Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2019

Dùng người và quy trình

Chiều nay 22.11, Quốc hội họp, dành quá nhiều thì giờ để làm thủ tục miễn nhiệm một bà bộ trưởng tới tuổi về hưu. Họ gọi đó là quy trình. Quy trình nó thế, không thể làm khác được. Họ bảo vậy.

Luật lệ hay quy trình đều do con người tạo ra. Những anh cộng sản là chúa rườm rà, đẻ ra đủ thứ quy định, tự trói mình rồi bắt người khác phải theo. Nếu ai làm khác đi, họ sẽ mắng sao lại không theo quy trình, linh ta linh tinh… Cãi lại họ, họ sẽ bắt như bắt Phạm Chí Dũng chứ chả đùa.

Ai đó sẽ bảo rằng quốc hội đã “đẻ” ra bà bộ trưởng Tiến thì để quốc hội quyết là đúng rồi, vậy cho tôi hỏi, ở biết bao nước khác, bộ trưởng bị nghỉ hoặc xin nghỉ nhoay nhoáy, nghỉ người này lập tức có người khác thay, có phải quy trình không. Mà chả riêng cỡ bộ trưởng, ngay thủ tướng cũng vậy, họ cần quái gì quy trình. Lấy cái lợi ích của nước của dân đặt lên hàng đầu thì quy trình rườm rà hình thức chỉ đáng vứt vào sọt rác.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Tòa, Hải, và luật sư

Phiên tòa quốc doanh xử luật sư Trần Vũ Hải “tội trốn thuế” đã khép lại. Nó đang bị chìm vào quên lãng như mọi sự kiện nẩy ra ở trên đời, ở mọi nơi cũng như ở xứ này. Nhưng lòng người liệu có yên có quên?

Tôi cũng như hầu hết mọi người đều không thích tòa án. Chả ai dại gì để tòa mời tòa gọi tòa triệu tập. Các cụ xưa dặn rồi “Vô phúc đáo tụng đình” (chỉ những kẻ vô phúc mới tới tòa). Sống ngoài tòa còn chửa yên, đáo tòa để thân tàn ma dại, tù tội, nhận cái kết quả “thân thể tại ngục trung”, ai mà muốn.

Về lý thuyết, tòa án là nơi tượng trưng cho công lý, thực hành công lý, nhưng lâu nay tòa ở xứ này cóc cần công lý. Tòa chỉ cốt cho có, để đe dọa con người, làm công cụ của nhà cai trị. Hiếm có phiên tòa quốc doanh nào xử thắng cho người bị oan ức. Rất nhiều người sau khi bị tòa phán quyết án, thụ án, tới khi được minh oan thì đã tàn tạ sống dở chết dở, gia đình tan nát, khổ đau ngút tận trời.

Tòa quốc doanh không cần luật, bất chấp pháp luật có tồn tại hay không. Xử công khai nhưng cứ lôi vào phòng kín, cấm người tham dự, thậm chí cấm cả nhà báo, sẵn sàng cúp điện khi có “sự cố”, chặn đường ngăn phố không cho ai lai vãng, bịt mồm bị cáo, đuổi cả luật sư… là những chuyện phổ biến trong lịch sử tư pháp xứ này.

Án của tòa hiếm khi căn cứ vào pháp luật mà chủ yếu là thứ án bỏ túi, án chỉ đạo, tuân theo chủ quan của những kẻ cầm quyền. Dù xử trong 1 ngày, thậm chí một tiếng đồng hồ, hay kéo dài vài tuần, thì án cũng đã có sẵn trước khi tòa tuyên. Luật chả là cái đinh gì. Một chế độ đã từng xóa sổ trường luật thì những kẻ hậu sinh của nó cần gì luật.

Điều chưa biết về chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (kỳ 2)

Đúng ra phải kể ngay về thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm, nhưng thôi, gác lại để sau, sợ mọi người sốt ruột.

Tôi dỡ cái áo mưa ra, không đi công chuyện nữa, ngồi nghe thầy Năm rủ rỉ qua điện thoại. Và đây là lời thầy:

Mày nhớ không, hồi sau giải phóng, trường ta được thành lập để thu nạp các đối tượng chính sách, bồi dưỡng cho họ một năm trước khi họ vào đại học. Đối tượng thì mày rõ rồi, gồm bộ đội, cán bộ, con em cán bộ, con em gia đình cách mạng, thanh niên xung phong. Ban đầu chỉ tập trung vào những người ấy, sau nữa mới mở ra người dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa…

Năm 1977, tao bất ngờ nghe báo có khách, nói với ông Can bảo vệ cho mời vào. Nghe khách giới thiệu, tao biết mình đang nói chuyện với ông Nguyễn Hữu Hạnh, chuẩn tướng quân đội Sài Gòn, người có công rất lớn với cách mạng, nhất là ở chặng cuối cùng. Ông bảo, tôi nghe người quen thân giới thiệu anh có thể giúp được nên mạo muội tìm đến anh. Nhìn ông, thấy ngay cả sự bức xúc, dồn nén, buồn bã, thất vọng bộc lộ ra ngoài, mặc dù khuôn mặt rất hiền, nói năng nhỏ nhẹ. Tao bảo, anh cứ nói, liệu tôi có giúp được gì chăng.

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2019

Chuyện chè chai đồng nát

Hôm qua trên tivi phát cảnh Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Bắc Ninh phát động phong trào thu gom vỏ chai nhựa để bảo vệ môi trường. Ai nấy ăn mặc đẹp, quần áo xúng xính, thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ, thanh niên áo xanh da trời, người người, trường trường nô nức đem vỏ chai nhựa, túi ni lông, thậm chí cả những cái can nhựa, thùng nhựa có lẽ còn dùng được, tới điểm thu gom. Mọi người hỉ hả, phấn khởi khi đã góp phần bé tí làm quả đất sạch hơn.

Hồi tôi còn nhỏ, học cấp 1, cấp 2 ở miền Bắc những năm thập niên 60, cũng từng nhặt nhạnh đủ thứ, cũng nô nức phong trào, gọi là kế hoạch nhỏ. Nhưng chả bao giờ nghĩ tới chuyện bảo vệ môi trường, mà chỉ một phần do đoàn-đội phát động, ra chỉ tiêu, không thể không tham gia, phần khác bán mấy thứ ve chai sẽ có tiền mua bút chì, mua kẹo, dù “thu nhập” chả bao nhiêu. Giờ nghĩ lại, thời ấy cái gì cũng thiếu, nên chẳng bỏ đi thứ gì. Người lớn thì “dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá/mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô/ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ”, còn trẻ con thì suốt ngày lùng sục, tìm bới, nhặt nhạnh bất cứ những gì có thể bán được, nộp được cho kế hoạch nhỏ. Những loại “hàng” chính là giấy vụn, sắt vụn, mảnh chai (thủy tinh), tóc rối, lông gà lông vịt, giẻ rách. Hồi đó gọi mớ phế thải là chè chai đồng nát, bây giờ người ta nói gọn bằng tên cụt lủn ve chai. Thỉnh thoảng lại nghe ngoài đường làng mấy bà quang gánh vừa đi vừa rao “Ai lông ngan lông gà lông vịt đồng nát giẻ rách bán không”, “Ai chè chai đồng nát bán không”, “Ai chè chai đồng nát nào”. Bây giờ cũng có người thu mua như vậy, chỉ khác một chút là đội ngũ đã được trẻ hóa chứ không chỉ thuần bà già, rao cũng khác, theo ngôn ngữ thời đại: “Ve chai bán không”.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Điều chưa biết về chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh

Nói đến chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhiều người biết, lẽ đâu dám viết rằng “điều chưa biết”. Nhưng quả thật, tôi nghĩ điều tôi sắp kể ra đây, người biết chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Trước khi kể, vòng vo chút đã, như các cụ ngày xưa bảo phải “nói có đầu đuôi”. Tất nhiên tôi không khề khà tới mức, kiểu thưa ông con tằm nó nhả ra tơ, người ta đem tơ bán cho người tàu, người tàu dệt thành the rồi bán sang ta, ông đi mua the về may thành áo… Tôi chỉ làm chút lý lịch trích ngang thôi.

Ông Hạnh là chuẩn tướng, sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam cộng hòa, mà người cộng sản gọi là “quân đội ngụy, ngụy quân”. Ông được mặt trận (tức phe cách mạng) móc nối, dụ dỗ nên ngả theo cách mạng. Thời trước 1975 ở miền Nam có câu “Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”, dạng này nhiều lắm, trong đó có ộng Hạnh. Ông Hạnh thuộc nhóm “ăn cơm” kiểu Nguyễn Thành Trung, Tôn Nữ Thị Ninh, chứ không thể xếp chung vào nhóm Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức, Vũ Ngọc Nhạ… bởi những ông vừa kể ăn cơm cộng sản, giả vờ phụng sự quốc gia. Một dạng là tình báo, điệp viên, còn một dạng là hai mang, bề tôi thờ hai chúa.

Dân đen như chúng tôi tất nhiên trước ngày đất nước thống nhất chả biết gì về ông Ẩn, ông Nhạ, lại càng không biết những người như ông Hạnh. Chỉ sau năm 1975, chỗ này chỗ kia xì ra, có lúc um lên, nhà văn nhà veo ghi chép thì công tích, sự nghiệp của họ mới rõ dần. Người ta biết ông Hạnh chủ yếu ở những giây phút cuối cùng, khi ván bài đã chuẩn bị ù, ông giúp cho tướng Dương Văn Minh có những động tác và chỉ thị mang tính quyết định để… đầu hàng, có lợi cho cách mạng. Nói gì thì nói, chỉ cần một lời khuyên của ông Hạnh với tướng Minh khi ấy, đã cứu được hàng nghìn người, thậm chí cả vạn người khỏi cái chết, giúp cho Sài Gòn gần như còn nguyên vẹn. Tất nhiên cả ông Hạnh lẫn tướng Minh big đều không hình dung ra được về sau lời ca của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã bị cải biên thành “tiến về Sài Gòn, ta chiếm nhà mặt tiền; tiến về Sài Gòn, ta chiếm nhà thật toooo…”.

Nhạc và nhạc

Dư luận đang um về phát ngôn của ông nhạc sĩ phong trào Trần Long Ẩn. Cũng chưa rõ ổng có nói hẳn vậy không, chỉ thấy trên mạng xã hội và vài tờ báo, nhưng sự phản đối thì khá quyết liệt. Ai muốn biết ông Ẩn Long nói gì, cứ vào gu gồ gõ chữ Trần Long Ẩn thì ra ngay kết quả, nhà cháu không mất công thuật lại.

Chỉ nói riêng rằng, ông này có nhẽ được mỗi bài Tình đất đỏ miền Đông, còn những bài viết về sau, như Một đời người một rừng cậy, Đi qua vùng cỏ non... chỉ tinh lý sự, triết lý vớ vẩn, chẳng hạn "khi nghĩ về cuộc đời, tôi thường nghĩ về rừng cây", "ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai"... nghe rất chối, nổ mìn vào lỗ tai. Mọi người cứ thử ngẫm mà xem, không phải cứ hô hào triết lý mà ra lẽ đời đâu. Anh nào càng kêu to, càng nói lắm, càng rỗng tuếch. Ngược lại, đọc những ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà coi, không hề lên giọng dạy dỗ, lý sự, nhưng câu nào chữ nào cũng là chiều sâu cuộc đời, là thân phận con người. À, mà thôi, đem so ông Ẩn Long với cụ Trịnh, quá khập khiễng.

Nhân tối hôm qua "bàn" về âm nhạc, lại nhớ chuyện này.

Có một hôm, tôi ngồi lai rai với các đồng nghiệp, cả bắc cả nam. Mọi người bảo bây giờ đến tiết mục hát. Mấy anh Đoàn Khắc Xuyên, Nguyễn Duy Thông cười bảo ông Thông hát một bài nghe coi. Các bác ấy thừa biết giọng thuốc lào của tôi thì hát hò cái gì. Nhưng họ không biết gót chân Asin mà tôi giấu kín. Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra. Nhà báo Bùi Anh Tú cùng dân bắc như tôi buột mồm anh Thông chỉ biết nhạc đỏ thôi, muốn hát nhạc đỏ thì anh ấy chơi được, chứ nhạc khác thì chịu.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2019

Khoai và sự tử tế (kỳ 3, cuối)

Trẻ con nông thôn miền Bắc những năm thập niên 50 - 70 không chỉ ăn khoai thay cơm mà gần như đứa nào cũng biết… mót khoai. Mót khoai, mót lúa đã thành thứ nghề tay trái khi làng quê biến thành hợp tác xã. Đám chúng tôi không biết chơi tem, nuôi cá vàng, đánh đàn ghi ta, vẽ vời này nọ như các bạn thành phố sơ tán về, nhưng lại rất giỏi đánh dậm, cất vó tép, câu cá, gánh lúa, nhổ mạ, đun nấu bằng rơm rạ hoặc lá tre, kiếm rau lợn, rút rơm trâu, trèo cây hái quả, ngụp lặn dưới cừ, và biết mót lúa mót khoai.

Cũng chả biết ai đã đặt cho cái việc ấy là “mót”. Trong tiếng Việt, chữ mót có nhiều nghĩa, cái nghĩa mà tôi muốn nhắc tới là nhặt nhạnh, tìm kiếm những gì còn sót lại. Cuộc đời đổi thay, bây giờ ngay cả những vùng nghèo nhất cũng không còn “nghề” mót nữa. Nó chỉ là dấu ấn của một thời, một giai đoạn nghèo đói, thiếu thốn, vất vả.

Sau khi miền Bắc hòa bình lập lại, nông thôn đang đà trở mình thay da đổi thịt, xóa dần nghèo đói, đùng một cái, nhà nước học tập mô hình kinh tế bên Liên Xô, Trung Quốc, bắt tất cả nông dân phải vào hợp tác xã. Mỗi thôn (làng) là một hợp tác xã, bỏ hết tên cũ, đặt cho tên mới rất kêu, đầy sắc màu cách mạng, nào là Quyết Tiến, Thắng Lợi, Bình Minh, Rạng Đông, Cờ Đỏ, Thành Công… Thôn Trà Phương quê tôi đông khẩu, được tách ra thành hai hợp tác, Bình Minh và Thụy Sơn. Ruộng đất, trâu bò của các hộ gia đình bị sung công hết vào hợp tác, chỉ chừa cho mảnh vườn có căn nhà đang ở. Mọi thành viên trong gia đình được gọi là xã viên. Nhà nào lần chần không chịu vào, chính quyền và hợp tác làm tình làm tội.