Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

Ghét và thương

Cụ Nguyễn Đình Chiểu từng viết “Ghét đời U Lệ đa đoan/Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần/Ghét đời Ngũ bá phân vân/Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn”.

Tình trạng tham nhũng trong xã hội, xét cho cùng do chính bộ máy cai trị, cầm quyền. Đó là tầng lớp cán bộ hư hỏng, đặt cái tôi ích kỷ lên trên tất cả. Dân và nước không là gì đối với chúng. Đáng buồn ở chỗ loại này hơi bị nhiều, càng ngày càng nhiều, chống không xuể.

Đành rằng nước nào chẳng có tham nhũng, thời nào chẳng có tham nhũng, nhưng tham nhũng thành quốc nạn, thành dịch như ở xứ ta và bên Tàu thì ít nơi có. Để cả bộ máy cầm quyền hư hỏng thối nát như thế, trách nhiệm thuộc về “đảng lãnh đạo toàn diện”. Dân đâu có quyền, mà dân cũng chả có điều kiện tham nhũng. Chỉ những người mơ hồ, nhẹ dạ mới khen công cuộc chống tham nhũng của thể chế. Đúng ra phải lên án, rằng tại sao lại sinh ra những kẻ khốn nạn như vậy. Chúng là con đẻ của thế chế chính trị, đẻ ra quái thai mà lại còn được khen là sao.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2020

Ông bình vôi

Sinh thời, cụ Phan Khôi là người cương trực, thấy gì không nên không phải, trái tai gai mắt, cụ phê thẳng thừng. Chứng kiến đám quan chức, lãnh đạo ăn hại, chỉ ồn ào màu mè nhưng rỗng tuếch, cụ gọi họ là ông bình vôi. Cụ viết “Nhà tôi, hồi bà nội tôi còn sống, có cái bình vôi hạng sang ấy. Mỗi khi mua vôi ở chợ về, bà tôi ngồi tỉ mỉ lấy cái chìa quệt vôi nhét vào miệng nó, gọi là “cho Ông Bình ăn”. Và lâu lâu lại tắp thêm vào cái miệng nó một lần, hóa nên cái miệng càng ngày càng chêu vêu ra… Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cú rũ trên trang hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng “Ông”. (Giai phẩm mùa thu, 1956). Thực ra, cụm từ “ông bình vôi” này bắt nguồn từ nhà thơ Lê Đạt, một trong những yếu nhân của Nhân văn giai phẩm. Thi sĩ bực bội mà rằng “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi/Y như một cái bình vôi/Càng sống càng tồi/Càng sống càng bé lại”.

Mấy ngày qua, chứng kiến quá nhiều ông bình vôi, không thể không theo gương tiền nhân, cụ Phan và ông Lê, mà nói đôi nhời.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng (kỳ 6, cuối)

Súng trường CKC, K44, sau này cả súng tiểu liên AK47 ngoài phần bắn đều có chỗ lắp lưỡi lê. Tùy mỗi loại súng mà có lưỡi lê khác nhau. Lưỡi lê của K44 dài và nhọn như cái dùi có cạnh, cứng bén vô cùng. Tôi có lần đâm thử vào gốc cây dầu ở cổng trường Dự bị đại học trong phiên trực đêm cuối tháng 2.1979 sau khi xảy ra Trung Quốc tấn công biên giới phía bắc. Thầy hiệu trưởng đi họp về bảo phải tăng cường cảnh giác bởi trường ta đóng trên địa bàn phường 9 quận 5, nơi tập trung đông người Hoa nhất. Mỗi thầy giáo trong đội tự vệ được phát một khẩu K44. Thử lưỡi lê, cắm sâu tít vào thân cây, loay hoay mãi mới rút ra được. Như đã kể, khẩu súng ấy, với kẹp đạn rời 12 viên, tôi đem về căn hộ tự bảo quản, đến tối lại vác xuống đi rảo một vòng trong sân ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh, kể ra có nó cũng yên tâm.

Sẽ có lúc lịch sử tỉnh táo và khách quan nhìn nhận, đánh giá lại “sự nghiệp chống Mỹ cứu nước”, giải phóng miền Nam. Điều thấy rõ nhất là suốt thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70, lũ lượt trai tráng cả triệu lượt người từ Bắc kéo vào Nam để “giải phóng 14 triệu đồng bào miền Nam rên xiết dưới ách đè nén áp bức của Mỹ ngụy”, và gần như không có đoàn quân nào từ trong Nam ngược ra giải phóng miền Bắc cứu đồng bào miền Bắc đang bị tiến lên CNXH. Miền Bắc cấp người, còn súng đạn đã có 12 nước anh em phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, lo cho. Không nói ra thì ai cũng rõ, phe “thiên đường” này quyết đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng, cũng là một kiểu “Việt Nam hóa chiến tranh”, chứ đâu phải chỉ có tổng thống Mỹ R.Nixon chủ trương như thế.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng (kỳ 5)

Nói tới súng, nhất là súng trường, những người đã sống thời chiến tranh, dù trôi qua gần nửa thế kỷ, vẫn còn nhiều ám ảnh. Lứa thiếu nhi miền Bắc chúng tôi hồi thập niên 60 biết khẩu súng trường qua cả thực tế lẫn văn chương, sách trích giảng văn học. Ông Tố Hữu làm thơ ca ngợi các dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Hòa, Kpa Klơng, cao chưa bằng khẩu súng, nhưng “tay em một khẩu súng trường/mà như có cả quê hương đánh cùng”, bởi “tuổi mười bốn những ước ao/buổi đầu cầm súng biết bao là mừng…/súng này càng đánh càng hay/một tay em chấp mười tay quân thù”. Ngay cả đứa bé tí, theo mẹ đi chợ xuân, “mẹ mua cho bức tranh màu/yêu súng hơn bé chỉ lắc đầu/a, mẹ ơi cái súng xinh xinh/súng cầm tay bé bước nhanh nhanh”… Cứ như thế, đám chúng tôi chỉ say súng, chả cần biết giời đất. Nếu ai hỏi lớn lên ước mơ gì, phần lớn chỉ giả nhời được cầm súng.

Tôi đã từng quản một khẩu K44 hơn chục năm. Lại nhớ khu ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh cuối thập niên 70, đầu 80. Nó được chia làm 2 khu, phía ngoài, mặt tiền đường lúc đầu thuộc trường Dự bị đại học, vài năm sau bàn giao cho Bộ Đại học và THCN. Phía trong là khu tập thể giáo viên công nhân viên của trường. Chung nhà ăn, chung sân, chung lối đi lại, chung cổng. Hôm tôi mới nhận phòng ở, cuối tháng 4.1977, tức là 2 năm sau ngày “giải phóng” vẫn thấy dưới sân chất đầy những thứ mà bộ đội quân quản phá bỏ, như giường tủ bàn ghế, chưa được dọn. Không được dùng, phải bàn giao thì phá thôi. Tòa nhà vốn là khách sạn, trước tháng 4.1975 cho sĩ quan Đại Hàn thuê, nên gọi là khách sạn Đại Hàn, nằm trên đường Trần Hoàng Quân, với 2 hàng cây dầu (họ cây sao) thẳng tắp cao vút. Ông này là đại tá quân đội VNCH tử trận, được chính quyền đặt tên đường. Chính quyền mới thay bằng tên một võ quan khác, cao hơn hẳn, cho biết thế nào là tầm cỡ cách mạng, đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Đề nghị một cách nghiêm túc, chứ không đùa

Trên quả địa cầu này, chỉ trừ Vatican, còn nước nào cũng có đảng chính trị cầm quyền. Đảng càng tử tế, dân và nước càng được nhờ cậy.

Suốt cả năm nay, ở nước này, ngoài cuộc mưu sinh miếng cơm manh áo bắt buộc, người ta đã dành quá nhiều thời gian, sức lực, vật chất, tinh thần vào việc tổ chức đại hội đảng. Dù nó chỉ là một đoàn thể, một lực lượng chính trị nhưng nó đã làm cả xã hội bận bịu, tốn kém, mất thì giờ.

Tôi nhận thấy, không có thể chế nào thích họp hành như thể chế của những người cộng sản. Những năm 1920, nhà thơ cộng sản nổi tiếng V.Maiacovski của nước cộng sản khởi thủy Liên Xô (nay chỉ còn cái bóng) cũng phải thừa nhận cộng sản là “những người loạn họp”. Không ở trong chăn sao biết chăn có rận.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim (kỳ 3)

Chuyện kể rằng khi làm phim “Vợ chồng A Phủ”, đạo diễn Mai Lộc mời nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết nhạc. Ông Thương lúc này đã khá nổi tiếng trong làng nhạc, nhất là bài “Bình Trị Thiên khói lửa” thời chống Pháp. Trong nhạc tiền chiến (tức trước cuộc chiến 9 năm, 1945 - 1954), dòng nhạc mà cách mạng quy kết là ủy mị, tiểu tư sản trụy lạc, ông có vài bài được yêu thích, như “Đêm đông”. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, bài “Đêm đông” bị cấm tiệt, người ta chỉ dám hát lén với nhau. Có nghe truyền tai, chính ông Thương cũng không dám nhắc lại đứa con tinh thần ấy bởi sợ ảnh hưởng tới đường công danh.

Mà chả phải chỉ riêng nhạc sĩ Thương, tình trạng đó rất phổ biến trong giới văn nghệ. Ông Hoài Thanh trút hết cả tinh hoa để có cuốn “Thi nhân Việt Nam” (một cuốn sách chân dung, phê bình văn học, theo tôi cho tới nay chưa cuốn nào qua mặt được), vậy nhưng hồi 9 năm phải công khai lên tiếng từ bỏ nó. Những ông Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Phạm Văn Khoa, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi… đều na ná vậy. Miệng thì nói “nhận đường”, “cuộc hồi sinh kỳ diệu” (Chế Lan Viên), “cuộc lột xác rớm máu” (Nguyễn Tuân), “hôm nay học hết kỳ chỉnh đảng/thấy bốn phương ánh sáng lùa vào” (Xuân Diệu) nhưng có nhẽ cũng cay đắng lắm.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Hai ông Phương

Giữa trưa nay, bão số 5 đã nhạt dần thành áp thấp nhiệt đới, dù nó chỉ thọc vào miền Trung làm gẫy đổ cơ man cột điện, cây cối, tốc bao nhiêu mái nhà, nhưng cũng lan ra gây mưa gần khắp cả nước. Khi tôi đang lách cách mấy chữ này, Sài Gòn u ám sụt sùi suốt, định có tí việc chạy ra ngoài mà đành chịu. Thấy đứa cháu gọi vào bảo ở ngoải cũng mưa. Hà Nội đang tắm mưa, và chuyển lạnh. Tiết trọng thu sao cứ buồn buồn. Lật giở mấy trang báo điện tử, có cái tin buồn, nhạc sĩ Phó Đức Phương vừa mất. Trưa 19.9 tây lịch, tức mùng 3 tháng 8, mùa thu Canh Tý 2020.

Thế hệ sinh giữa thập niên 50 chúng tôi hầu như ai cũng biết tên tuổi hai ông Phương. Thực ra thì biết nhiều ông Phương lắm. 

Có ông Trần Phương trợ lý cho ông Lê Duẩn, làm tới phó thủ tướng thời bao cấp, đồng tác giả của “đặc sản” giá lương tiền. Những năm ấy có câu đồng dao “Thằng Phương thằng Truyến thằng Quỳnh/Ba đứa đồng tình bóp cổ nhân dân”. Truyến là ông Đoàn Trọng Truyến, Quỳnh là ông Trần Quỳnh. Tinh những đệ tử của ông Lê Duẩn nghìn nến. Ông Trần Phương còn được biết tới khi ông có cuốn sách tự kể chuyện đi tìm mộ người em gái họ Vũ bị quân Pháp giết hồi kháng chiến 9 năm (thực ra ông Phương họ Vũ chứ không phải họ Trần). Thế giới tâm linh, thần giao cách cảm, ly kỳ và éo le phết.