Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Nhắc các chị nội trợ: Khoai tây mua ở siêu thị

Sẽ có người bảo dở hơi nó vừa vừa chứ. Đàn ông đàn ang lại đi nhắc đàn bà chuyện nội trợ, chợ búa, mua sắm, nấu nướng. Đúng là đồ dở hơi. Thì cũng đành chịu vậy, bởi ở nhà mình, tôi hay phải đi chợ.

Giờ đây, việc đi lại, vận chuyển dễ dàng, hàng hóa đặc sản vùng miền có mặt khắp mọi nơi. Ngày trước, sản vật theo vùng miền, cây trái theo mùa, mùa nào thức ấy, có chỗ ăn không hết, ứ thừa, rẻ rề nhưng cùng lúc thì chỗ khác vùng khác lại hiếm hoi, đắt đỏ. Nay thì khác, miền Bắc có cả dưa hấu (thường chỉ trồng vào mùa hè) bán suốt mùa đông mùa xuân, không trồng được xoài ngon nhưng ăn xoài thoải mái; còn miền Nam cứ mỗi mùa vải chín đất bắc vẫn tha hồ mua ngay tại nơi mình ở, chỉ đắt hơn vài ba giá. Cây khoai tây chỉ hợp với khí hậu ôn đới, mát mẻ nên chỉ có ở miền Bắc cữ trời se lạnh (đông - xuân) và đất Đà Lạt, tuy nhiên người tiêu dùng xứ nóng nhiệt đới có thể mua được củ này quanh năm. Ấy là do cuộc sống biến đổi, con người đỡ bị cảnh thèm nhạt. Tôi nhớ hồi những năm 80 trở về trước, chả bao giờ hình dung ra dân bắc được ăn dưa hấu ngày tết, dân nam mua vải thiều giá vừa với túi người bình dân.

Từ hồi giữa thập niên 90, sự mua sắm càng thuận tiện hơn cho người nội trợ khi xuất hiện hệ thống siêu thị. Mua bán theo kiểu tây. Đắt một tí nhưng tiện lợi, hàng hóa tập trung, sạch sẽ, thứ gì cũng có. Tất nhiên trong siêu thị có cả rau củ, khoai tây.

Thành phố hoa phượng (kỳ 2)

Cuối bài kỳ trước có nhắc tới nhà thơ Hải Như. Nói cho công bằng, trong việc quảng bá, PR cho địa danh Hải Phòng, công của ông Hải Như rất lớn. Người đời biết tới đất Phòng nhiều hơn, thậm chí kỹ lưỡng, tỉ mỉ hơn là nhờ bài thơ của ông. Hải Phòng một thời lừng danh những tên Quán Bà Mau, bến Bính, Sáu Kho, Thượng Lý, Sở Dầu, Tam Bạc, vườn hoa đưa người… trong trang viết Nguyên Hồng. Rồi tới lượt Hải Như, người ta biết thêm về Xi Măng, cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên, sông Lấp. Ngay cái tên bài thơ, “Thành phố hoa phượng đỏ”, thành thứ tên riêng, cũng đủ để ghi công lao của ông với thành phố cảng miền duyên hải này. Tôi không biết những vị lãnh đạo, các quan cai trị đất Phòng suốt từ năm 1970 (năm bài thơ ra đời) tới nay đối xử với Hải Như khi còn sống và Hải Như sau khi đã khuất như thế nào, nhưng với người có công thì cần có cách gì đó cụ thể biết ơn. Chả hạn, đặt cho một con đường mang tên ông, phố Hải Như, trồng trên đó những hàng phượng, bung nở đỏ rực mỗi hè. Cũng vậy, tỉnh Quảng Bình cần có đường Hoàng Vân, tỉnh Bến Tre có đường Nguyễn Văn Tý, Nghệ An có đường Đinh Quang Hợp, Thanh Hóa có đường Xuân Giao hoặc Hoàng Đạm…

Cũng cần biên thêm, nếu chỉ tồn tại dưới dạng thơ, dù đăng trên báo Nhân Dân (báo Nhân Dân thời ấy còn có người xem chứ bây giờ thì nói làm gì) bài thơ của cụ Hải Như cũng chỉ giới hạn ở đám đông vừa vừa chứ không đông lắm. Nó chỉ thăng hoa khi được âm nhạc chắp cánh. Xứ ta lạ lắm, nhiều bài thơ nôm na như vè nhưng nhờ thầy son phe mà bay chấp chới khắp miền. Thôi, chả nói ra đây sợ đụng chạm. Mà cũng không ít nhạc sĩ gần như rất vụng soạn lời (trên đời không có mấy ai đặt lời (ca từ) giỏi như Trịnh Công Sơn, nếu cần kể thêm tới người thứ nhì thì đó là Hoàng Vân), tuy nhiên cực giỏi trong chuyện kết hôn thơ với nhạc. Hai vị Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu là ví dụ cụ

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2020

Chuyện Tào Tháo

Tào Tháo tự (tên chữ) là Mạnh Đức, còn có tên khác là A Man, là nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Trung Hoa cổ đại. Nhưng phần lớn người thời sau, cứ nhắc tới Tháo là nghĩ ngay một kẻ gian hùng. Người ta ít dùng cho Tào 2 chữ Mạnh Đức mà thường gắn vào 2 chữ A Man. Nói tới Tào A Man cũng chẳng khác gì bảo rằng giỏi thì giỏi thật nhưng gớm bỏ mẹ.

Nói về Tháo thì lắm điều cần kể, chỉ sực nhớ chuyện này: Sau trận thua Xích Bích, đại bại dưới bàn tay Chu Du mà Tháo vốn xem thường, Tháo hơi bị buồn một thời gian, nhưng xưa nay kẻ anh hùng vốn không chịu buồn lâu, nên chỉ ít ngày sau đó đã khánh thành đền Đồng Tước, tổ chức tiệc tùng ăn chơi nhảy múa tưng bừng, cũng giống như người ta bây giờ họp quốc hội hoặc tổ chức đại hội đảng vậy, dù vừa tan tác bởi dịch Cô vít.

Trong lễ tiệc hoành tráng, băng cờ khẩu hiệu rực rỡ "Đảng Đại Ngụy quang vinh muôn năm", "Tào công vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta", Tháo chĩnh chện ghép 2 cái ngai làm một, ngồi chỗ cao ngất, tâm sự với các đàn em rằng, ta tuổi cũng đã cao rồi, muốn nghỉ ngơi vui thú điền viên lắm, chả tội gì ôm rơm rặm bụng, nhưng thấy chưa được. "Từ khi ta giết Đổng Trác, quét sạch Khăn vàng, trừ được Viên Thuật, phá được Lã Bố, dẹp tan đám Viên Thiệu, Lưu Biểu, dần dần bình định được cả thiên hạ, làm đến chức tể tướng, ngôi phú quý tưởng tột bậc rồi, còn mong gì hơn nữa? Nếu triều đình không có ta, chưa biết bao người xưng đế, bao kẻ xưng vương rồi đó. Lắm người thấy ta quyền cao chức trọng, ngờ cho ta có bụng này khác, thật là lầm lớn! Nhưng muốn cho ta bỏ binh quyền đi, thì cũng không xong, vì ta không còn binh quyền trong tay, tất sẽ bị kẻ khác hãm hại" (Trích nguyên văn Tam quốc diễn nghĩa). Ý của Tháo rằng ta mà bị hại, thì đảng Đại Ngụy và nhà nước cũng sẽ sụp đổ.

Tháo nói xong, các quan thì thầm, à ra vậy, nhưng vẫn vỗ tay tung hô chưa bao giờ cơ đồ đất nước tươi đẹp như hôm nay, đó là nhờ hồng phúc của chúa công, mong chúa công cứ ngồi thêm vài nhiệm kỳ nữa.

Nguyễn Thông

Chuyện sinh đẻ có kế hoạch (kỳ 4, cuối)

Những gì liên quan tới đẻ đái, đặt vòng, chính sách dân số, những chuyện cười ra nước mắt về kế hoạch hóa gia đình… tôi đã ráng nhặt nhạnh từ ký ức và biên ra trong những kỳ trước. Lần này chỉ tập trung nói về một nhân vật liên quan tới sinh đẻ có kế hoạch, là cụ đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong tâm thức đông đảo người dân xứ này, hai nhân vật lịch sử được kính trọng và yêu mến nhất, chiếm được nhiều cảm tình nhất, là cụ Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hình ảnh cụ Hồ trở nên chói lọi rực rỡ, tất nhiên chủ yếu từ con người cụ, nhưng cũng có phần tô vẽ không nhỏ của bộ máy tuyên truyền. Nghệ thuật tuyên truyền của người cộng sản, thì ngay cả những bậc thầy tuyên truyền đủ mọi thời đại xưa nay cũng phải chịu thua. Vị lãnh tụ của họ được đẩy lên thành đấng bậc vẹn toàn không tì vết, có khi thần thánh, ngọc hoàng, ông trời, đức phật, đức chúa cũng không bằng. Tôi cả đời sống trong thể chế cộng sản, từ lúc bé bắt mũi chưa sạch tới giờ, đã hiểu và nhận ra điều chối tỉ ấy.

Vậy nhưng, với trường hợp cụ đại tướng Võ Nguyên Giáp, có nhẽ là ngoại lệ. Những gì cụ Giáp có được, chủ yếu do cụ tạo ra, ít phải nhờ “bộ máy” họa sĩ. Tài năng, đạo đức, công tích, vẻ đẹp… cụ có được đều tự thân sinh ra, tồn tại vững chắc trong cõi đời, trong lòng người. Không phải vô cớ mà những người lính nhiều thế hệ đã gọi cụ bằng danh hiệu cực kỳ giản dị mà cao quý: người anh cả của quân đội, anh Văn. Người dân bình thường yêu quý kính phục cụ kể cả khi cụ là người lẫy lừng đỉnh cao lẫn khi cụ là vị tông đồ chịu nạn. Hình ảnh anh Văn, vị đại tướng, nhà cách mạng qua bao biến thiên thời đại, qua bao cuộc bãi bể nương dâu, ít bị suy suyển, trong xã hội lẫn lòng người.

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

Thành phố hoa phượng

Hẵng tạm gác sang một bên chuyện người ta đang thi nhau chặt cây phượng trong sân trường. Các cụ xưa bảo “con chim trúng đạn sợ làn cây cong”, một cây phượng đổ, thế là sợ, lôi tất cả đám phượng hồng ra chặt ráo củ tỉ. Đó cũng chỉ là một phần biểu hiện thứ tư duy xộc xệch ở xứ ta: không quản được thì cấm. Chỉ tội nghiệp cây phượng.

Nếu cần chép vào lịch sử thì có thể biên thế này: Năm Canh Tý, tháng Tân Tỵ, nhằm tháng 5 tây lịch 2020, mùa hè, chế độ cộng sản niên hiệu Nguyễn Phú Trọng năm thứ 5, cây phượng vốn do người Pháp đem sang An Nam trồng làm đẹp cảnh quan từ cuối thế kỷ 19, được tôn vinh thành biểu tượng mùa hè, kỷ niệm của tuổi học trò, sau hơn một thế kỷ vinh quang, đã bị “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” sau những nhát dao và đường cưa máy của nhà cai trị. Kể từ nay, sân trường chẳng còn sắc màu phượng đỏ, người ta sẽ trồng thay thế vào đó thứ cây gì, hoặc thậm chí có trồng hay không thì chưa biết.

Đã bảo gác, mà cũng tốn hơn 200 chữ, thế mới biết người đời dễ dao động không làm chủ được mình. Vậy chuyện thành phố hoa phượng ra ri?

Chả là, Hải Phòng, dân gian gọi tắt là Phòng, nơi được nhà thơ Nguyễn Dương Côn (người Thái Bình, quê của… Đường Nhuệ đang nổi tiếng) phác họa trong hai câu thơ dễ gây mất lòng: “Cái thành phố ăn nằm với biển/Đẻ ra những đứa con cần lao”. Suốt hàng mấy chục năm, hình ảnh của Phòng luôn là thành phố cần lao làm lụng vất vả cần cù. Bác Dương Côn kia nói chẳng sai tí nào. Nếu có ăn chơi, chỉ phổ biến kiểu áo bay mũ cối. Lẽ dĩ nhiên về sau cũng có những tai tiếng kiểu idol Phòng như Cu Nên, Dung Hà, Dương Tự Trọng, Đỗ Hữu Ca, nhưng cũng có những anh hùng như Đoàn Văn Vươn cống Rộc Tiên Lãng. Người Phòng lúc thế này khi thế khác, luôn xù xì đầu mấu sần sùi. Đẹp hay xấu còn tùy ở mắt nhìn.

Tút cuối về ngựa lùn

Sao lại cuối? Để thời gian đi rửa bát còn ý nghĩa hơn là quan tâm thứ ba vạ ấy.

- Ông đại tướng Tô Lâm trùm phú lít xứ này bảo rằng đội ngựa lùn đó sẽ được sử dụng vào các việc lớn như lễ tân nhà nước, nghi thức quốc gia, diễu binh diễu hành những dịp lễ trọng thể... Thôi, tôi can ông và các ông các bà. Thời nay là thời nào mà cứ muốn quay ngược về buổi hồng hoang cổ lỗ. Bệnh hình thức, hoang phí, vung tiền qua cửa sổ... nặng vừa vừa chứ, kẻo không đứa dân nào chịu được. Lưng thằng dân đã còng lắm rồi, cõng nặng lắm rồi, đừng vứt lên thêm rác rưởi gì nữa. Đó là chưa nói mấy con ngựa lùn ấy chỉ làm bẩn mắt chứ lễ tân trang trọng nghi thức nỗi gì.

Tôi đề nghị mấy ông bà cai trị xứ này tới một ngày nào đó hãy đi vào thực chất, đừng có bày vẽ rườm rà, hoa hòe hoa sói, màu mè sặc sỡ, cờ đèn kèn trống, băng rôn khẩu hiệu, nay lại thêm ngựa nghẽo, chỉ sướng mình, giải quyết được khâu sĩ khâu oai, nhưng làm khổ dân.

Cộng sản các ông mắc bệnh hình thức nặng nhất quả địa cầu này.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

Chuyện trồng cây (kỳ 2, cuối)

Nhớ láng máng hồi còn bé tí, nghe người nhớn nói cụ Hồ phát động Tết trồng cây. Khi ấy tôi chưa đi học, vài năm sau biết đọc báo thì rõ ra là vào cuối năm 1959, cụ kêu gọi mọi người bắt đầu từ Tết Canh Tý 1960 vừa đón xuân vừa trồng cây cho ích nước lợi nhà. Cụ bảo “Mùa xuân là tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Phải nói rằng, trong trăm nghìn điều mà cụ nói và làm, tôi ưa nhất việc này.

Trên báo Nhân Dân những số ra vào dịp tết luôn có tin tức và hình ảnh ông cụ đi nơi này nơi nọ, cùng ông thư ký Vũ Kỳ và vài người thân cận, xắn quần tới đầu gối, trồng những cái cây non bé xíu. Vẫn biết nhiều khi cụ đóng như thế để làm gương nhưng vẫn thấy quý mến. Những cái cây cụ Hồ trồng thường chỉ to bằng ngón tay cái, cao chừng 1 mét, so với cây các nhà lãnh đạo bây giờ trồng kỷ niệm có nhẽ chưa bằng cái cành nhỏ. Thực ra không cần cụ phát động, người dân vẫn trồng, thậm chí trồng quanh năm chứ chả đợi tới tết, chỉ có điều từ sau Tết Canh Tý mỗi dịp tết lại nô nức kéo nhau xẻng cuốc cây cối đào chỗ này bới chỗ nọ, băng cờ khẩu hiệu cũng vui vui.

Làng Trà Phương quê tôi (ở xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) hồi bắt đầu chiến tranh phá hoại lập ra hội phụ lão trồng cây hăng lắm. Chả là bộ đội tên lửa kéo quân về chiếm bãi tha ma Mả Đò để làm trận địa, mồ mả phải dời hết vào Mả Vối. Các chú đề nghị xã trồng giúp cây cối ngụy trang cho tên lửa, vậy là đội trồng cây các cụ ra đời. Nhà tôi cạnh đường thuận chỗ đi lại, nghỉ ngơi nên các cụ thường tụ họp. Tôi quanh quẩn ra vào, lúc đun siêu nước, lúc bê điếu bát cho các cụ dùng. Gọi là phụ lão nhưng các cụ chỉ ngoài 50. Phần lớn để râu trông oai phết. Đội trưởng là cụ Thạch xóm trong, các đội viên gồm thày tôi, cụ Thấn, cụ Mưu, cụ Thê, cụ Vình, cụ Khể, cụ Bài, cụ Bé, cụ Toán…, gần hai chục cụ. Hơn chục ụ tên lửa, các cụ trồng bạch đàn, phi lao, chuối kín đặc, xanh mướt, tên lửa được dắt phủ cành lá nằm giữa rừng cây thì bọn máy bay Mỹ chịu chết không tìm được. Ấy là tôi nghe các cụ bảo vậy, sau có nghe chú Cảnh thiếu úy sĩ quan điều khiển nói nhỏ bọn Mỹ nó có nhìn bằng mắt đâu mà che. Các cụ còn trồng cho xã một hàng dừa ven đường cặp bờ đầm chạy suốt từ ngã ba Ông Viên ra khu thành phủ cũ, hơn trăm cây dừa to cao lực lưỡng đẹp như thắng cảnh của làng. Tôi xa quê từ 1976, vài năm sau về thấy trống hơ trống hoác, chả hiểu vì sao người ta lại chặt bỏ, cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ.