái nồi đất nữa, em sẽ chờ anh, anh nhé...

Ông anh họ tôi, cũng tên Huy, dạy học, đi coi về bảo tấu vớ tấu vẩn, tên thì ai cũng phải có tên thật của mình, do cha mẹ đặt cho, chứ đéo gì mà "nói tóm lại gọi là Huy cũng được", cô Lý kia yêu phải đứa lừa rồi.

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019

Hạ giải, trùng tu, phá dỡ, hay…

Thiên hạ đang lao xao chuyện nhà thờ Bùi Chu 134 tuổi sắp “hy sinh”. Chừng ấy năm kể ra cũng bằng hai kiếp người. Đức cha quản nhà thờ này giải thích rằng không phải phá, mà chỉ là trung tu, làm mới, bởi nó cũ quá rồi, nhiều chỗ đã mủn, hư hỏng, dột nát. Còn báo chí, tờ thì bảo sắp bị phá, tờ thì nói bằng chữ hạ giải. Dư luận mạng miếc cũng chia làm nhiều phe. Có người thì than thở tiếc thương, kiểu ối nhà thờ Bùi Chu ơi, thế là sắp vĩnh biệt mi rồi, có người ra vẻ ta đây hiểu biết chân tơ kẽ tóc bên công giáo thì mắng rằng phá đâu mà phá, chỉ vớ vẩn, người ta trùng tu chứ phá phiếc gì. Mệt.

Tôi người ngoại đạo Gia Tô. Mà cũng chẳng theo Phật giáo, chỉ cúng tổ tiên, các cụ, ông bà, thày bu. Cũng biết sợ quỷ thần và người hiền. Còn nếu có ai cố vặn vẹo tôi hỏi chả nhẽ không theo đạo gì thì tôi đành thưa thật, chỉ theo đạo ăn. Dĩ thực vi tiên (lấy ăn làm đầu) hoặc Dĩ thực vi thiên (lấy ăn làm trời, ăn to bằng giời).

Nói thế nhưng tôi rất mê, rất có cảm tình với các công trình kiến trúc chùa chiền (Phật giáo), nhà thờ (Thiên Chúa giáo). Đó là những kiến trúc đẹp, uy nghi, sắc sảo, đường nét đầy ấn tượng. Nhất là nhà thờ. Những nhà thờ đủ kiểu to-nhỏ, cũ-mới trên khắp nước, nhà thờ nào cũng đẹp, mỗi cái một vẻ “mười phân vẹn mười”.

Tôi đã từng nhìn tận mắt, tới chiêm ngưỡng, cúi đầu trước nhà thờ Lớn Hà Nội, nhà thờ chính tòa Thái Bình, nhà thờ đá ở Nha Trang, nhà thờ Cù Lao Giêng ở An Giang, các nhà thờ Tân Định, Huyện Sĩ, Đức Bà, Cha Tam, và cả nhà thờ Mông Triệu mới xây mươi năm nay… ở Sài Gòn. Ngôi nào cũng đẹp, quyến rũ, đường nét tuyệt vời. Càng cổ càng tuyệt. Có những ngôi tuổi chả kém bao nhiêu so với chính tòa thánh địa Bùi Chu, nhưng tới nay vẫn chắc chắn, kiêu hãnh vươn cao lên trời xanh biếc, tháp chuông trôi lãng đãng trong mây.