Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Chuyện bóng đèn phích nước

Tôi hơi bị xui. Chả là từ khá lâu rồi, cố lục lọi bộ nhớ già nua cũ kỹ, giống như thứ bộ nhớ của cái máy tính cổ lỗ sĩ 286 khi mới có ở xứ này, để biên “chuyện xưa tích cũ” về một thứ đồ dùng quen thuộc trong mọi gia đình hồi trước. Ấy là bóng đèn phích nước. Chưa kịp động phím, đùng một cái xảy ra vụ cháy Rạng Đông. Cả nước nhao nhao. Kể lại mấy thứ có liên quan dễ bị quy thành ăn theo lắm. Mà không kể thì đợi đến bao giờ.

Xứ ta, nói tới bóng đèn phích nước là nghĩ ngay đến nhà máy Rạng Đông. Suốt một thời gian dài, cái logo Rạng Đông in trên giấy, vẽ trên thủy tinh, dập trên nhôm, có ở tất cả sản phẩm bóng đèn, phích nước, đã tạo nên thời vàng son của nó. Đó là hình ảnh một nửa ông mặt trời đang nhú lên với những tia nắng hình rẻ quạt. Biểu tượng ấy theo Rạng Đông suốt hơn nửa thế kỷ, chui vào từng nhà.

Tôi không rõ lắm, bởi còn bé tí, nhưng biết chút ít, hồi những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 miền Bắc bắt đầu xây dựng các nhà máy xí nghiệp để thực hiện cách mạng công nghiệp hóa. Trong khi anh cả Liên Xô giúp súng đạn máy bay tàu bò để đánh nhau thì Trung Quốc gánh phần giúp phát triển sản xuất. Hầu hết nhà máy xí nghiệp mới, được ra đời thời kỳ này có sự giúp đỡ của “anh hai”. Cụ thể là cụm công nghiệp Cao Xà Lá gồm 3 nhà máy Cao su (Sao Vàng), Xà phòng (Hà Nội), Thuốc lá (Thăng Long) tại căn cứ địa Thượng Đình; nhà máy Bóng đèn phích nước (Rạng Đông) ở khu Hạ Đình. Thời ấy, từ Ngã Tư Sở trở ra chẳng khác gì ngoại thành, càng đi về Hà Đông càng thưa thớt nhà cửa, từ ga xe điện Cầu Mới trở ra chỉ tinh ruộng là ruộng. Đầu thập niên 70, tôi diện xe điện 5 xu, từ bờ Hồ về Mễ Trì, tới ga Cầu Mới, tàu chạy một mạch qua chợ Xanh thì còn thấy dăm ba ngôi nhà ven đường, chạy thêm nữa đường tàu chỉ ven theo ruộng lúa. Tàu dừng ga Thượng Đình cho sinh viên trường Tổng hợp và công nhân khu Cao xà lá (đối diện với trường, bên kia đường) xuống, chạy hơn cây số nữa tới ga Thanh Xuân.

Ngụy

Hôm 28.8, trên mục "Đối diện" của VTV, trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn và thiếu tướng Hoàng Kiền, hai tướng diều hâu kịch liệt phê phán những người đã không chịu gọi chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 là ngụy. Theo các tướng, chỉ có thể là ngụy, không thể nào gọi khác được.

Cũng chả biết nói thế nào. Ở địa vị và tâm thức của các ông ấy, thù dai như thế là còn nhẹ.

Cuộc tranh cãi từ ngữ này sẽ còn khá dài, ít nhất cũng phải mất tiệt thế hệ đã trực tiếp đánh nhau nội chiến và thành bên thắng cuộc. Sau này con cháu sẽ nhìn nhận nhẹ nhàng, cởi mở hơn, mà không cần phải lên "Đối diện" mắng mỏ, chê bai. Khi ấy thì ngay cả chính cái thứ đối diện dở hơi này cũng chả còn. "Năm tháng sẽ qua đi, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn lại tấm lòng em nhẫn nại và chan chứa yêu thương" (Con đường đau khổ, A.Tonstoi).

Tôi không phê phán gì ông Tuấn ông Kiền bởi họ có chính kiến của họ, tôi có chính kiến của tôi. Chỉ lăn tăn, một khi mấy công thần xứ này còn kiên quyết gọi chính thể, chính quyền Việt Nam cộng hòa là ngụy, ngụy quyền, ngụy quân thì nhà chức trách đừng bao giờ nghĩ đến việc dùng những tài liệu mà "ngụy" từng ban hành khẳng định chủ quyền về Hoàng Sa, Trường Sa để đấu tranh với bọn Trung cộng. Đừng để bọn Tàu nó vặn cho một cái lại cứng họng ra, ú ớ không biết trả lời thế nào. Đã là ngụy thì chả có ý nghĩa giá trị gì. Cứ cử ông Tuấn ông Kiền đi mà đòi.

Nguyễn Thông


Rạng Đông

Trong vụ Trernobin Rạng Đông, nhà chức việc (cả chính quyền lẫn cơ quan chuyên môn) dường như chỉ quan tâm đến uy tín, tiếng tăm của chế độ chứ không thực lòng chăm lo đến tính mạng, sức khỏe con người.

Đúng ra, dù chưa xác minh được thật cụ thể hậu quả tai hại của vụ cháy đầy nguy hại này, thì việc đầu tiên là phải đưa ra cảnh báo đỏ, thậm chí chấp nhận sơ tán dân chúng (dù có tốn kém và gây xáo trộn nhất định) trong một thời gian thì chính quyền lại vội vàng khẳng định an toàn thế này, đạt ngưỡng thế nọ, thậm chí lại còn hùng hổ dọa kỷ luật quan chức địa phương (phường Hạ Đình) do đã có cảnh báo sớm với dân. Họ làm tất cả chỉ vì bệnh sĩ của chính quyền chứ không phải vì dân.

Cần biết chất độc không phát tác và gây họa trong một sớm một chiều. Không khí, đất đai, nước, vật chất (kể cả thực phẩm) nơi đó đã bị nhiễm độc. Hạn chế được sự tác động của nó tới con người bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhà cai trị nên hiểu rằng nếu sau này những đứa trẻ được sinh ra ở đây bị dị dạng, tật nguyền nhiều hơn hẳn so với bình thường và trước đó, nếu tỷ lệ người bị ung thư tăng thêm, thì nạn nhân có quyền khởi kiện chính quyền, bắt phải bồi thường. Tính mạng và số phận con người không phải là thứ muốn vần vò thế nào cũng được.

Đô trưởng Nguyễn Đức Chung hãy đeo ngay mặt nạ đến tận nơi mà xem xét, chứ đừng ngồi trong phòng lạnh bên hồ trả gươm rồi phán phản cảm phản kiếc nọ kia.

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

Bác cả Năng (kỳ 4, cuối)

Lại nói, lớp ta, khóa 17 ta nhiều đấng bậc, trưởng lão, bác cả, nhưng có những bậc, phần thì do tính cách sống nội tâm, ít chơi bời quan hệ, ngay cả các em K17 xinh già như thế nỉ non thỏ thẻ mà vẫn không động lòng, phần thì ngại, mà chả biết ngại cái gì, phần do cách trở địa lý, vùng sâu vùng xa, phần bị trời điểm danh sớm, v.v.. nên nhiều cụ bặt tăm. Cụ Nguyễn Ngọc Xuân biệt tích cho tới giờ. Các cụ Lê Xuân Sang, Phạm Văn Sỹ, Ngô Đức Nguyên thì lấy visa lên thiên đường sớm quá. Cụ Bùi Trọng Cường ở ngay trung tâm kinh đô nhưng cũng ít khi thấy mặt, ít tham gia trò vui của đàn em, cũng có thể một phần bận bịu vợ trẻ con mọn. Cụ Lê Văn Sơn cũng vậy. Cụ Hoàng Sĩ Chiến lo đắp tình hữu nghị Việt - Lào. Cụ Doãn Tấn thì sức khỏe ngày càng sa sút. Cụ Lê Quốc Lập đối tượng chính sách. Cụ Huy Cờ cứ có lệnh là đi, ít khi vắng mặt nhưng chưa thấy đứng ra làm nhiệm vụ tập hợp, phất… cờ. Bao nhiêu trọng trách, dồn cả vào mấy cụ Lê Tài Thuận, Trần Triều Nguyệt, Trần Ngọc Hồng, Vũ Lệnh Năng. Và thật ngẫu nhiên, các cụ này cắm chốt ở từng quân khu rải ra khắp nước, như những vị tư lệnh của sư đoàn ăn chơi lúc tuổi xế chiều. Tuổi tác càng cao lại càng xông xáo kịch liệt, các em càng thích. Con thuyền K17 còn trôi nổi được như bi chừ, phần lớn nhờ vào công của các cụ. Nhất là cụ Năng.

Suốt mấy năm mài mông ở Mễ Trì, cứ nghỉ hè là tôi tót về nhà. Vừa cắt cơm được gần một tháng, lấy tem phiếu lương thực để sau này đổi bánh cuốn Thanh Trì hoặc ra Ngã Tư Sở đổi bánh mì, vừa đem bộ mặt thiểu não về cho thầy bu xác nhận và cấp viện trợ sống tới tết. Hà Nội chỉ cách Phòng có 104 cây số, vậy nhưng mỗi năm chỉ về đúng 2 lần, là 2 dịp hè và tết. Chả bù cho con bé cháu gọi tôi bằng ông, tuần nào cũng thập thò ở nhà thày bu nó, đến nỗi thằng cháu tôi, tức bố đẻ con kia, phải gắt lên mày học ở thủ đô hay ở quê, cứ suốt ngày cúng tiền cho bọn xe khách Hải Âu, Hoàng Long thì tiền núi cũng chả đủ.

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Lũ lụt

Trời mưa lớn, đang định đi đám cưới mà cứ mưa trói buộc kiềm tỏa thế này. Phố xá ngập như sông, xe máy đương nhiên đầu hàng rồi, mà ngay cả ô tô cũng lần chần ngần ngại. Tôi gọi điện thỉnh chiếc Grab, nó bảo chú ơi ngập lụt hết rồi, chú thông cảm nhé. Tôi càu nhàu, tao phải đi đám cưới, kệ mày, mày cứ phải chở tao đến, không tao bắt đền. Nó cười trong máy, cháu chở chú thì cháu có tiền, nhưng lụt như kia thì cháu chịu, tiền tấn cháu cũng chịu.

Nghe nó nói, lại nghĩ tới nghề. Không phải nghề lái xe mà nghề viết, nghề báo, phóng viên, nhà báo, những người sử dụng tiếng Việt để kiếm ăn. Hóa ra họ còn thua cả anh lái xe Grab chỉ quen với vô lăng, đường phố.

Chả là mấy hôm nay miền Trung, nhất là 2 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình bị mưa nhiều, lũ lụt. Sự nghiệp phá rừng để xây dựng chủ nghĩa xã hội đã hoàn thành, về đích sớm nhất, vượt kế hoạch, thậm chí đã phá sang… Lào, thì đâu còn rừng, tấm thảm xanh nữa để mà ngậm nước, giữ nước mưa. Sông suối bị tống quả bom nước biến thành dòng chảy dữ, lao về hạ lưu, biến cả vùng hạ du thành biển nước. Lũ đã gây ra lụt. Những vùng nông thôn ven sông vốn yên bình bỗng dưng thành túi nước, nơi chứa nước.

Chỉ có điều, các nhà báo yêu quý của chúng ta, giỏi cái gì thì chưa biết, nhưng rất dở tiếng Việt, dở thứ công cụ mà họ dùng hằng ngày, dở cái cần câu cơm của họ. Chả cần tinh ý, cứ coi tivi, nghe đài phát thanh, đọc báo in báo mạng, đều thấy họ nhất nhất gọi những vùng đang ngập nước là vùng lũ, kể cả những nơi bị mưa to ngập lụt, không liên quan gì tới lũ cả.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

Bộ máy

Hệ thống cai trị, dù ở một cơ quan, đơn vị, địa phương, hay mở rộng ra cả một nước, người ta quen gọi là bộ máy. Người cộng sản từng phải thừa nhận khâu tổ chức, chọn người, dùng người là khâu quan trọng nhất, điều kiện tiên quyết để có những thứ khác.

Ở xứ ta, ai cũng biết, đảng độc quyền lãnh đạo nên bộ máy công quyền là của đảng. Hay, dở thế nào, dân cũng phải chịu.

Điều thấy rõ nhất, từ cấp trung ương xuống tới cơ sở, nếu không phải đảng viên thì ai dù có tài đến mấy, đạo đức đến mấy cũng không được "cơ cấu", cất nhắc, bổ nhiệm, đưa vào bộ máy lãnh đạo. Phi đảng viên bất thành lãnh đạo.

Chính bị thứ nguyên tắc rất oái oăm và vớ vẩn này chi phối nên có thể nói gần như 100% người vào đảng không phải với mục đích, động cơ được cống hiến, phục vụ cho đất nước, nhân dân, xã hội, mà chỉ vì cá nhân, cụ thể để có tiêu chuẩn tiên quyết rồi được làm quan. Phẩm trật quan chức đã khiến người ta bằng mọi cách được kết nạp đảng. Quỵ lụy, xun xoe, nịnh nọt, và cả hối lộ, đút lót, mua bán, vừa mất tư cách cá nhân, vừa mất tiền, chỉ để thành đảng viên, thành cán bộ.

Sau khi có ghế rồi thì tìm cách thu hồi thứ đã bỏ ra. Tiền có thể thu hồi được, nhưng nhân cách mất hẳn. Có ghế rồi, làm gì, nói gì cũng chỉ cốt bảo vệ ghế của mình. Vụ bà phó chủ tịch quận Thanh Xuân càn rỡ sau hỏa hoạn nhà máy Rạng Đông là một ví dụ. Gần như 100% vụ tham nhũng ở xứ này, thủ phạm đều là đảng viên. Tôi đố ai tìm được một người nào không phải đảng viên, cán bộ mà dính tham nhũng đấy.

Với một bộ máy như thế, dân chưa kịp hưởng sự lãnh đạo sáng suốt của họ thì đã thành nạn nhân của chính họ.

Nguyễn Thông

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Tiếng nói người dân

Theo báo chí, ông bộ trưởng Nhạ và ông phó thủ tướng Đam vừa có nói rằng sẽ xem xét lại "ngày khai giảng" để nó trở nên đúng nghĩa hơn.

Tôi đề nghị hai ông, ngành giáo dục, cũng như chính phủ:

-Không gọi ngày khai giảng mà phải là ngày khai trường. Khai trường là mở lại hoạt động dạy và học của nhà trường sau thời gian nghỉ hè, bắt đầu một năm học mới. Khi đã coi học trò như nhân vật chính, đối tượng trọng tâm của nhà trường thì càng không thể dùng chữ khai giảng bởi như vậy chỉ đề cập đến hoạt động của riêng giáo viên. Đó là chưa nói, cụ Hồ xưa cũng luôn dùng chữ "khai trường" trong mọi văn bản của cụ. Học cụ thì học luôn đi.

-Tổ chức ngày khai trường phải làm sao thật tình cảm, để lại trong lòng học trò, nhất là học sinh lớp 1, những ấn tượng thật đẹp, thất khó quên về buổi đầu đời. Đừng lòe loẹt, hình thức, đừng bắt các cháu đội nắng đội mưa chờ quan khách, đừng bắt nghe những lời sáo rỗng tràng giang đại hải. Các quan chức tới dự được thì dự, không nhất thiết phải làm long trọng viên, thậm chí chỉ nên coi mình như một phụ huynh bình thường. Đánh trống khai trường, tốt nhất là do chính thầy hiệu trưởng thực hiện.

-Điều đặc biệt, cứ phải khai trường xong thì mới bắt đầu năm học, bỏ ngay chuyện bắt học sinh và thầy cô giáo tới trường học cả mấy tuần, sau đó mới "khai giảng", rất vô lý và tào lao, chả có ý nghĩa gì, chỉ còn mang tính hình thức vớ vẩn. Còn chọn ngày khai trường nào cho thích hợp với việc thực hiện chương trình năm học để áp dụng thống nhất trên cả nước thì nên cân nhắc, không nhất thiết cứ phải ngày 5.9.

-Ông Đam và ông Nhạ có lẽ đều đọc tác phẩm "Những tấm lòng cao cả" của nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Cứ dựa vào đây mà quyết việc khai trường, không cần phải bàn nhiều cho rách việc.

Nguyễn Thông