Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

Chuyện con lợn nhân năm Hợi (kỳ 2)

Như đã biên kể trong bài trước, ở nông thôn miền Bắc những năm thập niên 1960 - 1980, còn gọi là thời bao cấp, con lợn chả khác gì một thành viên quan trọng trong gia đình. Có thể không nuôi chó, nuôi trâu, mèo, gà… nhưng dứt khoát phải nuôi lợn. Đến khi thời bao cấp bị tụt xuống đáy thảm hại, kinh tế khủng hoảng nghiêm trọng thì không chỉ nông dân nuôi lợn mà ngay cả cán bộ, công chức, dân thành thị cũng rước ông ỉ về nhà. Nói không quá đáng, suốt thời gian dài, con lợn đã cứu con người. Dù vẫn bị gọi là lợn nhưng địa vị của nó được nâng cao rõ rệt. Nó chỉ cần bỏ cám là cả nhà đã cuống lên, lo hơn lo cho người bệnh.

Thời bao cấp, người ta vẫn truyền tai nhau “sự tích” Giáo sư Văn Như Cương (thực ra cụ chỉ Phó giáo sư, người đời cứ gọi thế cho gọn) nuôi lợn. Hồi những năm 1980, thầy Văn Như Cương là ông giáo dạy toán nổi tiếng đất Hà thành và cả miền Bắc, nhưng cũng như hầu hết thầy cô giáo khi đó, đồng lương chết đói không đủ nuôi thân chứ nói gì nuôi gia đình. Thầy Cương ở khu tập thể (chung cư), tuốt trên tầng cao, ngăn hẳn cái nhà tắm vốn đã bé tí làm chuồng lợn. Rau bèo cám bã đã đành phải lôi tuốt lên lầu, ngay cả nước non cũng hiếm, lại phân lợn nữa, khó tránh khỏi mùi hôi. Lợn càng lớn, mùi hôi càng đậm. Ráng chịu chứ biết làm thế nào. Sau vài lứa đầu, tiền lời bán lợn cũng kha khá, cụ “làm ăn lớn” nuôi hẳn vài con cho hoành tráng. Gia đình cụ cắn răng chịu cảnh ô nhiễm nhưng hàng xóm thì không thể chịu. Họ làm đơn thưa với chính quyền. Đoàn kiểm tra liên ngành tới xem thực hư thế nào. Chả nhẽ một giáo sư toán nổi tiếng cũng phải nuôi lợn kiếm sống. Leo hàng chục bậc cầu thang, chưa tới nhà đã ngửi mùi lợn mùi phân nồng nặc. Không sai. Lập biên bản, ghi rõ “giáo sư Văn Như Cương nuôi lợn…”, đề nghị thầy ký vào. Cụ giáo đọc xong, không chịu, sửa lại “Lợn nuôi giáo sư Văn Như Cương” rồi mới ký tên xác nhận. Thời ấy nhiều người biết chuyện này, một thứ ký ức lịch sử điển hình về những năm tháng bao cấp.

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2019

Bài dành riêng cho Văn K17: Bác cả Hồng

Cứ theo lối các cụ ta xưa, người đứng đầu trong nhà là cả. Chỉ trong nhà thôi, chứ với chi ngành, dòng tộc, họ tộc thì gọi là trưởng. Hiểu nôm na, đã cả thì chỉ có một, dưới cả là thứ; cũng như chính phủ chả hạn, đứng đầu bằng thủ tướng. Chỉ một thủ tướng, dưới là các phó thủ tướng.

Nhưng K17 không theo quy luật ấy. Khác đời mới đích thực văn K17. Một gia đình lớn như K17 dù rất hệ thống, quy củ, thứ lớp, đâu ra đấy nhưng vẫn xé rào có chút khác biệt. Nói toẹt ra là nhiều cả. Mà cả nào cũng hợp lẽ, xứng đáng.

Nếu không kể những cả Sang (Lê Xuân Sang), cả Sĩ (Phạm Văn Sĩ), cả Lập (Lê Quốc Lập) cả Năng (Vũ Lệnh Năng), cả Thuận (Lê Tài Thuận), cả Nguyệt (Trần Triều Nguyệt, sẽ có bài biên riêng) đạo cao đức trọng, chiến công hiển hách, huân huy chương đỏ ngực, thì trong lớp cũng còn khá nhiều bác sém cả, có thể coi như phó cả, chả hạn phó Cường (Bùi Trọng Cường), phó Xuân (Nguyễn Ngọc Xuân, bác phó này mất tích bấy lâu nay), phó Cờ (Nguyễn Huy Cờ), phó Việt (Trần Nam Việt), phó Giang (Ma Duy Giang, tức Ải lậc cậc), phó Khánh (Đặng Quốc Khánh), phó Sơn (Lê Văn Sơn), phó Thuật (Trần Quang Thuật)… Cụ thì tuổi cao, cụ thì chinh chiến, cụ thì tán gái có hạng. Nói chung rất đáng để đàn em học tập và làm theo tấm gương đạo đức và tài năng.

Tuy nhiên, mình muốn tách ra một bác cả rất ấn tượng. Bác cả Hồng, tục gọi Trần Ngọc Hồng.

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

Họ vì ai ?

Nhà nước này, chính quyền này, bộ máy cai trị này, khi thực hiện hoặc yêu cầu điều gì, trước hết cũng chỉ vì sự tồn tại của nó chứ không phải vì dân. Mọi thứ lý luận được rêu rao "của dân, vì dân, do dân, cho dân" đều sáo rỗng hết. Lừa bịp cả thôi.

Tại sao tôi nói thế? Hãy đọc đoạn này, được trích từ bản tin của TTXVN, cơ quan ngôn luận chính thống của quốc gia, ngày 15.3, chứ không phải do tôi bịa ra.

"Trạm BOT Bắc Thăng Long - Nội Bài là trạm thu phí để hoàn vốn cho dự án xây dựng quốc lộ 2, đoạn tránh TP Vĩnh Yên, do Chính phủ phê duyệt, Bộ Giao thông Vận tải được giao ký kết hợp đồng BOT với Công ty cổ phần BOT Vietracimex 8.

Công ty cổ phần BOT Vietracimex 8 được sử dụng trạm BOT này để hoàn vốn đầu tư từ 1/1/2011. Thời gian thu phí hoàn vốn là 16 năm 10 tháng 11 ngày. Mức giá là 10.000 đồng/xe 12 chỗ.

Tuy nhiên, UBND TP Hà Nội đã nhiều lần có văn bản đề nghị Bộ Giao thông Vận tải di chuyển trạm BOT này về đúng vị trí, với lý do đây là tuyến đường đối ngoại huyết mạch nối trung tâm Hà Nội với cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài, việc tồn tại trạm thu phí là nguyên nhân gây ùn tắc giao thông trên tuyến đường này. Song đến nay Trạm BOT Bắc Thăng Long - Nội Bài vẫn cho thu phí, khiến người dân bức xúc" (hết trích).

Một cái BOT trấn lột, phi lý, bị đặt sai chỗ, đáng lý phải lên tiếng yêu cầu dẹp bỏ nó, phải bắt về đúng chỗ của nó, với lý do không thể chấp nhận sự phi lý tồn tại, thì lại chỉ cho rằng do đây là con đường huyết mạch, nhằm tránh gây ùn tắc. Nhà cai trị chỉ tự phản ứng với nhau khi họ thấy có vấn đề cản trở trong thực thi cai trị, chứ quyền lợi của dân đối với họ không là cái gì, chỉ là con số 0 tròn trĩnh.

Là người dân đang đóng thuế cho nhà nước, tôi yêu cầu phải dẹp hết BOT phi lý trên quốc lộ, nhất là những BOT thu hộ cho dự án này nọ, không được móc túi dân tàn bạo, trâng tráo như bấy lâu nay.

Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

Khôn khéo

Tôi đã hình dung và nói ra cách nay cả tuần, rằng vụ bênh vực cho cô Đoàn Thị Hương khỏi ra tòa ở Malaysia sẽ chả đi đến đâu. Chưa đề cập tới việc cô Hương có phạm tội hay không, chỉ riêng chuyện nhà chức trách Mã Lai coi thường sự sốt sắng đột xuất của Việt Nam đã bất lợi rồi.

Tại sao? Suốt thời gian dài, với bị cáo người Indonesia, cả bộ máy cầm quyền Indo, các bộ ngành, thậm chí cả tổng thống, đều tích cực can thiệp, đòi trả tự do cho công dân của họ. Và họ đã có kết quả tốt nhất.

Còn xứ ta, ngoài mấy vị luật sư tự nguyện hoặc được chỉ định tham gia vào việc bênh vực, bào chữa cho cô Hương, hầu như không cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân nào của chính quyền lên tiếng, nhào vô bảo vệ công dân mình. Họ cứ im lặng, kiểu như "lỡ cô kia phạm tội thì sao", cứ từ từ, làm gì mà vội... Một dạng khôn vặt để bảo toàn lực lượng, danh tiếng.

Nhưng thấy công dân Indo được thả, tha bổng, thế là "cả hệ thống chính trị" vội vàng vào cuộc... chữa cháy, bù lại thời gian đã mất, nào Đại sứ quán, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, bộ này ngành nọ... Nhưng giới chức Malaysia thì nghĩ khác, cho rằng trước kia các vị thờ ơ với công dân mình, nay các vị lại cuống lên thế là cớ làm sao. Đừng thấy người ta ăn khoai, vội vác mai đi đào. Trước đã không cứu, không lên tiếng, thì nay có đòi bã bọt mép cũng chả chạy được cho ai. Sự khôn khéo vặt nhiều khi cũng phải trả giá, thậm chí rất đắt.

Nguyễn Thông

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2019

Đền chùa chứ đâu phải trung tâm thương mại

Việc đặt hòm công đức tràn lan ở nhiều đền chùa hiện nay chẳng khác gì một kiểu tận thu, buộc người viếng đền chùa phải móc túi mà không dám kêu than. Chốn thiêng liêng vô hình trung bị biến thành trung tâm thương mại

Cứ xong Tết Nguyên đán, thiên hạ lại nô nức vào mùa lễ hội. Ấy là đang nói ở xứ ta. Một nước hằng năm có tới hơn 8.000 lễ hội lớn nhỏ thì dùng chữ “nô nức” vẫn còn hơi nhẹ. Nhưng lễ hội, sự cúng bái, bản thân nó không phải là cái tội. Nếu xấu, nó đã không tồn tại.

Gắn liền với lễ hội, cầu cúng là “cơ sở vật chất” - đền chùa. Những hoạt động tín ngưỡng thu hút con người phần lớn được tổ chức ở đền chùa, tức ở nơi thờ thánh, thần, phật. Từ ngàn xưa, người ta đã đi chùa, đi đền để cầu xin ơn trên phù hộ, xin những điều may mắn, tốt đẹp, cả vật chất lẫn tình cảm, tinh thần. Viếng đền chùa, cầu cúng là điều không thể thiếu trong đời sống của số đông con dân nước Việt này.

Theo thời gian, đền chùa được xây mới ngày càng nhiều, càng to, hoành tráng. Có nhiều chùa tuy mới lập hoặc tôn tạo từ nền móng cũ nhưng đã chen vào hàng kỷ lục, thu hút đông đảo khách thập phương. Nhiều chùa cũ cũng được tô điểm trung tu lại, thêm tượng thêm bát hương, mở hẳn những dịch vụ mà xưa nay chỉ lặng lẽ ngấm ngầm. Không nói ra thì ai cũng rõ, gần như có cuộc đua công khai giữa các cơ sở thờ tự để giành thật nhiều con nhang đệ tử về mình. Nhiều “khách” tức là sẽ nhiều tiền. Chả trách dư luận xã hội không ít eo xèo về chuyện “buôn thần bán thánh”, chốn linh thiêng thành trung tâm thương mại. Trong khói hương sực nức mùi tiền.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Lư hương

Tôi có đôi nhời thế này sau khi bà bí thư quận 1 trả lời dư luận rằng việc cẩu chiếc lư hương trước tượng đài Đức Thánh Trần tại ven sông Sài Gòn đem đi chỗ khác là chuyện bình thường (báo Tuổi Trẻ ngày 18.2.2019).

Trên bàn thờ gia tiên, thứ không thể thiếu là bát hương (hay còn gọi là bình hương). Người miền Nam gọi là bát nhang, nhưng sự kính trọng với đồ thờ cúng này thì dù Bắc dù Nam đâu cũng như nhau.

Cũng cần nói rõ một chút, người xứ ta thường có nhầm lẫn bát hương với lư hương. Lư hương cũng là đồ tế khí-linh khí, dùng để thờ cúng, còn có tên là bộ tam sự, gồm 3 món: chiếc lư và cặp chân đèn (2 chiếc). Tam sự thường được đúc bằng đồng, lư để đốt trầm hương, đặt chính giữa; chân đèn để thắp nến, đặt hai bên. Thường bàn thờ (ban thờ) luôn có cả tam sự lẫn bát hương.

Đồ để thắp hương, cắm hương (nhang) trên bàn thờ hằng ngày, hoặc khi kỵ nhật (ngày cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ), hoặc ngày lễ tết thường là bát hương. Chỉ ở những nơi đình chùa miếu mạo, chỗ đặt tượng đài, nơi thờ cúng công cộng thì đồ để cắm nhang gọi là lư hương. Có những lư hương rất to, nặng, phải mấy người, thậm chí chục người khiêng mới nổi.

Dù ở trong nhà, trong nhà thờ, trong đình chùa, hay nơi tượng đài, thì lư hương, bát hương luôn được coi trọng bậc nhất. Sự kính cẩn đối với trời đất, thánh thần, tổ tiên, tiền nhân, anh hùng… được thể hiện ở thái độ với đồ tế khí, cụ thể là với bình hương, lư hương. Ngoài vấn đề tâm linh, tôn giáo, đây còn là đạo đức, ý thức, nhân cách của con cháu đối với thánh thần, tổ tiên.

Chiều ngày này, 40 năm trước

Ngày này tức là ngày 17 tháng 2. Còn 40 năm trước, tức vào buổi chiều 17.2.1979. Khi ấy tôi dạy tại Trường dự bị đại học TP.HCM. Mới gần 2 tuổi nghề, hăng lắm, trường giao việc gì cũng nhận, thậm chí chưa giao cũng xung phong. Hồi ấy không biết, hoặc chưa có bài vè “Tiến lên ta quyết tiến lên/Tiến lên ta lại xông lên hàng đầu”, hăng bởi đang là đoàn viên.

Sáng 17.2.1979, cả trường vẫn hoạt động bình thường, thầy trò lên lớp, học hành theo lịch, chả có gì thay đổi. Chị Nguyễn Thị Huệ, giáo viên hóa, bí thư Đoàn trường còn dặn tôi sáng mai nhớ theo xe ông Thi già tài xế xuống cơ sở 2 dưới Tiền Giang để bồi dưỡng lớp đối tượng đoàn. Thầy Nghiệp, thầy Chi, anh Dương dưới ấy đã chuẩn bị xong cả rồi, lên lớp 2 buổi trong ngày, tới chiều tối sẽ quá giang xe đưa rước giáo viên về lại Sài Gòn.

Suốt buổi sáng 17.2, không có thông tin gì. Trưa, nghe thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm thông báo họp đột xuất các trưởng bộ môn, trưởng phòng ban, bí thư đoàn, chủ tịch công đoàn. Hình như có chuyện chi ghê gớm lắm. Tan họp, ai cũng căng thẳng. Chú Dương Cao Thăng, chủ tịch Công đoàn trường thông báo Trung Quốc nó đánh ta rồi. Có khi nó thốc xuống tận Hà Nội. Đánh từ sáng sớm nhưng hồi đó thông tin liên lạc kém nên tới trưa nghe đài Tiếng nói Việt Nam mới biết. Đài phát liên tục những thông tin mới nhất, nào là bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh trở mặt, nào là quân ta đang chiến đấu anh dũng cản bước tiến của quân thù, nào là sắp có lệnh tổng động viên trên cả nước, v.v..