Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2020

Sướng

Đọc câu của ông cụ lão tổng chủ (tối nghe trên tivi, sáng đọc trên báo): "Có lẽ chính vì vậy, Đại sứ EU tại Việt Nam đã cho rằng "Được ở lại Việt Nam thời dịch là một may mắn xa xỉ", sực nhớ hồi chiến tranh, trên đất Bắc người ta loan truyền câu nói tâm trạng của một bà nghe đâu dân Thụy Điển (nơi sướng nhất thế giới): "Chỉ ao ước sau đêm ngủ, sáng dậy thấy mình thành người Việt Nam".

Bà Thụy Điển sau này có tự chuyển hóa, tự diễn biến hòa bình thành người Việt Nam không thì chẳng ai rõ, chỉ có điều sau năm 1975 có mấy triệu người Việt không phải sau một đêm ngủ mà sau cả trăm đêm ngàn đêm vật lộn với cái chết trên biển khơi đã "may mắn xa xỉ" thành người xứ lạ.

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

Người trẻ

Hôm qua tôi coi tivi mậu dịch (ối giời ôi, chết cái nết không chừa thói nghiện tivi). Trong một cuộc trao đổi về công nghệ giữa cô MC và hai ông quản lý mảng 4.0, tự dưng thấy rất có cảm tình với một ông trẻ.
 
Anh này tôi còn nhớ láng máng tên Ngô Hải Phan, đóng hàm Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ). Mặc dù ai cũng biết những cuộc trao đổi thế đều có sự chuẩn bị trước nhưng rõ ràng với tất cả câu hỏi, kể cả những câu bất ngờ, đột xuất của MC, anh vụ trưởng trẻ đều trả lời rất cụ thể, lưu loát, có số liệu rất chi tiết... Tất cả đều nói vo, tự nhiên, không cần ngó giấy má chi hết.

Dĩ nhiên không phải cứ ăn nói giỏi thì là người giỏi. Trên đời, đầy ông bà thao thao bất tuyệt, nói năng như nước sông Hồng mùa lũ nhưng thực chất rỗng tuếch. Hôm kia, trong chương trình Cất cánh, có một ông lên ca rằng chúng ta đã thắng lợi vượt qua được thiên tai lũ lụt chưa từng có ở miền Trung. Lạ, thiên tai đến rồi đi, xảy ra rồi chấm dứt, nó có nằm ì ra đó cản trở ông đâu mà ông vượt với chả vượt, lại còn thắng lợi nữa. Đó là kiểu nói lấy được của hầu hết cán bộ trong bộ máy cầm quyền xứ này.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

Danh tiếng để làm gì?

Trên tivi, báo chí quốc doanh đang thông tin về vụ phá đường dây buôn lậu xe hơi từ Lào về An Nam. Chính các cơ quan truyền thông báo chí mậu dịch nói rất rõ những chiếc xe lậu, trong đó có nhiều xe hạng sang như Lexus, Camry, Mercedes... được mua với giá rất rẻ bên đó, sang xứ ta đem bán giá cao gấp nhiều lần, thậm chí cả chục lần.

Buôn lậu đương nhiên là phạm tội, là vi phạm pháp luật quốc gia, cần phải trừng trị. Nhưng từ vụ này phát lộ thực trạng rất đáng lên tiếng.

Thực trạng ấy là gì? Hầu như ai cũng biết, lâu nay hai xứ Miên (Campuchia), Ai Lao (Lào) đều bị coi là vùng ven, chậm tiến, nghèo nàn, lạc hậu so với An Nam, đất Việt. Không chỉ dân chúng mà cả cán bộ ta cũng nghĩ vậy. Còn các nhà cai trị, họ thừa biết hai ông em dại đã ruổi nhanh vượt cả thằng anh nhưng họ cố ý lờ thực tế ấy đi, vì nhiều lý do. Tuy nhiên, thời buổi công nghệ thông tin, lại cộng thêm giao thương, quan hệ, đi lại rộng mở dễ dàng nên chẳng thể bưng bít, giấu được mãi. Lào và Cam bề ngoài vẫn tỏ ra nhún nhường, tôn trọng ông anh đầu đàn Đông Dương nhưng thực tế họ đã vượt lên bỏ anh xa lại đằng sau. Cả về thể chế chính trị và đời sống họ đều đã trên một vài bậc. Người dân của họ dễ thở hơn, cuộc sống khấm khá hơn, giá cả hàng hóa rẻ hơn, ngay cả bộ máy cầm quyền cũng có vẻ ít tham nhũng hơn, ít phải chống, đốt lò hơn, ít khiến dân khó chịu bực bội. Họ (Cam, Lào) không tuyên bố "độc lập, tự do, hạnh phúc" nhưng dân chúng nước họ đã thực sự có độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không phải bánh vẽ.

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2020

Trong cái rủi vẫn còn cái may

Suốt nhiều tháng qua, người ta khuyên nhau có làm gì, đi đâu thì cố ráng chờ qua đại hội đảng đã, chờ họ đại hội đảng xong đã. Trên tivi, báo chí luôn ra rả tăng cường cảnh giác các thế lực thù địch chống phá đại hội đảng, tung tin thất thiệt, xuyên tạc về nhân sự đại hội; nghe ông Việt Cường của chương trình Đối diện trên tivi dẩu mỏ nói thì có cảm giác trời sập tới nơi rồi; các lực lượng chuyên chính như quân đội, công an, cảnh sát cơ động, thậm chí cả đặc công cũng được quán triệt phải bảo vệ đại hội để "thành công tốt đẹp"... Nói tóm lại, chỉ thấy rất bất an, đầy rẫy lo lắng.

Lại nghe họ khoe nhân dân hân hoan phấn khởi lập thành tích chào mừng đại hội, chào đón đại hội, có tới 93% được hỏi rất đồng tình với đảng về đủ mọi mặt, về đường lối chính sách. Cụ tổng chủ liên tục đăng đàn ca ngợi, khiến người nghe có cảm giác chưa đại hội nhưng đã tiến lên được chủ nghĩa xã hội rồi, cụ và các đồng chí của cụ lại còn vạch ra đến năm 2030 thì thế nào, 2045 thì ra sao, đạt hạnh phúc dễ như trở bàn tay, móc từ trong túi ra vậy. 

Đời tôi đã trải qua 10 cái đại hội của họ (từ đại hội 3 năm 1960) nên biết thế nào là thực chất, lúc đầu thì còn tin, sau niềm tin cạn dần, bây giờ thì mất sạch. 

Đảng nào cũng phải đại hội, đó là chuyện bình thường. Nhưng giá họ chỉ chọn người cho chính họ, cho đảng của họ thì chả có gì đáng nói, đằng này lại đòi chỉ định người lãnh đạo đất nước, nhân dân. Suốt bao tháng trời, cứ dấm dúi, ngấm ngầm, họp riêng, bàn kín, dân vẫn không biết ai sẽ là người lãnh đạo mình.

Nhiều lúc phải tự an ủi, thôi thì trong cái họa còn có cái phúc, trong sự rủi vẫn còn điều may. May phúc ở chỗ 5 năm họ mới mở đại hội một lần, chứ nếu mỗi năm lại rình rang đại hội, chắc dân chả làm ăn gì được, ngồi vỗ tay chào mừng với cái bụng đói.

Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2020

Gửi nhà văn quốc doanh (kỳ 4, cuối)

Một nước, một dân tộc không thể thiếu nền văn hóa. Văn học văn chương là cột trụ của nền văn hóa ấy. Nước Nam ta, bao đời nay theo dòng thời gian trôi đi, trôi mãi không ngừng, các sự kiện, vĩ nhân, anh hùng, dấu mốc lịch sử, khúc ngoặt khúc quanh dần chìm khuất, thậm chí mất hẳn sau lớp lớp sóng xô, nhưng văn chương tinh hoa vẫn tồn tại, còn mãi với đời. Người ta gọi đó là giá trị trường tồn.

Điều dễ nhận ra, những tác phẩm sinh nở từ cuộc sống hiện thực, phản chiếu bức tranh xã hội cụ thể, chứa những mảnh đời, thân phận, buồn vui trong chính thời đại mà người cầm bút sống, từng trải, chiêm nghiệm, mô tả, biên chép; những trang viết ròng ròng máu, mồ hôi, nước mắt, đầy tiếng khóc tiếng cười, thì thường thọ lâu bền hơn so với thứ văn chương hư cấu, tưởng tượng. Ngay cả Truyện Kiều, dù lấy cốt từ văn học lịch sử Tàu thì bức tranh xã hội mà cụ Tiên Điền mô tả vẫn là xã hội cụ đang sống, đang trôi từng ngày trong đời cụ, như chính cụ thổ lộ “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Đành rằng những tác phẩm hư cấu, tưởng tượng, không gắn với hiện thực đang tồn tại cũng có nhiều cái hay riêng của nó, nhất là điều được gọi là “giá trị nghệ thuật”, nhưng quả thật để tạo nên sự lay động lòng người, khiến người ta phải khóc cười thì văn chương phi hư cấu mới làm đầy đủ. Thứ văn ấy là văn trong sử, văn chứa sử, chứa bóng dáng thời đại qua mỗi chặng đường xã hội.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

Vén hỏa mù, tìm thủ phạm

Bây giờ thấy quan chức, báo chí lẫn dư luận xã hội cứ bàn qua bàn lại, đổ tới đổ lui trách nhiệm và cái sai của các đối tượng: nhà nước, chủ xe công nghệ Grab, người chạy xe Grab. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay, chẳng biết đường nào mà lần.

Nhưng có điều rõ nhất, dễ thấy nhất thì không ai bàn: người dân sử dụng dịch vụ vận chuyển bị thiệt, bị móc túi; phải trả thêm tiền cho cùng chuyến xe, cùng chặng đường so với trước. Nói túm lại, chỉ có người tiêu dùng - dân chúng, là thiệt. Cách gì cũng thiệt quyền lợi khi dính với nhà nước. Thế mà quan phụ mẫu luôn kêu gào 4.0, ưu tiên phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, hạ giá thành, vì dân cho dân...

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020

Thay thảm đỏ bằng bàn chông

Mấy quan lớn làm chính sách cho nhà nước, kể cả mấy ông bà chuyên về thuế, nên nhớ rằng giữa công ty taxi truyền thống và các doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ vận tải, với xe công nghệ 4.0 khác nhau nhiều lắm. Đừng lấy lý do công bằng để cào bằng, để áp thuế như nhau, trong đó có thuế giá trị gia tăng (còn có tên tây là VAT) và thuế thu nhập.

Xe công nghệ dù được tổ chức và quản lý bởi các nhà đầu tư (nước ngoài) nhưng thực chất là sự tham gia theo kiểu "nhà nước và nhân dân cùng làm", huy động được các nguồn lực kinh tế-xã hội chưa được khai thác, góp phần làm giảm sự căng thẳng về vận tải, và quan trọng nhất là tạo công ăn việc làm, đem lại thu nhập cho người nghèo, người thất nghiệp, người thu nhập thấp, các sinh viên học sinh đang đi học muốn tự kiếm tiền trang trải chi phí, gánh đỡ một phần vất vả cho cha mẹ. Grab hay các hãng xe công nghệ khác mấy năm nay đã làm được cái việc mà nhà nước làm quá kém, đã tạo công ăn việc làm và thu nhập cho những người bị nhà nước bỏ rơi.

Hãng xe công nghệ, nhất là những người lao động của nó, chính là thứ đối tượng chính sách cần được ưu tiên, cần có sự phân biệt chứ đừng cào bằng. Nếu họ đã có công ăn việc làm ổn định như tài xế xe khách, xe đò, taxi của những công ty lớn thì họ chả chạy xe công nghệ làm gì cho sinh kế phập phù. Cứ lấy ngay ví dụ cụ thể, đánh vào túi, móc túi những đứa sinh viên tranh thủ chạy xe ôm công nghệ để có tiền trả học phí thì quả thật chính phủ ác lắm, ác vô cùng.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

Sự nghiệp móc túi dân liệu có đời đời bền vững?

Từ hôm qua, 5.12 tây, các hãng xe công nghệ mà thời gian vừa rồi dân chúng rất ủng hộ và ưa thích (chỉ có chính phủ là không ưa thôi) đã buộc phải tăng giá, tức tiền phí sử dụng dịch vụ của họ. Đối tượng được nhắm đến là dân chúng, là người nghèo và cận nghèo (bởi nếu nhà khá giả thì đã có xe riêng, cán bộ thì đã có xe công của nhà nước), hay nói theo cách ngày xưa thì đó là bần nông và trung nông lớp dưới. Tức là móc túi dân, trấn lột người nghèo.
 
Đừng vội trút sự phẫn nộ lên các hãng xe công nghệ. Họ hoàn toàn không hề muốn làm vậy. Thậm chí họ còn có ý ngược lại, định ngày càng giảm giá tới mức có thể chấp nhận để 3 bên cùng có lợi: nhà đầu tư có lời, nhà nước thu được thuế, và quan trọng nhất là người dân được giảm chi phí dịch vụ khi đời sống còn nhiều khó khăn, đồng tiền kiếm ra ngày càng khó. Xã hội hạnh phúc không phải là thứ gì xa vời, lý luận suông chung chung, mà là đời sống dân chúng được dễ thở.

Thế thì sao lại tăng giá, lại công khai móc túi dân? Hãng công nghệ buộc phải làm thế bởi nhà nước, chính quyền bắt họ phải tăng. Nghị định 126/2020 của chính phủ ấn định tới ngày 5.12 phải móc túi dân, đố hãng nào dám chống. Làm ăn ở xứ này, không ngoan ngoãn trước nhà cai trị, chỉ còn nước bán xới đi ăn mày.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

Gửi nhà văn quốc doanh (kỳ 3)

Có người bảo, việc thế sự nóng hổi sao lại cứ đòi hỏi nhà văn lên tiếng, thế nhà báo để làm gì. Đành rằng các nhà báo có nhiệm vụ bám trận địa hằng ngày, từng tháng, từng năm, nhưng để lay động tâm can dân chúng, vẽ lên bức tranh xã hội một cách đầy đủ, có chiều sâu, tạo hiệu ứng mạnh mẽ quyết liệt thì cần có nhà văn. Không lẽ nhà văn chỉ ăn theo nhà báo, chỉ ngồi trong phòng văn ngó ngắm “bức tranh vân cẩu, (vẽ) con người tang thương”, mặc cho cuộc đời điên đảo.

Nhân nhắc chuyện Đồng Tâm, Thủ Thiêm trước sự dửng dưng vô cảm lạnh lùng của hội nhà văn quốc doanh, của phần đông hội viên mậu dịch, cũng cần phải nói thêm, nói rõ rằng không phải nhà văn nào cũng chui vào vỏ ốc an toàn bản thân như vậy. Có nhẽ nhiều người từng đọc loạt bài phóng sự có tên “Đất Thủ Thiêm” của nhà văn Võ Đắc Danh. Anh Danh nổi tiếng với nhiều cuộc lăn xả phanh phui những vụ tham nhũng, cướp đất, hiểu thấu nỗi đau của dân oan, của con người hiền lành lương thiện bị cướp đoạt trắng trợn nhà cửa ruộng vườn đất đai tài sản. Những trang văn của anh nóng rực về xã hội đen tối, tàn ác, đầy máu và nước mắt, đầy bi kịch kéo dài suốt mấy chục năm qua. Phóng sự “Đất Thủ Thiêm” của anh vừa là lời tố cáo, hạch tội, vừa là sự chia sẻ chân thành với các nạn nhân, đăng trên nhiều kênh thông tin “không chính thống”. Điều may mắn cho giới cầm bút văn chương nước nhà là người dân Thủ Thiêm vẫn nghĩ đang có nhà văn đứng về phía mình, bênh vực cho mình, chứ không biết đội ngũ quốc doanh và Võ Đắc Danh khác nhau nhiều lắm, dù cùng mác nhà văn.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020

Gửi nhà văn quốc doanh (kỳ 2)

Nói thêm chút nữa về vụ ông trưởng ban tuyên giáo tới đại hội chỉ đạo, định hướng, dạy dỗ nhà văn phải thế này thế khác. Nếu đảng không bỏ được thói quen, lối mòn, tư duy lãnh đạo về văn nghệ thế kỷ 21 vẫn giống thời Nhân văn giai phẩm, thì nhà văn cần tỏ thái độ. Ông Thưởng hay ông gì gì đi nữa đăng đàn thuyết giáo cho bà con nông dân hoặc mấy chú chạy xe ôm ít chữ thì cứ tạm coi hợp đi, chứ với giới cầm bút thấy vênh quá. Sáng tác văn chương là thứ lao động đặc thù, không phải cứ có bằng cao cấp chính trị Nguyễn Ái Quốc là tới nói văng mạng được. Thiết nghĩ, nhà văn, dù là nhà văn quốc doanh, mậu dịch viên văn nghệ, cần biểu hiện dứt khoát trước những long trọng viên kiểu này. Các hội đoàn khác chả biết thế nào, chứ hội nhà văn nên có tiếng nói. Đừng để kéo dài “cái quay búng sẵn trên trời/mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”.

Hồi tôi đi học, từ cấp 2 tới về sau, luôn được nghe thầy cô giáo và các nhà lý luận văn nghệ khẳng định chắc nịch “nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại”, “nhà văn là người chép sử bằng hình tượng nghệ thuật”. Chúng tôi tin vào tín điều ấy khi đọc những Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Tố Hữu…, rồi cả Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận… (tác phẩm của những vị này dân chúng phải tìm và đọc lén, bởi bị nhà cai trị cấm một cách rất vô duyên). Nếu họ không mô tả, không lao vào cuộc sống, thì hậu sinh, thậm chí cả những người đương thời, sẽ chả biết cuộc sống tồn tại thế nào, thời đại đã quằn quại đau đớn ra sao, thân phận con người là thứ gì trong thời buổi hỗn loạn. Đọc tác phẩm của họ, người đọc biết chắc rằng các nhà văn nhà thơ, những “thư ký trung thành của thời đại”, những nhà “chép sử bằng hình tượng nghệ thuật” ấy đã sống hết mình với cuộc sống đương thời. Họ là nhà văn tử tế, có trách nhiệm với con người và cuộc đời, nhà văn đúng nghĩa. Sau này, trong cuộc nội chiến Bắc - Nam, cũng vẫn có những nhà văn đúng nghĩa như vậy, tôi lấy hai vị Phạm Tiến Duật, Nguyên Ngọc làm ví dụ.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Đổ thừa

Trong nam gọi là đổ thừa, còn ngoài bắc dùng từ đổ vạ. Tức là, biết rằng không phải thế nhưng cứ mồm miệng hàng tôm hàng cá nói lấy được, đổ tại lý do này lý do nọ chứ không phải tại mình.

Lâu nay, nhiều thế hệ cai trị cầm quyền ở xứ An Nam này, được sự xung kích tiên phong của các nhà lý luận (nước ta, thiếu gì thì thiếu, chứ lý luận bao giờ cũng thừa, sung mãn) hay nhắc tới từ “cấm vận”. Mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, nghèo đói, lạc hậu, chậm phát triển, lè phè lạch bạch, thậm chí cả bất công, xáo trộn, bất ổn, họ cứ đổ tất cho “bị cấm vận”. Cấm vận trở thành cái thùng rác mang nhãn hiệu chính quyền, được lấy ra để đổ thừa cho thế lực thù địch, đồng thời che giấu những dở hơi, yếu kém, ngu dốt, bảo thủ, thất bại của nhà cai trị.

Sơ qua chữ nghĩa một chút. Cấm nghĩa là không cho phép, không cho làm (điều gì đó). Cấm cung là nơi vua ở, không cho những người khác tự tiện vào nếu vua chưa cho phép. Ngay cả quan thượng thư, tể tướng, quan đầu triều, hễ vua chưa vời cũng không được tự ý vào. Vua đang ngủ cũng phải đứng ngoài cấm môn (cửa cấm, không cho qua) mà chờ. Cấm địa là đất không cho ai qua lại. Nhiều trụ sở công an thời nay tự biến khu vực của mình thành cấm địa, hễ ai đi đường ngang qua chỗ đó mà vô tình dừng lại (nghe điện thoại chẳng hạn) thì có ngay anh lính tới đuổi như đuổi tà, ngoài ra còn công khai giăng biển báo cấm chụp ảnh, cứ như bên trong chứa kho vàng không bằng. Cấm dục là hạn chế tình dục. Chả hạn hai ông nào đó nói với nhau mày ạ tao bị bị bà xã nó cấm vận, rồi than thở biết sống làm sao đây.

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020

Gửi nhà văn quốc doanh

Người xưa từng cẩn thận dạy đám hậu sinh, bằng cách nói hình tượng hay đáo để, rằng “con chim trúng “đạn” (tiễn, tên) sợ làn cây cong”. Thời bây giờ, nhìn cái gì cũng giống cánh cung. Nhà cháu cứ tiếp thu, không bổ ngang thì bổ dọc.

Chả là bữa trước, trúng ngày khai mạc hội văn bút quốc gia hoành tráng ở đê La Thành, quả nhân (người ít đức) đưa cái tút đụng chạm, thế là bị mắng tới tấp, kiểu như ông có chê cả làng vũ đại thì cũng phải trừ ABC ra chứ. Vậy nên lần này nhà cháu chỉ quan tâm tới mấy nhà văn quốc doanh, nhân viên văn mậu dịch thôi, kẻo những người có mác văn sĩ lại động lòng. Nói cho vuông, đâu phải cứ nhà văn là… xấu, như ta vẫn rỉ tai nhau, đảng viên cũng có ối người tốt. Ông em rể tôi, dù bị kết nạp đảng từ lúc chưa hiểu mấy về đảng, giờ đã hơn 40 tuổi đảng (rất kinh), nhưng công nhận tốt cực kỳ. Nhà văn cũng thế, tôi chơi, quen với nhiều người văn, già có trẻ có, biết và hiểu họ, văn lẫn người, thấy họ tốt lắm. Mà ngay cả văn sĩ thi sĩ quốc doanh vẫn không ít người tử tế đàng hoàng. Ông Nguyễn Việt Chiến thi sĩ ở thủ đô là một ví dụ. Ông em Nguyễn Một, bà chị Nguyễn Thị Ngọc Hải trong Sài thành là ví dụ nữa. Hôm trước, có may mắn gặp, trò chuyện, thậm chí còn liều bá vai bá cổ chụp ảnh chung với hai lão tướng Nguyễn Đông Thức, Lê Văn Nghĩa, về nhà ngẫm nghĩ mãi, sao các vị nổi tiếng tài hoa giỏi giang mà đức độ hiền lành khiêm tốn dễ chịu thế nhỉ. Tự cấu lên trán nhủ thầm, mình mà có cái danh của hai đấng bậc ấy lại chả một tấc đến giời.

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020

Thành ngữ mới ‘Mặt nghệt như mất sổ gạo’ (kỳ 2)

Như đã biên ở bài trước, một trong những sự tệ hại nhất của chế độ bao cấp mà nhà nước cộng sản áp dụng là chính sách bao cấp lương thực. Những ai sống ở miền Bắc sau năm 1954 và miền Nam sau tháng 4.1975 đều biết rõ chuyện này. Biết rõ bởi không phải được nghe nói, mà chính bản thân trải qua, cuộc đời mình giống như mà ca thử nghiệm trong phòng thí nghiệm của chế độ. May mà nó (chế độ bao cấp lương thực ấy) chấm dứt vào đầu thập niên 1990.

Nông thôn miền Bắc sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi chưa kịp ổn định thì rơi vào cơn bão mới. Cái tâm trạng mà thi sĩ Vũ Cao thể hiện trong bài thơ “Núi Đôi”: “Anh nghe có tiếng người qua chợ/Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều/Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc/Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu” chả kéo dài được bao nhiêu. Trận cuồng phong mới có tên mỹ miều hợp tác xã, hay còn gọi là hợp tác hóa nông nghiệp. Gia đình nông dân nghèo, nhất là bần cố nông, vừa được cách mạng chia vài sào ruộng trong đợt cải cái ruộng đất đẫm máu (1953 - 1957) chưa kịp làm chủ thì tới năm 1959 bị nhà nước gợi ý góp hết ruộng đất vào tổ đổi công, giống như bước thăm dò phản ứng của dân chúng.

Có nhẽ do nóng vội tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện sản xuất lớn, bắt chước Liên Xô, Trung Quốc biến nông thôn thành nông trường, thành công xã nên tới năm 1960 thì miền Bắc tiến hành hợp tác hóa ồ ạt. Tất cả ruộng đất, trâu bò đều bị sung công, hiến cho hợp tác xã. Nông dân trở thành xã viên, làm ruộng theo giờ giấc quy định, “nghe tiếng kẻng reo vui thấy chân trời mở rộng”, được tính công điểm, căn cứ vào công điểm ấy mà người ta chia cho thóc, khoai, rơm rạ...

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2020

Một kiểu khốn nạn

Ngày xưa, vào cái thời mà người cộng sản gọi là chế độ phong kiến thối nát, những ông vua được coi đấng minh quân thường tự vi hành để trực tiếp xem xét nắm bắt cuộc sống thực của dân chúng, từ đó mà có những quyết sách ích nước lợi dân.

Tôi đề nghị, thực ra là yêu cầu, mấy ông bà trụ cột triều đình cộng sản hiện nay, cụ thể là ông chủ tịch nước, ông thủ tướng, bà chủ tịch quốc hội hãy tạm dẹp việc bàn nhân sự của các ông bà lại, sau đó cải trang, đội mũ đeo râu, thêm tí son phấn cho nó khác đi, rồi mò ra sân bay Tân Sơn Nhất bắt xe, để coi cái đám bầy tôi của các ông các bà hành dân như thế nào. Bản thân mỗi ông bà hãy cõng chiếc va li hoặc khệ nệ xách túi hành lý leo lên tầng 4 tầng 5 nóng bức chật chội để tự mình trải nghiệm xem nào. Xe đưa xe rước mãi rồi, bụi không dính gót giày, nay thử làm dân một lần cho biết.

Xin nhớ rằng, cán bộ làm gì cũng phải đặt quyền lợi của dân chúng lên trên hết, vậy mà chúng chỉ cốt nhẹ cho chúng, còn đổ hết gánh nặng nề vất vả khổ sở cho dân. Chúng khoe thực hiện phân làn tạo được làn đường thông thoáng vắng vẻ, nhưng vắng thế để làm gì khi người dân phải chen chúc, vất vả, tốn kém, mang vác bồng bế cực khổ trăm bề. Người dân còn nghèo, họ có quyền chọn thứ dịch vụ phải trả ít tiền nhất, sao lại vì thế mà để chúng bắt chẹt họ, lấy thứ quyền hành mà chính dân đã buộc phải trao cho chúng nhằm hại lại dân.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Cái nào ra cái đó

Nói theo kiểu triết học An Nam (thì vừa lập viện Triết đấy thây), không biết mà cứ nói thì không có trí, biết mà không dám nói thì không có dũng.

Nhà cháu cả trí lẫn dũng đều mỏng nhưng được cái nói thẳng nói thật.

Rất nhiều người đã nhầm lẫn hoặc cố ý nhầm lẫn một cách không thuyết phục khi nêu bài thơ của ông chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng lần ổng về thăm trường cũ. Lại còn nhấn vào các chi tiết lớp 10B, anh cả, cánh diều, v.v.., lại còn chê về thăm thầy mà dám xưng anh cả đỏ...

Thế là không công bằng. Cần nhớ rằng bài được gọi là thơ ấy ổng viết từ cách nay năm 1962 (theo như đương sự tự khai), tức là đã cách nay 58 năm, không liên quan gì tới anh cả đỏ, tới sách cánh diều, tới thái độ đối với thầy cô. Tôi kiểm tra trên bản tin của TTXVN thấy viết rõ như vậy. Nhưng TTXVN cũng không thể tin được (mà báo chí mậu dịch thì có cái nào đáng tin), nhỡ ra nó viết chính xác, sau đó nghe dư luận ì xèo nó vội sửa lại thì sao, bèn nghe lại đoạn clip video thì đúng là tác giả bài "thơ" bảo viết hồi lớp 10, làm báo tường.

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2020

Một kiểu có đuôi man rợ

Kể từ hôm 14.11 tây vừa rồi, đám quản lý ga sân bay Tân Sơn Nhất đã chính thức áp dụng quy định do chúng đặt ra, và tất nhiên được các cấp liên quan như Tổng công ty Cảng hàng không VN (ACV), Sở GTVT TP.HCM, Cục Hàng không, Bộ GTVT, thậm chí cả chính phủ, phê duyệt đồng ý. Quy định rằng xe nào được vào chỗ nào để đón khách, trong lãnh địa có tên chữ là cảng hàng không Tân Sơn Nhất.

Điều thấy rất rõ, các quan sân bay lấy lý do đảm bảo an toàn, giảm ùn ứ ùn tắc xe cộ trong khu vực các làn đường trước sảnh nhà ga nên chấn chỉnh lại. Lâu nay, nhà chức việc xứ này làm điều gì mà chả có lý do chính đáng, vì nọ vì kia. Điều họ cố ỉm đi không nói ra: vì chính họ và vì túi tiền, từ cái thói lăng loàn, độc quyền, ích kỷ, coi thường dân chúng của họ.

Sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như rất nhiều cơ sở vật chất hạ tầng ở nước này, là tài sản quốc gia, công cộng, của chung toàn dân, của cộng đồng chứ không phải riêng ai. Chính người dân đã đổ máu, “anh gục xuống đường băng Tân Sơn Nhất”, đã còng lưng đóng thuế nộp vào ngân sách để có sân bay, để củng cố cho nó tồn tại. Nó được giao cho đơn vị này nọ, người này người kia chỉ để họ quản lý, duy trì sự hoạt động phục vụ đất nước, xã hội, dân chúng, chứ không phải bị biến thành của riêng, độc quyền, muốn làm gì thì làm, dùng thế nào thì dùng, biến nó thành công cụ hành dân. Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

Thành ngữ ‘Mặt nghệt như mất sổ gạo’

Chưa cần liếc gì thêm, chỉ đọc mấy chữ đó, nhiều người nghĩ ngay tới thời bao cấp, ngẫm lại đến giờ đầu óc còn khiếp; nhớ mở rộng chút nữa là thời tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, tiến mãi không tới nơi; thu hẹp một chút thì là cuộc sống kinh tế và xã hội miền Nam sau biến cố “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” năm Ất Mão, 1975 tháng 4.

Các cụ xưa thường dạy “ôn cố tri tân”, nghĩa là nhắc lại, xem lại (ôn) cái cũ để biết (tri) cái mới. Thú thực, có những thứ cũ, quên đi càng tốt, quên nhanh, quên được bao nhiêu hay bấy nhiêu, bởi mỗi lần gợi nhớ, mỗi lần ôn lại chỉ tổ rùng mình. Không ít lần, tôi tự hỏi tại sao bản thân và nhiều người như mình, thế hệ mình lại sống được trong cái vũng lầy lịch sử ấy, mà không bị chết bởi đói, bởi khốn cùng, bế tắc, tuyệt vọng, liều mình như biết bao người. Nếu chiến tranh bom đạn chết chóc từng giây xô đẩy người ta vào cùng đường đã đi một nhẽ, đằng này ngay cả khi hòa bình, cuộc sống tự do, đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh… nó vẫn vênh váo ngự trị. Nó được gọi bằng cái tên “thời bao cấp”, trong chứa đựng đủ cả nghèo đói, bất công, khốn khổ, lầm than. Và cha đẻ của nó, không phải ai khác, chính là người cộng sản, bên thắng cuộc.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Lời tựa, tựa đề, nhan đề

Cần nói ngay, góp ý này không chỉ dành cho các nhà báo mà với rất nhiều “nhà”, trong đó có cả những người được xếp vào diện có học, kiến thức cao, thầy cô giáo, sinh viên, thậm chí cả quan chức văn hóa.

Sẽ có ai đó bảo ông tự cho mình là gì mà dám đụng vào những đấng bậc, thứ hạng cao như vậy. Đành phải thú thực rằng tôi chả là gì sất, chỉ thường dân như biết bao người quanh ta, tuy nhiên thấy cái sai thì góp ý, còn đối tượng có tiếp nhận được hay không lại là chuyện khác.

Đọc trên báo, nghe trên tivi, đôi lúc nghe trò chuyện đâu đó, thấy người ta gọi tên cuốn sách, bộ phim, vở kịch, hoặc một tác phẩm văn học bằng từ “tựa đề”. Ví dụ: tựa đề “Số đỏ”, tựa đề “Áo lụa Hà Đông”, tựa đề “Đường Sơn đại huynh”…

Biết đâu có người lý sự rằng ngôn ngữ luôn vận động, phát triển, biến đổi qua thời gian, nơi này gọi thế này, nơi kia gọi thế khác, ngoài bắc khác, trong nam khác, bắt bẻ nhau làm gì. Nếu nói thế thì tôi xin chịu bởi biết cãi cũng không lại... bê tông. Tôi chỉ góp ý với những “nhà” chuyên sử dụng tiếng Việt thôi.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

Vĩnh vẽ phía sau màu (tiếp)

Phần 2: Cuộc hòa hợp xóa nhòa ngăn cách

Nói thêm về 2 lần đàn đúm ở nhà anh Nguyễn Khắc Nhượng và anh Lê Hải. Dĩ nhiên Vĩnh trẻ nhất đám nhưng lại như cục nam châm hút mạnh nhất. Đận nhà Lê Hải đông hơn, có thêm anh Lê Nguyễn (dịch giả), anh Lê Học Lãnh Vân, nhà thơ Lý Đợi... Không gian thật ấm cúng thân tình, xung quanh là tranh, trên bàn bày rượu. Chứng kiến cuộc vui là những Hữu Loan, Trịnh Công Sơn, Văn Cao, Phùng Quán, Tô Thùy Yên… ngự trên tường. Và không chỉ ngắm tranh Vĩnh, còn được nghe chàng hát. Thật lạ, tuổi chưa vào ngưỡng 4 (sinh năm 1986) sao tài hoa thế, hiểu nhiều hiểu sâu thế. Những ngón tay kia tưởng chỉ quen cầm cọ chạy trên phím ghi ta thật điêu luyện. Vĩnh thuộc rất nhiều bài của miền Nam trước 1975, thậm chí những bài có từ khi đất nước mới chia cắt. Vĩnh hát “Chuyến đò vĩ tuyến” của Lam Phương nghe lặng người, buồn não nề, rồi cả Ngô Thụy Miên, Trúc Phương, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy… Có cảm tưởng trước mặt không phải chàng họa sĩ trẻ mà một ca sĩ lãng tử, ẩn dật, chỉ khi lòng thôi thúc lắm mới cất lên giai điệu chất chứa tự bao giờ.

Nhẩm lại cái địa chỉ triển lãm Vọng, tôi ruổi hết con đường Ngô Thời Nhiệm quận 3, tới tận đầu đường. Có nhẽ những người được giao trách nhiệm đặt tên đường ở đất Sài Gòn nên điều chỉnh lại cho đúng tên danh nhân Ngô Thì Nhậm. Triều Nguyễn bắt thiên hạ phải kiêng húy, né tránh hai tiếng Thì và (Hồng) Nhậm (tên vua Tự Đức hồi nhỏ) thành Thời và Nhiệm. Lẽ nào suốt bao năm, những cái đầu bác học của chính quyền mới lại cứ duy trì mãi tên gọi Ngô Thời Nhiệm một cách vô trách nhiệm như vậy.

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2020

Vĩnh vẽ phía sau màu

Mấy bữa ni miền Trung mưa bão liên miên. Sài Gòn phương nam vẫn nắng ráo nhưng ngại bước ra ngoài. Biết đâu ông giời nghĩ lại, cân đối thiên tai cho công bằng, đổ vài trận mưa ngập đường ngập sá lại chẳng vất vả bì bõm ư. Chiều, nhận được tin nhắn của Vĩnh, anh à, nếu anh rảnh ghé triển lãm Vọng, tối nay, 6 giờ, tại Mai House đầu đường Ngô Thời Nhiệm, anh nhé.

Bận bịu là thế, y còn nhớ tới mình. Tổ chức triển lãm ghi dấu một chặng đường nghệ thuật, quy mô không nhỏ, cực tốn kém, phải để mắt tới từng li từng tí, đâu phải chuyện chơi. Nhưng Vĩnh trẻ, sức trẻ ngông cuồng, mọi thứ cứ băng băng. Lại được sự giúp đỡ tận tình từ bạn bè, từ các đàn anh tri kỷ, nhất là Lý Đợi và Lê Hải, cuộc trưng bày Vọng, theo lời người dự mà tôi nghe lỏm được, trên cả tuyệt vời. Tôi định ghé tai Vĩnh thì thầm, kiểu như người ta hay nói về các đại hội đảng, rằng Vọng ngay từ phút mở màn đã “thành công tốt đẹp”, nhưng rụt lưỡi kịp, bởi dùng cái câu thành ngữ sáo mòn ấy dễ bị sái cho gia chủ.

Tôi gặp Vĩnh lần đầu tại nhà đàn anh Nguyễn Khắc Nhượng. Cụ Nhượng (bọn đầu bò chúng tôi hay lếu láo gọi thân mật anh bằng cụ) là sếp trực tiếp của tôi hồi còn làm báo TN. Hôm í, nhân cơ hội vàng bà xã đi vắng sang chơi với cháu nội, cụ có mấy món đặc sản miền Trung người nhà vừa đem vô, rượu ngon hơi bị sẵn, liền thổi còi triệu tập vài anh em thân tín. Tôi tham ăn, nhanh nhảu tới sớm nhất. Một lát sau là Lê Hải, nhìn thoáng là nhận ra ngay bởi đã… nhẵn mặt trên phây búc. Kẻ cuối cùng là cậu thanh niên da ngăm đen, lún phún tí ria mép, mặt chữ điền can trường quắc thước, giọng trọ trẹ vùng ngoài, ôm một hộp giấy dẹp rõ to. Tôi ngượng nghịu bắt tay chào (tính tôi vốn thế, cứ gặp người lạ, dù đàn ông hay đàn bà, nhất là người trẻ, là ngượng nghịu lúng túng), cụ Nhượng giới thiệu đây là Thông, còn đây là Vĩnh, họa sĩ Trần Thế Vĩnh. Mọi ngăn cách được xóa bỏ thật dễ dàng.

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2020

Thành ngữ mới: Thành công tốt đẹp

Con người ta, phàm làm việc gì luôn muốn đạt kết quả theo ý mình. Việc lớn việc nhỏ đều vậy. Cái kết quả ấy được gọi là thành công. 

Thành công là từ gốc Hán Việt. Thành có nghĩa xong, kết thúc. Thành tựu là xong việc (tựu), hoàn thành là xong xuôi trọn vẹn (hoàn). Công nghĩa là việc, công cụ là đồ dùng (cụ) để làm việc, công hiệu để chỉ kết quả (hiệu) của việc làm. Thành công, hiểu ngắn gọn và chính xác, tức là một công việc được làm, được tiến hành có kết quả như ý. Kết quả đầy đủ, trọn vẹn thì được coi là thành công tốt đẹp.

Đối lập với thành là bại (thua, hư, hỏng). Bại trận là thua trận, bại tướng là tướng thua trận, bại vong có nghĩa không chỉ bị thua mà còn mất, chết (vong). Văn cổ có câu “bại liễu tàn hoa”, tức cây liễu đã héo, đóa hoa cũng tàn. Cô gái đẹp ngày xưa được ví với cây liễu, bông hoa, vì vậy bại liễu tàn hoa để chỉ đời người con gái gặp sự không may, ê chề, đời bỏ đi, những cô ca kỹ - lầu xanh. Người ta cũng thường nói với nhau thành bại là sự thường, có khi thành, có khi bại, chớ lấy thành bại mà luận anh hùng. Chả ai có thể thành công cả đời, cũng như không ai cả đời thất bại. Đó là thứ quy luật, lẽ tự nhiên, vấn đề ở chỗ có dám nhìn thẳng vào nó hay không.

Người xưa suy nghĩ về thành bại rất tỉnh, rõ ràng, hiểu cơ trời và ý chí con người. Đạt được thành công, cổ nhân không nông cạn vơ tất cả về mình. Cụ Nguyễn Trãi kết bài “Cáo bình Ngô” bằng lời rất đáng suy ngẫm “Muôn thuở nền thái bình vững chắc/Nghìn thu vết nhục nhã sạch làu/Âu cũng là nhờ trời đất tổ tông linh thiêng âm thầm phù trợ mới được như vậy”.

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2020

Giáo dục loạn sứ quân

Hôm 23.10, báo chí ồn ào thông tin vụ Tổng liên đoàn Lao động cách chức hiệu trưởng Trường đại học Tôn Đức Thắng của ông Lê Vinh Danh. Đây là cái kết đã được báo trước, với sự toa rập của các thế lực đang nắm quyền. Nhiều tờ báo mậu dịch cũng hả hê với kết quả này bởi không nịnh chính quyền thì nịnh ai.

Sự đúng sai của vụ việc có khi phải mất nhiều thời gian, thậm chí vài chục năm, mới rõ ràng. Xứ này đã quá nhiều chuyện nay đúng mai sai, nay được tung hô, mai bị dập vùi, nay chịu xử tệ, mai lên đài vinh quang. Đó là biểu hiện của thời loạn, không có chân lý, chỉ có bạo quyền.

Điều tôi muốn nói liên quan tới vụ “trường Tôn Đức Thắng” là về sự tồn tại phi lý trong giáo dục đã kéo dài quá lâu, chung quy cũng bởi quyền và tiền, chứ không phải cho mục đích giáo dục.

Trong một chế độ, một nhà nước pháp quyền, mỗi lĩnh vực đều có cơ quan trung ương được lập ra để làm nhiệm vụ tổ chức, quản lý, điều phối, nắm mọi hoạt động, chịu trách nhiệm trước chính phủ. Về y tế có bộ y tế, về xây dựng có bộ xây dựng, về giao thông có bộ giao thông, về pháp luật thì bộ tư pháp, về quan hệ với nước ngoài thì bộ ngoại giao, về giáo dục có bộ giáo dục…

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020

Nghị định còng số 8

Một số ông bà quan chức, đại biểu quốc hội, lãnh đạo mặt trận hoặc hội chữ thập đỏ... cứ loanh qua loanh quanh, không nhìn thẳng vào sự thật. Họ nói lấy được, như xưa nay đội ngũ của họ vẫn làm thế.

Họ biết là không thể phủ nhận những hoạt động từ thiện cứu trợ rất đáng ca ngợi của cô Thủy Tiên (họa có là kẻ khùng mới làm vậy) nhưng lại không dám vạch ra sự lỗi thời, vô lý, bất nhân của cái nghị định 64/2008. Họ sợ mất lòng nhà cai trị, hay nói đúng hơn họ sợ mất cái ghế của mình. Đám ấy lý sự cùn bảo rằng trường hợp Thủy Tiên nằm ngoài quy định của nghị định.

Xin các ông bà quan chức đọc lại điều 5 của nó xem nào. Đây này:

"Điều 5. Các tổ chức, đơn vị được tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ.
1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; cơ quan thông tin đại chúng của Trung ương, địa phương; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ các cấp ở địa phương.

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2020

Nhân tai

Ghét thủy điện (bởi nó gây không ít tai họa cho xứ này), không có nghĩa ghét bỏ cả những người đi cứu dân lao động làm thủy điện đang gặp nạn.

Lúc thiên tai địch họa, mạng người tính bằng phút bằng giờ, treo đầu sợi tóc, đừng đòi hỏi người đi cứu phải có kinh nghiệm, chuyên nghiệp, dù rằng nếu có vẫn tốt hơn.

Cũng đừng lấn bấn nghĩ tướng, chủ tịch huyện mà vào đó làm gì. Nếu không vào, sẽ bị nhận ngay nhiều lấn bấn khiếp gấp bội: Tại sao tướng không vào, cán bộ to không vào, lại chỉ để lính xông vào chỗ chết, v.v..

Thôi thì thiên hạ chín người mười ý, nhưng qua vụ 13 nhà chức việc (11 sĩ quan quân đội, trong đó có cả tướng phó tư lệnh; cả chủ tịch huyện) hy sinh thương tâm khi thi hành công vụ (nhân đây tôi cũng góp ý với T.Ư đoàn rằng, tặng huy hiệu "Tuổi trẻ dũng cảm" thì cứ tặng, nhưng đừng nêu cái lý do "lập công xuất sắc", ở đây chỉ có chết tang thương chứ không kịp lập công quả gì mà xuất với chả sắc, đang ngủ mà lập công với ai), phát lộ rõ ra điều cực kỳ đáng buồn:

-Chưa bao giờ con người thiếu lòng tin vào con người (nhất là người nhà nước) thê thảm như bây giờ, thiếu sự trân trọng điều tốt đẹp như bây giờ.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

Chuyện đi học đầu đời

Nhân thế gian đang um xùm vụ học lớp 1, sực nhớ ngày xưa cũ.

Hồi xưa ở miền Bắc, lứa sinh từ giữa thập niên 50 trở về sau tới thập niên 70, trước khi vào lớp 1 (hệ 10 năm theo kiểu Liên Xô) đều phải mất 1 năm tới lớp hẳn hoi để vỡ vạc chữ quốc ngữ (tiếng Việt). Khóa đào tạo đặc biệt ấy được gọi là lớp vỡ lòng. Ông anh họ tôi vốn hiệu trưởng trường cấp 1 xã, đùa bảo là lớp vỡ thình, ví như con chim non suốt tháng đầu được bố mẹ bón ăn, tới khi vỡ bọng cứt (thình là cái bọng cứt) thì mới có thể ra ràng bay khỏi tổ được. Nửa năm đầu học vần (tên gọi vỡ lòng), nửa năm cuối học viết chữ (tập chép).

Gõ đầu bọn trẻ ranh là thứ việc cực kỳ vất vả. Chúng là loại đối tượng rắn mày rắn mặt, còn khó dạy hơn cả thế lực thù địch bây giờ. Đứa nào đứa nấy mắt đầy dử (trong Nam gọi là ghèn), mũi thường trực thò lò hai dòng xanh lè, chốc đầu tinh những gầu và chấy, hay đánh gãy bút chì, uống nước lã thành thần, có đứa còn lén giấu khoai sống đem vào lớp ăn. Ngủ gật hơn cả đại biểu quốc hội. Trốn học như ranh. Gần như không đứa nào tử tế, mà dính đầy phốt, thậm chí quá nhiều tiền án tiền sự (đánh nhau, vặt trộm ổi táo nhà người ta, ném nhãn đình, tuốt đòng đòng ruộng hợp tác, mải chơi để trâu ăn mạ, đi rình ngó trộm các đôi trai gái ngắm trăng bên bờ cừ…).

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

Tự chủ đại học

Ở xứ này, đã thành thứ lệ ngầm, khi “người ta” nói cái gì, chỉ cần hiểu ngược lại sẽ có kết quả đúng. Chẳng hạn họ nói dân chủ gấp ngàn lần, sống và làm việc theo pháp luật, tự do báo chí, quyền của người dân được tôn trọng, nói công cuộc chống tham nhũng ngày càng thắng lợi, người dân tuyệt đối tin yêu đảng, v.v.., cứ hiểu theo cách ấy, chả cần phải lăn tăn nghi ngờ gì.

Chuyện họ rao giảng về tự chủ đại học, có nhẽ cũng nên nhìn như vậy. Nói tự chủ mà không phải tự chủ, thế vẫn là tự chủ. Triết học An Nam quẩn quanh tù mù khiến thiên hạ chả biết đâu mà lần.

Các ông các bà ấy, ý tôi muốn chỉ các đương sự, từ bộ chính trị, trung ương, chính phủ, bộ học tới các trường… gần đây luôn ra rả về tự chủ đại học. Sau bao năm trói chặt, thực hiện cơ chế bao cấp ngành giáo dục nói chung, đại học nói riêng, họ làm như đã phát kiến, khám phá ra chân trời mới, hô hào phải tự chủ đại học, cởi trói cho đại học, đưa đại học lên tầm cao mới. Tuy nhiên họ chỉ nói nhưng không làm, nếu có thí điểm một chút thì, như lão hàng xóm nhà tôi nhận xét, vừa đéo vừa run. Cái tâm thức, thói quen lệ thuộc, sợ sự đổi thay (không biết đổi thì sẽ như thế nào) bám chặt vào bộ não khô cứng rồi, dễ gì mà dám tự chủ, cởi trói.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

Quốc pháp

Tỉnh ủy Tuyên Quang, nhất là ông bí thư tỉnh, và những đảng bộ địa phương nào khác đã và đang có ý định may đồ vía, "áo quan" cho các đại biểu dự đại hội đảng (cứ nghe đến đại hội đảng là đã sởn gai ốc rồi) cần thành khẩn khai báo đã đôn giá lên bao nhiêu phần trăm, tham nhũng chiếm đoạt bao nhiêu tiền. Cả vụ 11 chữ ở Hòa Bình nữa. Cả vụ cặp da ở Quảng Bình, vụ bình tài lộc ở Quảng Trị, vụ quà ở Hà Tĩnh...

Cứ hình dung mà coi, trên mạng, cụ thể là trên phây búc này, những nhà may nổi tiếng (như một địa chỉ có tên OMEN chẳng hạn) mời mọc khách may nguyên bộ complet thật xịn, vải ngoại cực tốt, may cực đẹp, giá hàng trao tay chỉ 990.000 đồng (tức chưa đầy 1 triệu), lại tặng thêm chiếc cravate xịn nữa. Còn giá "áo quan" của Tuyên Quang những hơn 6 triệu, thế thì chúng ăn trắng trợn còn gì mà chẳng chửi.

Công an cần vào cuộc điều tra những vụ tham nhũng trắng trợn như thế, chứ đừng để dư luận, báo chí (như tờ báo Một Thế Giới chẳng hạn) phát hiện, phanh phui, lên tiếng, rồi để họ lí nhí vài câu này nọ là xong. Quốc pháp đâu phải chỉ đem xử đám dân đen ăn cắp con vịt, cái bánh mì, chiếc mũ, mà chính phải đem áp dụng với bọn tham nhũng này.

Đảng và đảng viên cũng chỉ là một bộ phận của xã hội, đừng coi đó là vương quốc riêng, bất khả xâm phạm, đóng cửa trong nhà bảo nhau. Phải bình đẳng trước pháp luật. Khi đã coi quốc pháp có khe hở thì dân sẽ chẳng xem quốc pháp là cái đinh gì nữa.

Nguyễn Thông

Nền giáo dục thụt lùi

Thỉnh thoảng dư luận xã hội lại rộ lên những chuyện về giáo dục, đủ mọi buồn vui, nhiều điều cười ra nước mắt. Nào quan chức quản lý giáo dục chẳng khác chi bụt đất, lúng ta lúng túng trong chiếc áo cơ chế, không có cách nào đột phá, thay đổi được những trì trệ hủ bại đã tồn tại suốt mấy chục năm. Nào trường không ra trường, lớp chả ra lớp, thầy chẳng ra thầy, trò cũng không ra trò. Nào thi cử lằng nhằng tốn công tốn của mà tiêu cực vẫn hoàn tiêu cực. Nào chương trình lạc hậu, sách giáo khoa độc quyền bòn rút túi tiền dân, giáo sư tiến sĩ giấy nhiều như lợn con vẫn chẳng nên cơm cháo gì… Bao nhiêu thứ xám xịt bôi lem bôi luốc bộ mặt giáo dục nước nhà, kéo dài hơn nửa thế kỷ.

Đôi khi ta nghe chút ai đó ngậm ngùi khi so sánh nền giáo dục của chế độ này với giáo dục thời thuộc Pháp hoặc thời Việt Nam cộng hòa. Cũng khó nói bởi “không có cái gì là toàn vẹn”, nhưng phải thừa nhận giáo dục cộng sản thua kém rất nhiều, nhất là so với thời Pháp. Nền giáo dục vốn bị cộng sản coi là thực dân, vong bản, mất gốc ấy đã tạo nên những cột mốc tày tặn, giá trị vững chắc cho đất nước này, mà không biết đến bao giờ mới lập lại được. Học vấn của những người ngồi trường Pháp, có nhẽ chả cần bàn cãi nhiều. Nền tảng đạo đức được tạo dựng ở mỗi con người, cũng không cần bàn. Tôi chỉ đưa ra một tiểu tiết để thấy cách giáo dục thời Pháp rất tuyệt vời: tất cả những ai học trường của nhà nước khi ấy, dù ở bất cứ đâu trên đất Việt, đều giỏi cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, và độc đáo nhất là chữ viết đều rất đẹp, giống nhau y đúc, bất kể do thầy nào dạy. Tôi cam đoan, nền giáo dục bây giờ, với những ông trùm như ông Nhân ông Nhạ, thì một tỉ năm nữa cũng không thể làm được “tiểu tiết” ấy.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

Ghét và thương

Cụ Nguyễn Đình Chiểu từng viết “Ghét đời U Lệ đa đoan/Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần/Ghét đời Ngũ bá phân vân/Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn”.

Tình trạng tham nhũng trong xã hội, xét cho cùng do chính bộ máy cai trị, cầm quyền. Đó là tầng lớp cán bộ hư hỏng, đặt cái tôi ích kỷ lên trên tất cả. Dân và nước không là gì đối với chúng. Đáng buồn ở chỗ loại này hơi bị nhiều, càng ngày càng nhiều, chống không xuể.

Đành rằng nước nào chẳng có tham nhũng, thời nào chẳng có tham nhũng, nhưng tham nhũng thành quốc nạn, thành dịch như ở xứ ta và bên Tàu thì ít nơi có. Để cả bộ máy cầm quyền hư hỏng thối nát như thế, trách nhiệm thuộc về “đảng lãnh đạo toàn diện”. Dân đâu có quyền, mà dân cũng chả có điều kiện tham nhũng. Chỉ những người mơ hồ, nhẹ dạ mới khen công cuộc chống tham nhũng của thể chế. Đúng ra phải lên án, rằng tại sao lại sinh ra những kẻ khốn nạn như vậy. Chúng là con đẻ của thế chế chính trị, đẻ ra quái thai mà lại còn được khen là sao.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2020

Ông bình vôi

Sinh thời, cụ Phan Khôi là người cương trực, thấy gì không nên không phải, trái tai gai mắt, cụ phê thẳng thừng. Chứng kiến đám quan chức, lãnh đạo ăn hại, chỉ ồn ào màu mè nhưng rỗng tuếch, cụ gọi họ là ông bình vôi. Cụ viết “Nhà tôi, hồi bà nội tôi còn sống, có cái bình vôi hạng sang ấy. Mỗi khi mua vôi ở chợ về, bà tôi ngồi tỉ mỉ lấy cái chìa quệt vôi nhét vào miệng nó, gọi là “cho Ông Bình ăn”. Và lâu lâu lại tắp thêm vào cái miệng nó một lần, hóa nên cái miệng càng ngày càng chêu vêu ra… Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cú rũ trên trang hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng “Ông”. (Giai phẩm mùa thu, 1956). Thực ra, cụm từ “ông bình vôi” này bắt nguồn từ nhà thơ Lê Đạt, một trong những yếu nhân của Nhân văn giai phẩm. Thi sĩ bực bội mà rằng “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi/Y như một cái bình vôi/Càng sống càng tồi/Càng sống càng bé lại”.

Mấy ngày qua, chứng kiến quá nhiều ông bình vôi, không thể không theo gương tiền nhân, cụ Phan và ông Lê, mà nói đôi nhời.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng (kỳ 6, cuối)

Súng trường CKC, K44, sau này cả súng tiểu liên AK47 ngoài phần bắn đều có chỗ lắp lưỡi lê. Tùy mỗi loại súng mà có lưỡi lê khác nhau. Lưỡi lê của K44 dài và nhọn như cái dùi có cạnh, cứng bén vô cùng. Tôi có lần đâm thử vào gốc cây dầu ở cổng trường Dự bị đại học trong phiên trực đêm cuối tháng 2.1979 sau khi xảy ra Trung Quốc tấn công biên giới phía bắc. Thầy hiệu trưởng đi họp về bảo phải tăng cường cảnh giác bởi trường ta đóng trên địa bàn phường 9 quận 5, nơi tập trung đông người Hoa nhất. Mỗi thầy giáo trong đội tự vệ được phát một khẩu K44. Thử lưỡi lê, cắm sâu tít vào thân cây, loay hoay mãi mới rút ra được. Như đã kể, khẩu súng ấy, với kẹp đạn rời 12 viên, tôi đem về căn hộ tự bảo quản, đến tối lại vác xuống đi rảo một vòng trong sân ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh, kể ra có nó cũng yên tâm.

Sẽ có lúc lịch sử tỉnh táo và khách quan nhìn nhận, đánh giá lại “sự nghiệp chống Mỹ cứu nước”, giải phóng miền Nam. Điều thấy rõ nhất là suốt thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70, lũ lượt trai tráng cả triệu lượt người từ Bắc kéo vào Nam để “giải phóng 14 triệu đồng bào miền Nam rên xiết dưới ách đè nén áp bức của Mỹ ngụy”, và gần như không có đoàn quân nào từ trong Nam ngược ra giải phóng miền Bắc cứu đồng bào miền Bắc đang bị tiến lên CNXH. Miền Bắc cấp người, còn súng đạn đã có 12 nước anh em phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, lo cho. Không nói ra thì ai cũng rõ, phe “thiên đường” này quyết đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng, cũng là một kiểu “Việt Nam hóa chiến tranh”, chứ đâu phải chỉ có tổng thống Mỹ R.Nixon chủ trương như thế.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng (kỳ 5)

Nói tới súng, nhất là súng trường, những người đã sống thời chiến tranh, dù trôi qua gần nửa thế kỷ, vẫn còn nhiều ám ảnh. Lứa thiếu nhi miền Bắc chúng tôi hồi thập niên 60 biết khẩu súng trường qua cả thực tế lẫn văn chương, sách trích giảng văn học. Ông Tố Hữu làm thơ ca ngợi các dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Hòa, Kpa Klơng, cao chưa bằng khẩu súng, nhưng “tay em một khẩu súng trường/mà như có cả quê hương đánh cùng”, bởi “tuổi mười bốn những ước ao/buổi đầu cầm súng biết bao là mừng…/súng này càng đánh càng hay/một tay em chấp mười tay quân thù”. Ngay cả đứa bé tí, theo mẹ đi chợ xuân, “mẹ mua cho bức tranh màu/yêu súng hơn bé chỉ lắc đầu/a, mẹ ơi cái súng xinh xinh/súng cầm tay bé bước nhanh nhanh”… Cứ như thế, đám chúng tôi chỉ say súng, chả cần biết giời đất. Nếu ai hỏi lớn lên ước mơ gì, phần lớn chỉ giả nhời được cầm súng.

Tôi đã từng quản một khẩu K44 hơn chục năm. Lại nhớ khu ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh cuối thập niên 70, đầu 80. Nó được chia làm 2 khu, phía ngoài, mặt tiền đường lúc đầu thuộc trường Dự bị đại học, vài năm sau bàn giao cho Bộ Đại học và THCN. Phía trong là khu tập thể giáo viên công nhân viên của trường. Chung nhà ăn, chung sân, chung lối đi lại, chung cổng. Hôm tôi mới nhận phòng ở, cuối tháng 4.1977, tức là 2 năm sau ngày “giải phóng” vẫn thấy dưới sân chất đầy những thứ mà bộ đội quân quản phá bỏ, như giường tủ bàn ghế, chưa được dọn. Không được dùng, phải bàn giao thì phá thôi. Tòa nhà vốn là khách sạn, trước tháng 4.1975 cho sĩ quan Đại Hàn thuê, nên gọi là khách sạn Đại Hàn, nằm trên đường Trần Hoàng Quân, với 2 hàng cây dầu (họ cây sao) thẳng tắp cao vút. Ông này là đại tá quân đội VNCH tử trận, được chính quyền đặt tên đường. Chính quyền mới thay bằng tên một võ quan khác, cao hơn hẳn, cho biết thế nào là tầm cỡ cách mạng, đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Đề nghị một cách nghiêm túc, chứ không đùa

Trên quả địa cầu này, chỉ trừ Vatican, còn nước nào cũng có đảng chính trị cầm quyền. Đảng càng tử tế, dân và nước càng được nhờ cậy.

Suốt cả năm nay, ở nước này, ngoài cuộc mưu sinh miếng cơm manh áo bắt buộc, người ta đã dành quá nhiều thời gian, sức lực, vật chất, tinh thần vào việc tổ chức đại hội đảng. Dù nó chỉ là một đoàn thể, một lực lượng chính trị nhưng nó đã làm cả xã hội bận bịu, tốn kém, mất thì giờ.

Tôi nhận thấy, không có thể chế nào thích họp hành như thể chế của những người cộng sản. Những năm 1920, nhà thơ cộng sản nổi tiếng V.Maiacovski của nước cộng sản khởi thủy Liên Xô (nay chỉ còn cái bóng) cũng phải thừa nhận cộng sản là “những người loạn họp”. Không ở trong chăn sao biết chăn có rận.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim (kỳ 3)

Chuyện kể rằng khi làm phim “Vợ chồng A Phủ”, đạo diễn Mai Lộc mời nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết nhạc. Ông Thương lúc này đã khá nổi tiếng trong làng nhạc, nhất là bài “Bình Trị Thiên khói lửa” thời chống Pháp. Trong nhạc tiền chiến (tức trước cuộc chiến 9 năm, 1945 - 1954), dòng nhạc mà cách mạng quy kết là ủy mị, tiểu tư sản trụy lạc, ông có vài bài được yêu thích, như “Đêm đông”. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, bài “Đêm đông” bị cấm tiệt, người ta chỉ dám hát lén với nhau. Có nghe truyền tai, chính ông Thương cũng không dám nhắc lại đứa con tinh thần ấy bởi sợ ảnh hưởng tới đường công danh.

Mà chả phải chỉ riêng nhạc sĩ Thương, tình trạng đó rất phổ biến trong giới văn nghệ. Ông Hoài Thanh trút hết cả tinh hoa để có cuốn “Thi nhân Việt Nam” (một cuốn sách chân dung, phê bình văn học, theo tôi cho tới nay chưa cuốn nào qua mặt được), vậy nhưng hồi 9 năm phải công khai lên tiếng từ bỏ nó. Những ông Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Phạm Văn Khoa, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi… đều na ná vậy. Miệng thì nói “nhận đường”, “cuộc hồi sinh kỳ diệu” (Chế Lan Viên), “cuộc lột xác rớm máu” (Nguyễn Tuân), “hôm nay học hết kỳ chỉnh đảng/thấy bốn phương ánh sáng lùa vào” (Xuân Diệu) nhưng có nhẽ cũng cay đắng lắm.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Hai ông Phương

Giữa trưa nay, bão số 5 đã nhạt dần thành áp thấp nhiệt đới, dù nó chỉ thọc vào miền Trung làm gẫy đổ cơ man cột điện, cây cối, tốc bao nhiêu mái nhà, nhưng cũng lan ra gây mưa gần khắp cả nước. Khi tôi đang lách cách mấy chữ này, Sài Gòn u ám sụt sùi suốt, định có tí việc chạy ra ngoài mà đành chịu. Thấy đứa cháu gọi vào bảo ở ngoải cũng mưa. Hà Nội đang tắm mưa, và chuyển lạnh. Tiết trọng thu sao cứ buồn buồn. Lật giở mấy trang báo điện tử, có cái tin buồn, nhạc sĩ Phó Đức Phương vừa mất. Trưa 19.9 tây lịch, tức mùng 3 tháng 8, mùa thu Canh Tý 2020.

Thế hệ sinh giữa thập niên 50 chúng tôi hầu như ai cũng biết tên tuổi hai ông Phương. Thực ra thì biết nhiều ông Phương lắm. 

Có ông Trần Phương trợ lý cho ông Lê Duẩn, làm tới phó thủ tướng thời bao cấp, đồng tác giả của “đặc sản” giá lương tiền. Những năm ấy có câu đồng dao “Thằng Phương thằng Truyến thằng Quỳnh/Ba đứa đồng tình bóp cổ nhân dân”. Truyến là ông Đoàn Trọng Truyến, Quỳnh là ông Trần Quỳnh. Tinh những đệ tử của ông Lê Duẩn nghìn nến. Ông Trần Phương còn được biết tới khi ông có cuốn sách tự kể chuyện đi tìm mộ người em gái họ Vũ bị quân Pháp giết hồi kháng chiến 9 năm (thực ra ông Phương họ Vũ chứ không phải họ Trần). Thế giới tâm linh, thần giao cách cảm, ly kỳ và éo le phết.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Tăng trưởng âm

Vốn biết thời nay việc sử dụng ẩu tả tiếng Việt đã như thứ bệnh mạn tính (lưu ý mạn chứ không phải mãn, tức là bệnh càng ngày càng nặng), nhất là ở các nhà báo (phóng viên, biên tập viên), đáng nhẽ kệ họ bởi có nói ra cũng chả chữa được, nhưng không nói thì lại thương tiếng Việt, giữ sự ấm ức trong lòng.

Nếu thỉnh thoảng coi tivi hoặc đọc báo mậu dịch, mọi người sẽ thấy họ (nhà báo) nói và viết rằng “nền kinh tế tăng trưởng âm”. Chả đâu xa, hôm qua tôi nghe trên tivi mậu dịch VTV1 nó ra rả mấy lần về tăng trưởng âm của kinh tế nhiều nước do đại dịch vi rút Vũ Hán (tôi cứ nói toẹt ra là vi rút Vũ Hán chứ không uốn éo nịnh Tàu như tay tổng giám đốc WHO). Còn trên báo thì đầy. Bác nào muốn biết, chỉ cần vào gu gồ (Google) gõ 3 chữ “tăng trưởng âm” thì ra ngay. Tinh báo tiếng Việt quốc doanh mậu dịch.

Tôi chẳng biết họ lôi từ đâu, dịch từ đâu ra cái cụm từ ấy. Chỉ biết là sai toét.

Đã nói tới tăng trưởng thì chỉ nhấn tới sự đi lên, phát triển, đạt được thành tựu, càng về sau càng mạnh hơn trước. “Tăng” nghĩa là thêm, thêm lên. Tăng tiến là thêm vào và hướng về phía trước. “Trưởng” là phát triển, trở nên vững mạnh.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2020

Súng nào chẳng là súng, nhưng cần biết phân biệt (kỳ 4)

Những năm đầu chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc, hầu như già trẻ lớn bé quân dân chính đảng ai cũng biết chuyện các cụ lão dân quân xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh dùng súng bộ binh bắn rơi tàu bay Mỹ. Cứ tạm lược bỏ những tô vẽ thêm, những huyền thoại được người ta gắn kết thêm vào để cho rực rỡ thì việc ấy là có thật.

Nói ai cũng biết bởi sau khi sự việc xảy ra, báo chí và đài tiếng nói Việt Nam phát liên tục những bài ca ngợi, đến nỗi đám trẻ con nhỉnh hơn chục tuổi chúng tôi ở tít tận Hải Phòng cũng nắm rõ mồn một. Cụ Hồ gửi thư khen, báo chí ca ngợi, văn nghệ sĩ chụp ảnh, sáng tác bài hát. Cái loa kim vỏ gỗ màu xanh da trời to bằng cục gạch treo trên tường phát liên tục bài “Hát mừng các cụ dân quân” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nghe riết cũng thuộc làu.

Chả là xã Hoằng Trường nằm gần cửa Lạch Trường chảy ra biển. Chỗ này bọn tàu bay Mỹ thường lợi dụng bay tầm thấp để tránh bị phát hiện, tới đất liền mới vọt lên vào thả bom. Các cụ nhà ta thành lập hẳn trung đội lão dân quân (hồi ấy chỉ ngoài 50 đã được lên lão), trang bị súng 12 ly 7 và súng trường K44, CKC trèo lên mỏm núi chờ. Mấy thằng Mỹ khờ chủ quan, mắc mưu các cụ, ngày 14.10.1967 bị các cụ xơi tái một chiếc F4 phản lực hiện đại (còn có tên Con ma), 10 ngày sau bắn góp vào với bộ đội cao xạ hạ thêm chiếc cánh quạt khu trục AD6 nữa. Cả nước sướng, nhất là xứ Thanh.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

Già và trẻ

Phàm đã là người lãnh đạo, thế nào cũng nói nhiều. Càng làm to càng nói nhiều, tới mức lải nhải điếc tai.

Chả riêng gì xứ An Nam ta, đâu đâu cũng thế.

Các ông bà ấy, nhất là mấy cụ cộng sản, lúc nào cũng ra rả đề cao tuổi trẻ, tuổi thanh niên sôi nổi, tuổi trẻ là tương lai đất nước, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội... Chỉ thiếu điều họ bảo tuổi trẻ là giời, thánh thần phật tiên.

Theo họ, tuổi trẻ làm được đủ mọi thứ, nhưng chỉ không được làm lãnh đạo, bởi non, yếu, không có kinh nghiệm, thiếu chín chắn, và đặc biệt thiếu thứ quan trọng nhất là... tuổi già.

Cứ phục vụ cống hiến cho tốt đi, bao giờ già, cho làm lãnh đạo.

Chuyện giếng làng (kỳ 2)

Làng Trà Phương (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) quê tôi những năm xa ngái ấy, thập niên 1960 - 1970. Nói nhại câu thơ của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm, khi ta lớn lên cái giếng đã có rồi.

Trong từ Hán Việt có chữ “hương”, nghĩa là làng, quê. Lại có chữ “thôn” cũng có nghĩa là làng (lâu nay nhiều người cứ tưởng thôn là từ thuần Việt). Nói làng Trà Phương hay thôn Trà Phương đều chung một nghĩa. Câu thơ “Ngày mai về lại thôn hương”, tức là về làng, về quê. Khi từ “hương” để chỉ quê thì nghĩa của nó khá rộng, vượt ngoài phạm vi một làng, một thôn. Đồng hương là những người cùng quê, có khi quê là tỉnh, huyện, xã. Hội đồng hương Kiến Thụy (là của người cùng một huyện), hội đồng hương Hải Phòng (cùng một thành phố). Hồi hương là về quê. “Cố hương”, một truyện ngắn nổi tiếng của Lỗ Tấn viết về quê cũ (cố) qua ký ức đứa trẻ thơ. Hương quan là cái cổng làng. Người không sống ở quê gọi là tha hương. Tha có nghĩa là người khác, tha hương là quê người khác. Sống tha hương là sống quê người khác chứ không phải quê mình. Cũng không ít người nhầm chữ tha, tưởng đó là tha thẩn, lang thang. Bên Tàu đất rộng, một hương (thôn, làng) của nó tương đương với một huyện bên ta, một huyện bằng vài tỉnh ở ta, một tỉnh có khi bằng cả nước ta, tỉnh Tứ Xuyên chẳng hạn, rộng 485.000 cây số vuông, gần gấp đôi VN. Trưởng thôn của nó quyền hành ngang với chủ tịch huyện xứ ta. Tôi có ông bạn người bên Thủy Nguyên, ở xã Tân Dương, tên Đào Gia Thiệp, đầu thập niên 80 đang học dở nghề thầy giáo bỏ học về quê làm trưởng thôn. Tôi cũng có ông cháu họ làm trưởng thôn Trà 2 khóa liền, do dân tín nhiệm bầu trực tiếp (chứ không hình thức bầu lấy được kiểu quốc hội chả biết đâu mà lần). Gặp nhau, tôi bảo với hai tay trưởng thôn ấy, các ông oai không kém gì chủ tịch huyện, nếu ở bên Tàu. Bọn hắn cứ ngớ ra.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

Người chép sử bặt đi đâu cả

Nước An Nam ta, cứ thiên hạ thế giới có cái gì thì ta cũng có thứ ấy, thậm chí còn nhiều hơn, dù chả để mần chi.

Hồi xưa, mỗi triều đại chỉ cần vài người có nhiệm vụ chép sử, gọi là thái sử công. Mọi điều xảy ra đều được biên ghi lại một cách trung thực. Không có thế lực nào, ngay cả vua, cấm được họ, bắt họ chép sai. Sử đã chép được coi là thứ thiêng liêng, vua cũng không được sửa, chứ nói gì đám cá cậy vây, cua cậy càng.

Thời Chiến Quốc, thái sử Bá chép việc Thôi Trữ giết vua, bị họ Thôi chém ngay. Hai em của Bá là thái sử Trọng, thái sử Thúc tiếp tục chép đúng như thế đều lần lượt bị chém. Người em út là thái sử Quý nối tiếp (bởi bắt buộc phải có người chép sử, không thề bỏ trống) lại biên y sì như vậy. Thôi Trữ quát ngươi không sợ chết à, Quý trả lời chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận để mà sống thì chẳng thà chết còn hơn. Thôi Trữ đành chịu thua, không phải là thua Quý mà thua người chép sử, thua bản chất của lịch sử.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Ngu dân

Thời thuộc Pháp, phe cách mạng thường tuyên truyền bọn thực dân rất thâm độc, chúng thi hành chính sách ngu dân khiến con người mất trí, cam chịu, chấp nhận sự đè nén. Để thực hiện ngu dân có kết quả, bọn đế quốc sài lang ấy ngăn cản sự học hành mở mang đầu óc, bưng bít thông tin, tăng cường trấn áp đe dọa, thậm chí dùng đến cả thuốc phiện, rượu, tôn giáo, lối sống trụy lạc… Tức là cứ có thứ gì xấu là nhét hết vào tay nó, quy cho nó gây tội ác. Mày đã thế, thì ông kêu gọi dân chúng làm cách mạng quật mày xuống, cướp chính quyền, cho chừa cái thói ngạo nghễ, ngu dân đi, Pháp ạ.

Cụ Nguyễn Trãi xưa bảo “Phúc chu thủy tín dân do thủy”, lật thuyền thì mới biết sức dân mạnh như sức nước. Nâng được thuyền, hay lật đắm thuyền, đều do dân vậy, “tải chu, phúc chu giả, dân dã”. Nhưng chứng kiến ách thống trị của bọn Pháp kéo dài, cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu phải chua chát thốt lên rằng “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn/Cho nên chúng nó dễ làm quan”.

Súng nào mà chẳng là súng nhưng cần biết phân biệt (kỳ 3)

Một số vị, có nhẽ từng lăn lộn đời nhà binh, kiến thức quân sự đầy mình thủng thẳng nhắc tôi, bảo ông biết gì về súng đạn mà viết. Vâng, tôi chưa trải qua nghiệp lính nhưng sống suốt thời chinh chiến, súng đạn to nhỏ đùng đoàng đinh tai nhức óc, mắt nhìn súng, tai nghe tiếng súng, tay rờ nhiều thứ súng, chứng kiến cả con người chết bởi súng, nên cứ biết tới đâu biên tới đấy thôi. Có gì sai, không nên không phải, chỉ mong nhận sự góp ý phê bình.

Hôm trước nói tới đâu rồi nhỉ. Chuyện dân quân xã tôi (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng) tháng 11.1967 trực chiến trên đỉnh núi Chè, dùng súng trường góp đạn vào việc bắn rơi một chiếc tàu bay AD6 lặc lè bom bay ngang qua. Thấy ông Nam lùn trung đội phó dân quân còn kể ngồi trên đỉnh núi ngó rõ mồn một thằng phi công trong buồng lái. Bắn rơi máy bay hiện đại của Mỹ bằng súng trường, như chuyện thần thoại. AD6 vốn là loại máy bay ném bom phổ biến hồi những năm đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc. Chính tướng phi công Nguyễn Cao Kỳ cũng từng cưỡi một chiếc AD6 bay ra thả bom xuống thị xã Đồng Hới (Quảng Bình) bị trúng đạn cao xạ sém chết, may mò về lại được sân bay Nước Mặn (Đà Nẵng). Chả biết hồi thập niên 90 ông ta được mời về nước để hòa giải hòa hợp dân tộc, có ai nhắc lại với ổng chuyện này.

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Tuyên giáo

Nếu muốn biết bộ mặt thật của Ban Tuyên giáo và tòa án xứ này, cứ đọc đoạn chỉ đạo báo chí truyền thông từ đám tuyên giáo thì rõ.

Tôi nói thật, loại như Võ Văn Thưởng tôi không chỉ khinh mà không coi là người. Thế mà cũng có những người há hốc mồm ra ngồi nghe y cao giọng dạy dỗ này nọ. Tôi thách y có giỏi thì công khai lên tivi tranh luận, mỗi bên được hỏi nhau 10 câu xem trả lời như thế nào.

Những ai còn lú lẫn, mơ hồ tin vào báo chí tivi loa đài mậu dịch thì nên xem xét lại. Cả luật pháp xã hội chủ nghĩa nữa, cũng cần mổ xẻ luôn. Dân chúng đã tốn cơm nuôi một lũ khốn.

Dưới đây là chỉ đạo của y về vụ xử Đồng Tâm khi tòa chưa xử.

Ở mục 1.8 (trang 3), văn bản chỉ đạo của Ban Tuyên giáo trung ương (trích nguyên văn):

Chuyện giếng làng

Hôm trước về quê, Nguyễn mỗ tranh thủ lúc chưa có lệnh cách ly tại chỗ, xách xe chạy lên núi Trà thăm cảnh cũ. Chỉ cảnh cũ thôi chứ không có “người xưa” bởi khi xa ấy còn thò lò mũi xanh. Núi Trà Phương không khác gì cái kho chứa cả thế giới tuổi thơ của tất tật trẻ con trong làng.

Kiến Thụy đất Hải Phòng là huyện ven biển thuần nông, sông trôi lờ lững, ruộng đồng xanh ngắt, chả hiểu sao tự dưng thò lên hai quả núi. Giá cứ như vùng Thủy Nguyên, Đá Bạch, Tràng Kênh nối vào với Đông Triều, Quảng Yên, hoặc lùi xuống Đồ Sơn, Cát Bà, Cát Hải đã đi một nhẽ. Núi có mạch, sông phải theo dòng. Đằng này, đang phẳng đang lặng, vụt lên hai ngọn đá tách ra riêng rẽ, như thách thức không gian. Núi Chè ngự trên đất làng Trà Phương nên còn gọi núi Trà, còn núi Đối hộ khẩu thường trú bên làng Đối, tên chữ là làng Xuân La, nơi có di tích Văn miếu nổi tiếng vùng duyên hải. Ông anh Vũ Lệnh Năng đồng môn người Cốc Liễn đang làm “Miếu trưởng” Văn miếu Xuân La, còn cô giáo Phạm Thị Dừa học giỏi văn khét tiếng đất Phòng có thời đóng chức hiệu phó trường cấp 3 chuyên Trần Phú, nhà chỉ cách văn miếu vài chục bước chân. Hơi văn thấm vào từng tế bào các vị ấy. Mấy chục năm nay, chính quyền và nhân dân đã trồng cây bạch đàn phủ xanh hai rặng đá Chè - Đối, ngắm thật mát mắt.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim (kỳ 2)

Kỳ 1 đã nói rồi, đó là phim “Vợ chồng A Phủ” của đạo diễn Mai Lộc, các vai chính A Phủ và Mỵ do Trần Phương, Đức Hoàn đóng, phim đen trắng, chiếu rộng rãi năm 1961, tới năm 1973 được giải Bông sen bạc. Nhắc lại như thế để ai chưa đọc phần đầu dễ hình dung.

Điều cốt lõi làm nên thành công của phim này là tác phẩm cùng tên, truyện vừa “Vợ chồng A Phủ” của “đại văn thụ” Tô Hoài. Chính cụ Tô là người chuyển thể sang kịch bản phim, và giời ạ, cũng là người viết lời cho bản nhạc “Bài ca trên núi” trong phim. Có lần tôi gặp chị con gái cụ vào công tác trong Sài Gòn, chị Nguyễn Sông Thao, bảo chị ạ, ông cụ nhà chị đúng là thứ núi Thái Sơn trong văn chương xứ này. Chị Thao cười bảo thì vưỡn. Tôi lại lí nhí thế mà chị chả kế thừa được cụ tí nào, chị lườm cho một phát tưởng rách mắt, hì hì.

Hồi đầu thập niên 60, chả hiểu ai cho hay mua, tủ sách cỏn con nhà tôi có cuốn “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài, gồm 3 truyện vừa: Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ, Cứu đất cứu mường. Truyện nào cũng hay. Không hiểu sao, chẳng riêng gì Tô Hoài, các cụ thời ấy lại tài, viết nhanh và hay đến thế. Còn nhớ cái bìa sách vẽ hoa văn hình cái cây vuông vuông, kiểu trang trí của người Thái Tây Bắc. Đọc nát cả ra, tới mức phải lấy cơm dán chằng dán đụp. Sau không biết nó bị chuyền tới fan nào của Tô Hoài rồi mất hút. Giờ mà còn, đem bán cho cô Sông Thao để bày trong cái nhà lưu niệm cụ thân sinh chắc được ối tiền.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2020

Gieo gió gặt bão

1. Tiệc và máu

Thấy người ta đang hớn hở tổ chức đại hội đảng và mở phiên tòa xử những người dân giữ đất ở Đồng Tâm, tôi lại nhớ tới chuyện cụ Đoàn Phú Tứ, thế hệ tôi hầu như ai cũng biết.

Thời kháng chiến chống Pháp, năm 1950, đại biểu quốc hội, nhà thơ Đoàn Phú Tứ được đại tá Trần Dụ Châu cục trưởng Cục Quân nhu (tương đương trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần bây giờ) mời dự đám cưới do đích thân Châu tổ chức cho đàn em. Một đám cưới xa hoa chưa từng có.

Trong tiệc cưới, cụ Tứ khi được mời đọc thơ đã hiên ngang chửi thẳng vào mặt Châu và đồng bọn: "Bữa tiệc mà chúng ta sắp chén đẫy hôm nay/Được dọn bằng máu xương chiến sĩ".

(Nói thêm: Sau đó, Trần Dụ Châu bị tử hình. Y là kẻ tham nhũng đầu tiên của chế độ này bị ra tòa, mở đường cho dòng cán bộ tham nhũng càng ngày càng đông đảo. Có nhẽ đám cán bộ đảng viên tham nhũng cần phải lập miếu thờ Châu là ông tổ của cộng sản tham nhũng.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng nhưng cần biết phân biệt (kỳ 2)

Còn có cả chuyện chị Nguyễn Thị Chiên du kích Thái Bình, thèm súng lắm nhưng chưa tìm được cơ hội. Bài học lớp 2 viết rằng “Hôm ấy giặc đi càn đông. Chị Chiên cùng trung đội du kích đã phục sẵn. Tên quan ba Pháp lò dò đi vào trận địa. Bắn nó thì lộ, bọn giặc có thể bao vây lại ta. Chị xông ra, nhanh như cắt, chạy sát tới nó giật khẩu tiểu liên chĩa vào nó bắt hàng…”. Sách giáo khoa cứ rủ rỉ kể như vậy, đám chúng tôi sướng quá, nức nở khen tài thật, tài thật. Tất nhiên tên quan hai Pháp phải đầu hàng, còn chị Chiên sau này được phong anh hùng, nữ anh hùng đầu tiên của xứ ta thời hiện đại, đợt phong anh hùng đầu tiên của chính quyền cách mạng, năm 1952, cùng với Nguyễn Quốc Trị, Cù Chính Lan, La Văn Cầu (đánh nhau), Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh (lao động). Thời bao cấp thập niên 80 sống khó quá, nghe kể bà Chiên bung ra làm ăn, nổi tiếng với việc nuôi chó cảnh Nhật, bán lời lắm. Bà Chiên mất năm 2016.

Nhắc tới súng trường, tôi đã từng nhìn tận mắt những khẩu súng cổ lỗ sĩ của dân quân xã, như mấy khẩu mút cơ tông (kiểu Pháp), trung chính (của quân Tưởng Giới Thạch), chủ yếu đem ra cho dân quân tập bắn, ngắm, bóp cò chứ không thấy nổ lần nào. Có lần chị gái tôi trong tiểu đội nữ dân quân còn khoác cả khẩu mút cơ tông về nhà, oai lắm. Thày tôi bảo đừng sờ vào đó, súng đạn vô tình, chứ hay ho gì. Khi Mỹ đưa máy bay ra ném bom miền Bắc thì dân quân các xã được trang bị súng tốt hơn, để bắn máy bay. Cũng vẫn chỉ là súng trường thôi nhưng hiện đại hơn, như CKC, K44. Súng cũ không có hộp tiếp đạn, bắn viên nào, lắp viên ấy, nhưng CKC và K44 có hộp tiếp đạn chứa khoảng 6 - 8 viên. Tôi dân ngoại đạo vũ khí nên cứ nhớ láng máng vậy (cũng như ở bài kỳ 1 có ghi đạn đại liên 12 ly 7 to gần bằng cổ tay, bởi lúc trẻ con thì thấy đạn ấy là to lắm rồi, đại cơ mà, thực ra 12 ly 7 chỉ nhỉnh hơn cây bút dầu viết bảng bây giờ, chứ cao xạ 37 ly mới cỡ cổ tay, hì hì).

Cải cách ruộng đất, Đồng Tâm, và báo chí

Hôm nay 7.9, nhằm ngày 20 tháng cô hồn, mùa thu cách mạng, nhà cai trị lôi những người dân giữ đất ở xã Đồng Tâm ra xét xử. Khi quyền lực và súng đạn trong tay, xã hội vô pháp vô luân, họ muốn làm gì mà chả được.

Lại nhớ, gần 70 năm trước, xứ này chịu nạn, vướng tấn bi kịch khủng khiếp, tới giờ vẫn còn ám ảnh sau bao thế hệ. Đó là trận cuồng phong tàn phá tận gốc xã hội và con người, chính quyền gọi nó bằng cái tên cuộc cách mạng long trời lở đất, nói nôm na là cuộc cải cách ruộng đất.

Nhà cầm quyền làm gì họ cũng cho là đúng, không có sai. Khi họ tổ chức đấu tố và bắn giết, hệ thống báo chí vừa ca ngợi "chính nghĩa cách mạng", vừa a tòng a dua với súng đạn, lên án các bị cáo, góp phần không nhỏ vào sự giết người man rợ. Mỗi chữ như một đọi máu. Nhan nhản những bài kiểu "Địa chủ ác ghê". Trong hoàn cảnh ấy, không ai có thể cãi lại được chuyên chính vô sản và báo chí một giọng. Tới khi cải cách ruộng đất hiện nguyên hình là cỗ máy chém tàn bạo, phải sửa sai, người ta nhận ra rằng báo chí đã tự bôi gio trát trấu vào mặt nó, vết nhơ đầy máu không thể nào rửa sạch.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2020

Khen vuốt ve nhau để làm gì

Hôm qua 4.9, Bộ Chính trị làm việc với dàn lãnh đạo TP.HCM. Cứ như truyền thông báo chí quốc doanh thì khen nhau dữ lắm. Có nhẽ họ bàn nhiều chuyện nhưng không thấy báo chí nói gì đến việc giải quyết dứt điểm vụ Thủ Thiêm, miếng gân gà khó nuốt. Cũng chả nghe họ có đề cập gì tới mức Sài Gòn phải đóng góp ngân sách theo tỷ lệ bao nhiêu... Đó là những điều mà đông đảo người Sài Gòn muốn được bạch hóa.

Tôi lại quan tâm tới chuyện khác. Bộ mặt của thành phố mà chính cụ chủ tịch nước hôm qua cũng nhắc lại rằng nó từng là "hòn ngọc của Viễn Đông", nhưng giờ đây dưới sự cai quản của những vị vừa được khen, quả thật ngọc đâu chả thấy, chỉ thấy nhếch nhác, gớm ghiếc vô cùng. Đừng có dòm lên những khối nhà cao tầng để bảo rằng đã có đô thị hiện đại, văn minh, đáng sống. Khoan hẵng đề cập tới những thứ này nọ, chỉ món vệ sinh môi trường và lòng lề đường lộn xộn, bẩn thỉu, bị chiếm dụng tùm lum thôi cũng đủ biết cái “tài” của mấy đương sự cai trị. Không ai bảo được ai, từ cấp thành phố tới cấp phường. Anh nào cũng nói hay nói tốt nhưng thực tế tệ hại sờ sờ trước mắt, ngay trong phạm vi quản lý của mình thì “có mắt như mù”, rất vô trách nhiệm.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

Ngồi xổm trên pháp luật

Việc đảng cử cán bộ hạt giống (mà họ là chiến lược) về các tỉnh làm bí thư, phó bí thư (giống như một dạng quan toàn quyền) là chuyện riêng của đảng. Với tư cách phó thường dân nhưng là một cử tri chính hiệu, tôi không... can thiệp vào việc riêng của tổ chức, các ông muốn làm gì thì làm.

Nhưng các ông cử hạt giống về, rồi ép địa phương phải làm thủ tục chiếu lệ, bầu họ làm chủ tịch, phó chủ tịch bên chính quyền thì đó chỉ là thứ mưu mẹo đặt địa phương vào sự đã rồi, là chuyện hết sức nhố nhăng. Các ông đã đổ khuôn, thì bố đứa nào dám làm trái, không bầu.

Từ sự vi phạm trắng trợn đó, dẫn tới chuyện bộ 4T hôm qua còn công khai biệt phái cán bộ, chả khác gì cử đặc nhiệm, về Hậu Giang làm Giám đốc sở 4T (Thông tin - Truyền thông). Rất vớ vẩn.

Đừng nói là đã có những quy định cho phép như thế. Quy định là do con người đặt ra, nhưng quy định nào cũng phải tuân theo hiến pháp và pháp luật (đó là chưa nói hiến pháp cũng còn điều nhí nhố, và đề ra một đằng, thực hiện một nẻo). Nếu cứ xé rào vậy, ông bà nào cũng có quyền ngồi xổm lên pháp luật, thì tốt nhất cứ giải tán Hội đồng nhân dân các cấp đi, thậm chí giải tán cả quốc hội cũng được, sau đó thoải mái đặt ai vào ghế thì đặt, đỡ phải mưu mẹo, mang tiếng với đời.

Nguyễn Thông

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng nhưng cần biết phân biệt

Nhiều bản báo (in và điện tử 4.0) hôm 24.8 có cái tin về tay tổng thống độc tài ăn gian ở Bạch Nga Belarus sợ người biểu tình nên phải kè kè khẩu súng trên người. Sao chưa thấy các nhà lãnh đạo xứ ta gửi điện chúc mừng “dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đồng chí, chúc đảng và nhân dân giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa” nhỉ. Hay là sợ dây với hủi.

Khẩu súng mà y đeo là khẩu AK, của nhà chế tạo Kalashnikov, loại tiểu liên lừng danh thế giới. Khổ, súng ấy thì ai chả biết, đến đứa trẻ con nó cũng rành AK là tiểu liên, vậy nhưng các bố báo nhà ta thì cứ gọi là súng trường, súng trường AK.

Nó là thế này. Lâu nay cách gọi vũ khí súng đạn ở xứ ta phần lớn thông qua từ Hán Việt. Căn cứ vào hình dạng khẩu súng và tính năng, đặc điểm của nó mà đặt thành tên. Nào là: hỏa tiễn, đại bác, lựu pháo, cao xạ, đại liên, trung liên, tiểu liên, súng trường… Gọi là tiểu liên, trung liên… bởi căn cứ vào khả năng bắn liên tiếp và độ to của nó. Tiểu liên có băng đạn vài chục viên, bóp cò mà giữ cò thì ra xổ cả tràng. Bộ đội ta, có những anh rất giỏi, dùng được cả tiểu liên để bắn điểm xạ, trúng phát một. Trung liên to hơn một chút, có hai càng để dựng cho vững, hộp đạn tròn chứa cả trăm viên. Anh hùng Bế Văn Đàn đã “lấy thân mình làm giá súng” cầm hai càng trung liên cho anh Pù bắn (có câu hát: hoa ban chan bao nước mắt anh Pù, nhưng gần như chả ai biết anh ấy) bởi lúc ấy chiến hào không có chỗ đặt.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim

Chiều 30.8 tây, trúng tháng cô hồn, trong mưa ngâu khi khoan khi nhặt, thiên hạ thong thả lần bước bên nhau tiễn đưa một người về cõi vô cùng. Chiều tiễn biệt khi đợt dịch Cô vít vẫn còn căng nên ai nấy đeo khẩu trang. Âu cũng là đặc điểm của một đoạn khúc khuỷu trong dòng thời gian. Người ấy là diễn viên, đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Trần Phương, trụ thế vừa tròn 90 cái tết trung nguyên, rằm tháng 7.

Nói tới Trần Phương nhiều người không biết dù ông rất nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân. Ở ta nghệ sĩ nhân dân hơi bị nhiều, đạo diễn diễn viên lại quá nhiều nên sự không biết cũng chả nên trách. Nhất là thời gian đã trôi đi cái chặng ông nổi tiếng cũng mấy chục năm rồi. Nhưng đám chúng tôi, thế hệ đẻ vào thập niên 50 và cả 60, 70 nữa thì chả mấy đứa không thấy ông. Có khi chưa rành về diễn viên Trần Phương nhưng đảm bảo nắm chắc nình nịch về anh chàng A Phủ trong bộ phim có tên “Vợ chồng A Phủ”. Nhiều lúc chúng tôi đùa nhau lứa mình là lứa A Phủ, mặc quần thủng đít đi xem A Phủ. Vì vậy, bây giờ nhiều khi thấy buồn cười và vui vui khi nghe mấy đứa con gái bảo “này, để Mỵ nói cho mà nghe”. Sức sống của nhân vật văn chương thật lâu bền. Hình như mặc nhiên những cái tên A Phủ, Mỵ đã là thứ riêng, không đụng hàng. Giả dụ giờ có đứa con gái nào bố mẹ nó đặt cho tên là Mỵ, người ta cũng cứ quy vào vợ chồng A Phủ, làm gì có Mỵ thứ 2.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

Cứ nói điều mình cho là đúng

Trong xã hội dân chủ, mỗi người đều có quyền biểu đạt suy nghĩ của mình. Không nên ép buộc nhau, bởi suy nghĩ của mỗi người mỗi khác. Thấy người khác trái ngược ý mình cũng đừng lấy làm phiền, mà nên tôn trọng cách hiểu của họ. Chính vì vậy, tôi chả mấy khi chê bai các dư luận viên hoặc những người như Trần Nhật Quang (mà thiên hạ gọi là Quang lùn) khi họ có quan điểm riêng. Tất nhiên về tư cách và thái độ (chửi bới, lăng mạ) mà họ thể hiện thì không phục.

Rất nhiều điều, cứ nói ra là nhận sự phản ứng trái chiều ngay. Kệ, mình cho là đúng như mình nghĩ thì viết ra thôi.

Nhiều năm qua, Bộ GD-ĐT đã rất vô trách nhiệm khi bật đèn xanh, buông lỏng, để mặc các địa phương, các trường bắt học sinh phải tựu trường, đi học sớm ngay trong hè, ngang nhiên cướp đoạt những ngày nghỉ hè quý báu của học trò. Học chán chê rồi mới khai giảng, khai trường. Túm lại là rất vớ vẩn.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

Làm người là khó

Bốn chữ nói trên không phải tôi nghĩ ra, mà của cụ Đoàn Duy Thành, một nhân vật kỳ lạ trong kịch sử Việt Nam hiện đại. Cụ Thành từng là bí thư Hải Phòng quê tôi, vị tổng quản được nhất của đất Phòng từ xưa tới giờ. Chuyện về cụ hẵng gác lại, có dịp kể sau.

Ở Hà Nội đang diễn ra cái triển lãm nho nho nhưng ý nghĩa về lịch sử của tấm quốc huy Việt Nam, thực ra là về họa sĩ sáng tạo nó, cụ Bùi Trang Chước. Một cái tên nghe vừa lạ vừa quen.

Rất nhiều người không biết cụ Chước. Ngay thế hệ chúng tôi sinh giữa thập niên 1950 cũng ít tỏ về cụ. Càng về sau lại càng mờ mịt. Cụ như vầng sáng bị che phủ bởi đám mây đời u tối.

Hồi xưa, nói thế chứ thực ra cũng chả xưa gì, chỉ thập niên 60 - 70 thôi, nếu có ai mày mò tìm hiểu về hội họa, về thế hệ họa sĩ được đào tạo từ thời Pháp, trưởng thành dạo 9 năm, thường chỉ nghe nhắc Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, Phan Kế An… chứ bặt cái tên cụ Chước, Bùi Trang Chước. Một phần do lĩnh vực, khuynh hướng sáng tác (cụ Chước chỉ chuyên về đồ họa), nhưng phần lớn do cách đối xử của chế độ đối với con người.

Chuyện truyền đơn (kỳ 2)

Hồi bé, học cấp 1 trường làng, đám trẻ con chúng tôi đọc trong sách tập đọc hoặc được nghe người nhớn kể về những chiến sĩ cách mạng rải truyền đơn kêu gọi dân chúng chống Pháp chống Nhật, đánh đổ phong kiến. Chỉ nghe và biết vậy thôi chứ chả biết mặt mũi tờ truyền đơn nó thế nào. Làng Trà Phương quê tôi có ông Sơn ông Hoạt đi hoạt động cách mạng, rải truyền đơn, Pháp bắt được đánh cho gần chết. Hai ông bị giam, đều trốn ra, tiếp tục hoạt động, rải truyền đơn, khi hòa bình làm bí thư, chủ tịch xã. Ông Sơn còn là người “đầu têu” khoán hộ từ năm 1967 ở vùng duyên hải, cùng thời với ông Kim Ngọc trên tỉnh Vĩnh Phúc, sau nhập với Phú Thọ thành Vĩnh Phú, sau lại tách ra thành Vĩnh Phúc, rất loằng ngoằng. Thời đổi mới, ông Kim Ngọc được giải oan, phong anh hùng. Còn ông Sơn bị khai trừ đảng, cách hết chức vụ bởi tội đi ngược con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Số phận con người, mỗi người mỗi khác, chả biết thế nào mà lần.

Tới năm 1964, máy bay Mỹ đánh ra miền Bắc, vài năm sau thì đám chúng tôi tận mắt thấy truyền đơn, thậm chí còn cầm trên tay, nhặt đem về đọc. Không phải của cách mạng rải, mà do máy bay Mỹ thả. Cứ tưởng nó chỉ ném bom, ai dè cũng biết chơi món truyền đơn.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

Học văn, chấm văn

Trong các môn học ở nhà trường, văn luôn được coi là môn chính, cùng với toán. Thậm chí ngày xưa, xưa xửa xừa xưa, chỉ học mỗn môn văn, bắt đầu từ “nhất là một, nhị là hai” rồi tam tự kinh, rồi đến tứ thư ngũ kinh, cứ thuộc kinh sách như cháo, sôi kinh nấu sử thật nhừ là có thể đi thi, giành lấy cái bảng vàng trạng nguyên bảng nhỡn. Chả cần toán lý hóa sinh siếc gì cho mệt.

Văn mặc nhiên được coi là thứ tiêu chuẩn để đánh giá con người, cả về tri thức và đạo đức. Hồi xưa khen nhau, ai đó được xếp vào hạng “văn hay chữ tốt” không khác gì bây giờ được phong giáo sư tiến sĩ, anh hùng, huân chương Hồ Chí Minh, danh hiệu nhân dân này nọ.

Hồi tôi bắt đầu đi học (thực ra chả muốn học, chỉ muốn chơi hoặc đi đánh dậm, nhưng thày bu cứ ép, bảo “nhân bất học bất tri lý, ấu bất học lão hà vi” – người mà không học không biết được lẽ đời, lúc còn trẻ con mà không đi học, rồi khi già làm được trò gì). Bu còn đèo thêm, nó không đi học, sắm cho nó cái cặp tre và cái giỏ để đi nhặt cứt, sau này nhớn lên cũng chỉ ra Phòng đạp xích lô như cậu Đại là cùng. Chả là trong làng có ông Đại, nhà nghèo, mấy anh em không học hành gì, ông có hai anh là ông Bình, ông Vọng đều ra Phòng đạp xích lô, 3 anh em xích lô chuyên nghiệp. Tôi không sợ theo ông Đại, còn muốn ra Phòng tung tẩy là khác, nhưng hãi phải đi nhặt cứt.

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

Lại lằng nhằng đất quân đội

Đối với người nội trợ, tức người dân bình thường đúng nghĩa, những thông tin ấy như sét đánh ngang tai. Nghe tin bỗng thấy bàng hoàng/Siêu thị đang bán chuyển sang mất... mặt bằng.

Chả là hồi tháng 6, đại siêu thị Big C trên đường Tô Hiến Thành quận 10 Sài Gòn tuyên bố phải đóng cửa bởi bên cho thuê đất tăng giá thuê. Không chịu nổi thì đành đóng thôi.

Lại cách nay vài hôm, Saigon Co.opMart (hệ thống siêu thị phục vụ dân sinh lớn nhất nước) thông báo sẽ chấm dứt hoạt động siêu thị Cống Quỳnh, siêu thị đầu tiên ở VN, sau 24 năm tồn tại. Lý do: Bị đòi mặt bằng.

Điều đáng nói, hai mặt bằng của hai siêu thị ấy đều là đất quân đội, còn gọi là đất quốc phòng. Chúng lọt thỏm trong thành phố đông dân cư.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Tại ngoại hậu tra

Hôm 11.7, công an ban lệnh khởi tố tay phó chủ tịch thành phố HCM Trần Vĩnh Tuyến về tội “tham nhũng”. Trúng ngày thứ bảy cuối tuần, tin tức đang hẻo, báo chí như bắt được vàng, đồng loạt khai thác sự kiện nóng này. Tôi ngồi trên xe khách lắc lư từ Bảo Lộc về, mắt nhắm mắt mở do say xe, đọc cái tít của “tờ” Vietnamnet, rằng “Ông Trần Vĩnh Tuyến được tại ngoại hầu tra”. Chán, báo với chả chí, chữ với chả nghĩa.

Những người làm trong cơ quan bảo vệ pháp luật chắc không mấy ai lạ lẫm với cụm từ Hán Việt này. Đúng ra, chính xác phải là “tại ngoại hậu tra”, mà chính xác hơn nữa thì “tại ngoại hậu cứu”. Nhưng người ta cứ “hầu tra” riết, thế rồi cứ coi như vậy thành đúng. Báo chí sai đã đi một nhẽ, thậm chí có cả những luật sư, quan tòa, công tố viên, kiểm sát viên, rồi cả ông to bà nhớn lãnh đạo cơ quan pháp luật cũng mở mồm “tại ngoại hầu tra”.

Để biết đúng sai, cần xem xét nghĩa của từng chữ trong cụm Hán Việt này. “Tại” nghĩa là ở, chỉ vị trí một nơi nào đó. Tu tại gia là tu ngay ở nhà (chứ không cần vào chùa), học tại chức là học khi đang còn giữ chức vụ làm việc (không cần phải nghỉ hẳn để tập trung suốt thời gian trong trường). Xưng hô “tại hạ” tức là khiêm tốn với người trên, cấp trên, ý rằng mình đang ở (tại) dưới (hạ) người ta.

Đối diện tào lao

Chú nhà báo Đức Hoàng và VTV do ông Trần Bình Minh cầm đầu vừa phát lên sóng quốc gia chương trình "Đối diện - Chống sự lãng quên".

Trong đó, các chả một mình một chợ chứ không dám đối diện ai, tha hồ mạt sát, lên án, khinh bỉ những người mà họ gọi là vô ơn, tệ bạc, xấu xa, cố tình phủ nhận quá khứ, phủ nhận công lao của những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước.

Lạ. Ai phủ nhận thì tôi chưa thấy, nhưng chính các chả phủ nhận, tệ bạc, vô ơn tôi đã thấy rồi. Suốt bao nhiêu năm, họ cứ lờ đi cả vạn chiến sĩ hy sinh ở mặt trận biên giới phía bắc trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, không nói gì về người ngã xuống, một nén hương cũng không dám thắp, thậm chí tên kẻ thù ngoại xâm cũng không dám nhắc, sợ nó giận.

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước khi mắng mỏ người khác, hãy coi lại chính mình đã, chú Hoàng robot ạ. Ai quên, chính các chú và đồng bọn công khai lãng quên chứ chả phải ai vào đây cả. Hãy đối diện với chính mình trước đã.

Các cụ xưa thường quen miệng bảo "gái đĩ già mồm", thực ra gái đĩ còn tử tế hơn đám này nhiều. Gái đĩ phải tôn đám Đức Hoàng là bà cố tổ.

Cái trò chiếm sóng quốc gia khua môi múa mép, cả vú lấp miệng em ấy nên dẹp đi cho đỡ xấu hổ.

Nguyễn Thông

Đại hội đảng là dịp để tham nhũng

Một cái cặp da làm quà tặng cho đại biểu giá từ 3,5 - 3,7 triệu đồng, tổng số tiền mua quà là 2,2 tỉ đồng. Giá tiền cặp ấy chắc chỉ có ở Việt Nam.

Theo ông bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, đại hội sẽ có 400 đại biểu và 200 khách mời. Trong số khách ấy, thể nào chả có những bà mẹ VN anh hùng hoặc những cựu cán bộ đã già lụ khụ, đi lại còn phải chống gậy. Cặp tặng cho họ, họ để ôm chắc, kiểu như "bà đem bà ngửi chứ bà không ăn".

Cặp mà giá tới 3,7 triệu đồng, bằng giá tiền mua cái tủ lạnh 200 lít hoặc chiếc máy giặt 8kg, thế thì mua mẹ nó tủ hoặc máy cho đại biểu đi, cặp kiếc làm gì. Khổ nỗi, nếu mua tủ thì nó lại thổi giá đôn lên thành 10 triệu, thậm chí 15 triệu, dân có khóc khô nước mắt cũng chả cung cấp đủ tiền cho các bố ấy phần trăm, hoa hồng.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

Chuyện truyền đơn

Đã vào thập niên thứ 3 của thế kỷ. Thập niên chứ không phải thập kỷ như nhiều người (có cả GS, TS) nhầm hoặc quen dùng, bởi thập niên là 10 năm, một kỷ là 12 năm, thập kỷ tức 120 năm, còn nếu giải thích rằng thập kỷ có nghĩa là 10 năm của thế kỷ thì rất gượng gạo, chỉ gán ghép cho có chứ chả theo nguyên tắc nào.

Năm 2020 là đầu thập niên thứ 3 của thế kỷ 21, khoa học kỹ thuật đã phát triển như vũ bão, có những thứ chỉ mới vài chục năm trước là chuyện rất bình thường, phổ biến, thì lúc này đã cực kỳ lạc hậu, lỗi thời, xưa cũ, có cảm giác như từng tồn tại ở thời nào xa lơ xa lắc. Chẳng hạn cái truyền đơn.

Hồi tháng trước, đám cộng sản Triều Tiên cứ sôi sùng sục, tố cáo người bà con Nam Hàn thả truyền đơn lên phía bắc. Tay Kim Ủn cảnh cáo không tha thứ cho hành vi "xâm lược" này, thậm chí dọa Nam Hàn sẽ nhận lĩnh hậu quả khủng khiếp chưa từng có. Lâu nay mồm Kim nói gang nói thép thế nào, thiên hạ đều biết cả nên cũng không lấy đó làm điều lăn tăn. Vài ngày sau, báo chính thống của Triều Tiên, rồi báo Hàn, rồi tất nhiên lan tới báo Việt, đồng loạt đăng tin Triều Tiên đã chuẩn bị cho cuộc trả thù khủng khiếp có một không hai, khiến người ta nghĩ phen này bán đảo Triều Tiên chấm dứt cảnh chia cắt, thống nhất tới nơi rồi, Hàn Quốc chết đầu nước. Chỉ có điều, không phải là xe tăng đại bác, tàu bay tàu ngầm, binh hùng tướng giỏi, mà là Triều Tiên đã in xong đợt 1 gồm 12 triệu tờ truyền đơn, cứ từng cục từng cục to như cục tiền cụ Hồ 500 nghìn đồng còn mới (sao dạo này xứ ta tiền 500 mới tinh lắm thế, chả nhẽ...), vuông thành sắc cạnh, chất đầy căn nhà. Đống truyền đơn ấy, chả biết tải nội dung gì, nhưng lựa gió thả sang miền Nam, chỉ rợp trời cũng đủ chết ngộp.

Tiếc sân Phú Thọ

Phú Thọ được nhắc ở đây không phải là tỉnh Phú Thọ, nơi có đền Hùng, tỉnh trung du miền Bắc. Phú Thọ này, ngày xưa thời Việt Nam cộng hòa, trước năm 1975, là cái sân thể thao hoành tráng nhất nước, dân miền Nam gọi là vận động trường Phú Thọ, đặc biệt với những đường đua ngựa dài mấy cây số.

Ở Sài Gòn (tức TP.HCM), đất là vàng, là kim cương, đô la, là tất cả, thậm chí còn quý hơn cả độc lập tự do. Làm quan, chết bởi đất là chuyện thường bởi chả có đứa quan nào chê vàng, kim cương, đô la. Hàng loạt đứa vào tù, ra vành móng ngựa cũng vì lý do ấy. Chúng nó tham vô đáy, chết nữa cũng chẳng ai thương.

Trung ương đã chỉ ra nhiều vụ ăn đất ở Sài Gòn, nhưng có một vụ cực lớn không hiểu sao lại im thin thít. Nó sờ sờ trước mắt bàn dân thiên hạ, ai cũng biết, chỉ trung ương không biết. Hay là sự ăn chia đã "ổn" nên bị cố tình lờ đi.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Khuyết tật hay tàn tật

Ngày xưa chỉ nghe hoặc đọc trên báo từ “tàn tật” để nói về những người cơ thể bị tàn phế một phần, bộ phận nào đó. Chả hiểu tự khi nào người ta đẻ thêm từ “khuyết tật”. Điều chắc chắn sản phẩm mới này không phải do dân chúng hoặc các nhà ngôn ngữ tạo ra, mà bởi nhà chức việc, thậm chí quan to. Họ hứng lên, tung từ ngữ mới, áp vào các văn bản dưới danh nghĩa chính quyền, đảng, nhà nước, rồi cứ thế bắt mọi người tuân chỉ. Đúng sai, kệ.

Hiện trong các tổ chức hội đoàn, đoàn thể ở xứ ta, có Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, mà không phải ai khác, chính bà Đặng Huỳnh Mai cựu thứ trưởng Bộ GD-ĐT (đang bị ồn ào vụ “đòi” nhà công vụ) làm chủ tịch. Thực thà mà nói, người tàn tật có riêng tổ chức của mình thì tốt quá đi chứ, chả ai phản đối chuyện này. Chỉ có điều, tên gọi ấy đã sai trầm trọng, không đúng đối tượng.

Theo nghĩa từ Hán Việt, “tật” tức là tình trạng cơ thể bị suy yếu. Tật bệnh chỉ con người ta mắc bệnh, đau ốm, cần được chạy chữa. Tật cũng có nghĩa là điểm yếu nào đó của con người, “có tật giật mình”, tật nói ngọng, tật nói khoác, v.v..

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

Không khen

Nhiều người chân tình nhắc tôi, viết gì thì viết, nói gì thì nói, gái góa lo việc triều đình tha hồ mà lo, nhưng tránh đụng chạm đến cá nhân, nhất là mấy ông to bà nhớn. Rằng thì là mà họ sẽ thế lọ thế chai, rồi lại chẳng phải đầu cũng phải tai đâm phiền. Chỉ nên gợi ra những cái chung chung thôi…

Vâng, thực tình tôi chả thích bới móc cá nhân. Con người ta nhân vô thập toàn, được cái này hỏng cái kia, tốt xấu chen nhau, hay dở xen kẽ, có mấy ai tròn trĩnh. Bản thân mình cũng vậy. Nhưng khổ nỗi, cái chung đều bắt đầu từ cá nhân, từ mỗi con người cụ thể. Một xã hội, nhà nước, thể chế, chế độ, bộ máy, cộng đồng… đều bắt đầu từ cá nhân, do cá nhân tạo thành. Né đi, thế thì chỉ còn nước leo lên trời trò chuyện với mây, nơi không có con người. Chỗ ấy lành nhất.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

Đòi đất quốc phòng

Nghe chuyện lãnh đạo TP.HCM đòi lại khu đất Ba Son, thấy hơi buồn cười.

Chỗ được đòi thực ra chỉ là nhà bảo tàng về cụ Tôn rộng khoảng hơn 3.000 mét vuông, mở rộng ra xung quanh được hơn 3.000 mét vuông nữa, nằm ven đường Tôn Đức Thắng. Cả khu Ba Son cũ mênh mông mấy trăm nghìn mét vuông, giờ may ra chỉ đòi được chỗ ấy, còn thì đã biến thành nhà cao tầng, nhà hàng, khách sạn cả rồi, quân đội "bán" hết rồi, muốn đòi chỉ còn cách bắc thang lên hỏi ông giời. Cứ nhìn khu Vượng Vin ngay trên nền cũ công xưởng hải quân thì rõ.

Thời hậu chiến, theo nguyên tắc bất thành văn, chỗ nào trước kia của quân đội cũ thì quân đội mới tiếp quản, mặc nhiên được xác nhận chủ quyền. Đất đai ấy, cơ sở vật chất, nhà cửa ấy là để phục vụ quốc phòng, là đất quốc phòng, không ai được đụng vào. Lỡ có chiến tranh thì lại lấy ra sử dụng. Đụng vào đất quốc phòng, chỉ có chết.

Thành phố sông Hàn

Bây giờ, lúc này mà nói về Đà Nẵng dễ bị coi là đồ “cuốn theo chiều gió”, ăn theo, cơ hội, bầy đàn, là đủ thứ, mặc dù vùng đất này lúc nào cũng đầy sức hấp dẫn chứ không phải đợi có dịch cô vít cô veo.

Tôi có thứ duyên nợ nhạt không ra nhạt, mặn không hẳn mặn, với Đà Nẵng. Nhưng thấy xứ Tourane cũ đang phải gồng mình trợn mắt chống dịch bệnh, cứ thương thương. Mỗi khi thấy ai đó chê nó cười nó, lại càng thương.

Quê tôi Hải Phòng, thời chiến tranh chống Mỹ, chính quyền miền Bắc đặt ra sự kết nghĩa những tỉnh thành ngoài Bắc với tỉnh thành trong Nam. Hà Nội đương nhiên thì phải đăng ký hôn thú với Sài Gòn rồi. Tỉnh Kiến An “lấy” tỉnh Gò Công, tỉnh Nghệ An lấy tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Hải Phòng được ghép đôi với Đà Nẵng, rồi Thanh Hóa - Quảng Nam, Vĩnh Phúc - Bến Tre, Thái Bình - Vĩnh Long và Trà Vinh… Cứ thế mà thi đua, bên sản xuất, bên chiến đấu. Ở Hải Phòng có đường Đà Nẵng gần ngã năm, sau 1975 ở Đà Nẵng có đường Hải Phòng gần ga xe lửa. Bài hát tỉnh ca “Thành phố hoa phượng đỏ” có câu “Hải Phòng ơi, hôm nay bé nhỏ, mai ta đã thấy rộng dài rực sáng, sánh vai cùng Sài Gòn, Đà Nẵng quê hương”. Từ thời bom đạn, đám trẻ nông thôn như tôi quanh đi quẩn lại sống trong làng nhưng nghe nói mãi về Đà Nẵng, tự dưng cảm thấy thân thương, định bụng sau này nước nhà thống nhất, nếu có tiền, vào đó chơi một chuyến cho biết “Đà Nẵng yêu thương” thế nào.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2020

Thần thiêng nhờ bộ hạ

Hôm cuối tuần cần được nghỉ ngơi, nhưng tôi khuyên ông Bảy Phúc nên bớt chút thời gian làm ngay việc này (việc cần làm ngay, ký tên: NVT, chứ không phải NVL, hì hì), bởi để lần lữa sẽ nguội:

Rà soát ngay lập tức đám trợ lý, thư ký, cố vấn, quan hầu cận, đặc biệt là bọn viết diễn văn, báo cáo cho thủ tướng. Chưa đời thủ tướng nào mà đám quần thần trợ lý lại ngu dốt, làm cho ông quê kệch, mất điểm nhiều như đời cầm trịch của ông, ông Bảy ợ.

Vẫn hiểu rằng không phải thứ gì nhà lãnh đạo cũng biết, cũng tỏ tường. Nếu thế, họa có là thánh. Nhưng "thần thiêng nhờ bộ hạ", những đứa mà các ông chọn dứt khoát phải là đứa giỏi, cực giỏi, thông thạo từng lĩnh vực. Khi ông cần lập ngôn ở lĩnh vực nào thì đứa chuyên về lĩnh vực ấy phải chịu trách nhiệm. Mày làm tốt thì tao dùng, mày làm dở thì tao thải, tao đá đít. Có như thế mới tránh được những vụ kiểu cờ lờ mờ vờ (CLMV), vụ "bức tử" nhà văn Nguyên Ngọc, vụ đi đâu cũng phán đầu tầu, hàng đầu, đại bàng, gái đẹp...

Trong vụ "giết", phong liệt sĩ ảo cho rất nhiều nhà văn vừa rồi, lỗi không ở ông Phúc bởi ổng không biết. Tôi cam đoan cả ông Phúc lẫn ông Võ Văn Thưởng đều không biết nhà văn "liệt sĩ" Trần Hiếu Minh là ai, cứ nói cho sướng miệng thôi. Cái thằng trợ lý cho ông Phúc, nó học vẹt trong nhà trường, nó đọc đoạn trích "Cửu Long cuộn sóng", nó biết Trần Hiếu Minh, chứ Thưởng, Phúc có học hành gì mấy thứ này mà biết.

Mắc tóc bởi lòng tham

Nhà công vụ, như cái tên gọi của nó, là nhà công, tạm cấp cho quan chức ở khi còn làm nhiệm vụ.
Không còn làm việc nữa, nghỉ hưu chẳng hạn, thì phải trả lại để nhà nước sắp xếp chỗ ở cho cán bộ khác.

Đó là quy định bất biến, cả người được tạm cấp lẫn nhà nước cứ thế mà thi hành, không lôi thôi oong đơ chi cả.

Thói đâu có cái thói, xong việc rồi cứ quyến luyến chỗ ở mãi, viện lý do lý trấu không chịu trả. Chẳng ai tin được, chỉ do lòng tham thôi. Càng cán bộ càng tham, càng làm to càng tham, bởi thâm tâm các vị ấy nghĩ mình là công thần, có quyền như vậy. Nhiều người còn nhớ vụ ông cựu chủ tịch Hà Nội Hoàng Văn Nghiên, nghỉ rồi nhưng cứ bám lấy cái nhà công vụ biệt thự ở 12 Nguyễn Chế Nghĩa, đòi mấy cũng không trả, cứ lì ra, lằng nhằng suốt bao nhiêu năm. Dân cười chê quá trời. Nói thật, thế lực thù địch chả thấy đâu, chỉ thấy không ai làm xấu mặt chế độ, bỉ bôi nhà nước bằng chính cán bộ. Càng cán bộ to thì nhọ nồi bôi đen càng lớn.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2020

Ngu hơn Phạm Chuy

Phạm Chuy vốn chỉ là kẻ thất phu nhưng tinh thông mọi điều, lý luận đầy mình, có tài vương bá. Chuy bị nạn, chạy trốn từ Triệu sang Tần, được vua Tần tin dùng, làm đến thừa tướng, công lao hiển hách, quyền chỉ dưới vua, nói gì vua cũng nghe.

Ngồi trên đỉnh cao, Chuy nghĩ thiên hạ không ai bằng mình, không ai có thể thay mình. Thấy vậy, Thái Trạch một kẻ học trò đến mở mắt cho Chuy.

Trạch hỏi Chuy, ông tự thấy mình tài giỏi hơn Thương Ưởng, Ngô Khởi, Văn Chủng không. Chuy đáp không bằng. Trạch lại hỏi vua Tần nay đối xử với ông có bằng Tần Hiếu công đối xử với Thương Ưởng, Sở vương với Ngô Khởi, Việt vương với Văn Chủng không. Chuy đáp không bằng.

Cất nhắc dao gươm

Ông Tô Lâm bộ trưởng Công an hôm rồi có đăng đàn nhân ngày của ngành. Ổng vẫn lặp lại thứ lý luận mà các đàn anh Trần Đại Quang, Lê Hồng Anh, Bùi Thiện Ngộ... từng thuộc lòng, rằng công an là thanh bảo kiếm bảo vệ chế độ. Chỉ thấy nhắc bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng chứ không đề cập dùng kiếm làm điều gì nữa.

Trong những thanh kiếm ấy, từng có rất nhiều kiếm cùn, như Phan Văn Vĩnh, Trần Việt Tân, Nguyễn Thanh Hóa, Bùi Văn Thành... Tinh thứ dữ nhưng cực cùn, rỉ sét. Và cũng nên nhắc tới Chung con, Nguyễn Đức Chung đô trưởng Hà Nội.

Thực ra Chung con cũng chả phải loại tài cán gì, chỉ thuộc dạng cơ hội, nhân thời buổi công an trị, nhất là lúc Trần Đại Quang đương chức, mà ngoi lên được. Chỉ cần coi cách tráo trở trong vụ Đồng Tâm, cách xử lý dây dưa vụ xây dựng sai phạm nhà 8B Lê Trực, cách hứa hẹn rất linh tinh về đường sắt Cát Linh-Hà Đông, cách làm cho chìm xuồng vụ chiếm đất phá rừng ở Sóc Sơn... cũng đủ thấy "tài" của Chung con rồi.

Vụ Nhật Cường mobile được Bộ Chính trị đốt lò của ông Trọng coi là đại án nhưng không bắt được Nhật Cường thì cũng chả dễ gì xử được Chung con, mà muốn túm được thằng ấy thì phải hỏi ông giời.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2020

Căn bệnh nặng

Hồi xưa các cụ nói chữ, gọi là nan y (y: chữa bệnh, nan: khó, nan y là khó chữa). Bệnh gì?

Càng ngày, ta càng thấy rõ nhà cai trị xứ này rất say mê quá khứ, cái mà họ gọi là lịch sử vĩ đại, quá khứ hào hùng, những chặng đường vẻ vang. Mà lịch sử của họ phần lớn chỉ cách mạng, đánh nhau, chém giết, đổ máu, tương tàn. Họ ca ngợi chiến công chói lọi, bước ngoặt lịch sử, dấu ấn không phai mờ, chặng đường vinh quang của dân tộc..., quanh đi quẩn lại thì vẫn chiến tranh, nồi da xáo thịt. 

Quanh năm suốt tháng, hết kỷ niệm nọ đến chào mừng kia, phát mệt với những tự sướng ấy. Tất nhiên, họ sẽ quên đi, lờ đi những sai lầm, thất bại, những đau đớn do họ gây ra mà nhân dân đất nước phải chịu.

Họ luôn miệng nói hướng tới tương lai, nhìn về phía trước, xếp lại quá khứ nhưng cứ loay hoay mãi trong mớ bùng nhùng lịch sử, tốn bao nhiêu là thời gian, trí lực, tài sản cho sự vuốt ve quá khứ này. Người đời nói chẳng sai, đó là ăn mày quá khứ.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

Đồng Hới và Bính, và những ngày khó quên (kỳ 2)

Nghe Lương Ngọc Bính hát “Trên biển quê hương” của nhạc sĩ Đức Minh, mình nhớ ngay bài này ông Uy anh giai mình từng chép trong cuốn sổ bằng bàn tay, tinh dững khúc ca hừng hực khí thế đánh giặc, mở đầu là bài “Đánh đích đáng” của Ngô Sĩ Hiển, rồi "Tiếng hò trên đất Nghệ An", "Tiếng đàn ta lư", "Vui mùa chiến thắng"… Bất chợt mình hát theo nó “hò là hò là khoan, tung lưới ra ngoài khơi, ta bắt con cá nhẩy, ta bắt đàn cá bơi, ơi hò là hò ơi…”, lúc đầu thầm thì nho nhỏ kiểu ăn theo, sau cứ to dần. Rồi mấy đứa khác cũng ăn theo nữa, át cả tiếng cu Bính. Cái Thúy xẩm ngồi cạnh mình, bấm tay một cái đau điếng, bảo chúng mày im đi, để Bính nó hát. Đúng là đàn bà trong đám đông ô hợp vẫn thường tỉnh táo hơn bọn quê xệ như mình. Mình định bảo Thúy, ngoài Phòng cũng có biến thể bài này, không phải là cái biến thể “Cởi truồng ra khơi, bị con cá đuối nó xơi mất bòi” đâu, mà là “Hải Phòng quê ta, hồi xưa vẫn hát câu ca hát rằng, ai đã về đây, chớ quên thuốc lào Tiên Lãng. Hai điếu hai bên, bây giờ còn mỗi điếu thôi. Điếu ở cạnh người, đó là trái tim của tôi…”. Nhưng đang vui nghiêm túc, lại trên đất thiêng Quảng Bình, mình đếch dám hó hé.

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

Từ trong di cảo

Hồi tôi về quê, giở lại những thứ mà thày tôi để lại, có những tờ ghi chép (gọi theo cách của các cụ là di cảo; di là để lại, cảo là bản nháp, bản thảo, bản ghi chép)) thật cụ thể mà quý giá. Biết bao kinh nghiệm sống, bao nhiêu bài thuốc, những nhắc nhở dặn dò con cháu đủ mọi điều… được thày tôi biên ra. Tôi đã từng dựa vào đó viết một loạt tút (status) trên phây búc (FB) nhưng đáng tiếc đã hai lần trang cá nhân của tôi bị xóa, bị khóa nên không thông tin lâu bền được.

Những di cảo ấy, chẳng hạn là tờ bìa tạp chí này (ảnh kèm). Thày tôi sinh thời chỉ làm nông dân nhưng đọc cả báo Nhân Dân, báo Hải Phòng (tờ này mỗi tuần 1 số), thậm chí tạp chí Học Tập. Thời đó, những vị đang cai trị xứ ta bây giờ vẫn chỉ chân đất mắt toét, chưa là gì cả. Chả biết thứ tạp chí ấy có đem lại cho thày tôi điều gì tốt đẹp không, nhưng cái bìa của nó, chẳng hạn bìa số ra tháng 10 năm 1971, thì rất có ích. Những năm tháng thiếu thốn ấy, giấy má cực hiếm, nhiều khi không kiếm đâu ra tờ giấy trắng để biên chép những thứ cần thiết. Tất cả những tờ lịch đã xé (khi đó lịch chỉ bé bằng bàn tay, chứ không có khổ lớn), mặt trong phong bì, bìa những tờ tạp chí… đều được tận dụng. Có những điều thày tôi biên bằng chữ Pháp, chúng tôi chỉ giữ lại mà không đọc được, nhưng nhiều nội dung khác thì bằng chữ Việt, với phông chữ chuẩn của những người trải qua thời Pháp thuộc.

Trên bìa tờ tạp chí Học Tập này, thày tôi ghi ra bài thuốc, cụ thể là tên thuốc và chỗ cần mua, với chỉ dẫn cụ thể. Nội dung là: “Thuốc chữa bệnh hậu sản. Chữa được cả đàn ông. Xanh xương vàng da, gầy ốm, ăn ngủ kém, chưa làm đã mệt, v.v.. (có lẽ là bệnh phòng tích). Bà Cụ Lạc. Thôn Yên Tập, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, Hải Hưng. Nhớ Phố Lối đi vào. Đề phòng thuốc giả. Ngõ nhà Bà Cụ Lạc có cây táo”.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

Đồng Hới và Bính, và những ngày khó quên

Với người đi chơi nhởi, thoát ra khỏi cuộc sống tù túng tẻ nhạt đời thường, thì thời gian tung tẩy cảm thấy thật là ngắn ngủi. Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Thoắt cái đã hết ngày. Chả bù lúc ở nhà, cứ ngó tới ngó lui, đếm từng tiếng tí tách của kim giây đồng hồ. Mấy bữa ở Đồng Hới Quảng Bình, ở Huế (mình chỉ có nhõn buổi trưa xứ Huế), và Đà Nẵng, cứ như giấc mơ. Hì hì, ngày vui nào mà chẳng như mơ. Về Sài Gòn đã 2 hôm rồi, “lại lao vào việc lòng say sưa/hết sớm thôi chiều nắng lại mưa”, bấn bíu với đủ thứ bực bội khó chịu, thế mà trong giấc ngủ chập chờn, vẫn thấy rõ mồn một cả đám giặc ngồi dúi dụi cuối xe, những Ngọc Tân, Bá Tân, Xuân Ba, mình, lẫn vào đó là bác cả Thụn, cái Thúy xẩm nữa. Ai nấy hùng hổ kết án thằng Bá Tân con cụ Hồ thiếu cảnh giác cách mạng, ham rượu chè, mắc phải bí đao kế. Ngọc Tân trừng mắt dí tay ngay trán thằng con cụ bảo không chừng mày là nội gián, Tân ợ, mày mà gián điệp chuyến này, cứ từng giờ báo cáo hết về “trung tâm bí đao” thì bỏ mẹ chúng tao. Chả là đang xảy ra việc nhường chức trưởng đoàn. Bất chợt thằng Ba lắc lư 3 chỏm tóc tam mao được cái Thúy cái Hà kết cho lúc ăn sáng, nửa thì thầm nửa kêu toáng lên, chúng mày ơi, thằng Tân dính bí đao kế, còn lão Ngọc Hồng trúng phải bí ngô kế, ối giời ôi. Cả đám bò lăn ra cười, chỉ có lão cả Hồng ngồi trên ngơ ngác dòm xuống đéo hiểu chúng nó nói gì về mình.

Ấy, những chuyện như vậy thì làm sao quên nổi. Tuổi già, U70 cả rồi, vô minh vô thức, buồn cũng ít mà vui lại càng ít. Nói đâu xa, mình đây, nhiều hôm cứ ngồi thừ ra ngắm con thạch sùng cụt đuôi bò trên tường, tự hỏi đâu là thạch sùng, đâu là Thông cào, không biết nữa. Rất tẻ nhạt. May còn có bạn bè. Chỉ K17 mới có thể đem đến niềm vui liên tục, bất tận, dai đẳng như mấy hôm rồi. Lại bần thần mong, hôm nào bất chợt mở điện thoại hoặc phây búc, thấy chúng nó nhắn tin, cào ơi, mày có đi không, chúng tao sắp sửa lên đường đấy, có cả Nga đi nữa đấy…

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

Nguyên hay cố, cựu?

Có người hỏi tôi, khi nào thì dùng các từ "nguyên, cựu, cố".

Đúng ra phải hỏi thêm cả từ "đương" nữa, bởi cùng với các từ nói trên, đó là những chặng, những đoạn khác nhau trong một đời người.

Khi còn làm việc (gì đó) thì gọi là đương. Đương chức, đương nhiệm. Cái thời đang diễn ra gọi là đương thời (đương cũng có nghĩa là đang). Hồi xưa trong bộ máy hương thôn, lý trưởng đang làm nhiệm vụ thì là lý đương, lý trưởng nào đã bị phế truất, đã thôi không làm nữa thì gọi là lý cựu.

Cựu tức là cũ, chỉ cái (điều) đã qua. Cựu thần tức là người bề tôi cũ (trước kia là bề tôi, nhưng giờ vì lý do nào đó, già lão hoặc bị phạt chẳng hạn, không làm nữa). Cựu trào là triều đại cũ. Đối lập với cựu là tân (mới). Cựu thế giới để chỉ những đại lục cũ Á, Âu vốn được người ta ở từ lâu, còn với tân thế giới (châu Mỹ) mới được khai phá. Ông bộ trưởng nào không còn làm bộ trưởng nữa thì là cựu bộ trưởng, ông tổng bí thư đã hết chức được gọi là cựu tổng bí thư.

Góp ý với các hãng tàu bay và sân bay

Trong lúc dịch bệnh hết sức nghiêm trọng, việc các hãng tàu bay yêu cầu hành khách phải khai báo y tế trước khi làm thủ tục lấy vé, thôi thì cũng được đi, thậm chí là cần thiết. Vẫn biết đây là chủ trương của nhà nước, chính phủ chứ không phải hãng tàu bay hoặc cảng hàng không tùy tiện làm, tuy nhiên, cách làm rất hình thức, bất cập, lôi thôi rườm rà, không hiệu quả.

-Nhiều người đứng xếp hàng chán chê chờ làm thủ tục vé thì mới biết phải ra một chỗ khác khai báo y tế có kết quả đã mới được xếp hàng lấy vé. Tôi nhận thấy rất nhiều hành khách bị dở dang vụ này, đâm ra bực tức, càu nhàu, chửi bới. Có ông chửi "địt mẹ, nó chỉ có mảnh giấy con con thông báo thế kia thì biết thế đéo nào được". Hành khách nóng tính cũng có lý do chính đáng của họ, mà lỗi từ hãng tàu bay. Trong lúc dịch bệnh đang căng, nên phát loa thông báo cho hành khách biết, đừng sợ gây tiếng ồn. Ồn lúc này là cần thiết.

Bất chợt Trịnh Xuân Như

Sau một thời gian khá dài, thậm chí dài ơi là dài, từ tháng 10.2018 tới giờ, mới túm lại được y. Chả là mở phây búc của thằng cu làng Lon Trịnh Huyên Trịnh Xuân Ba thấy có cái tên Trịnh Xuân Như. Nghe quen quen, chợt nhớ, a, cu Như điện lực. Xin kết bạn mí nó, chắc nó mải bận đi giăng mắc dây điện, trồng cột điện, cắt điện… nên nó chưa để mắt tới mạng mẽo. Hôm qua thì nó duyệt rồi.

Nói tới cu Như, không phải tất cả K17 văn khoa đều biết. Nhưng những ai đã đàn đúm ở Sầm Sơn mùa thu năm Mậu Tuất 2018 thì đều biết Trịnh Xuân Như, quý Như, cảm nhận được sự giản dị, chân tình và gần gũi của y. Mình là người ngoài mà còn yêu mến y, huống hồ trong ngành điên nặng như mụ thị Huệ, biết rõ Như, thì còn quý hắn thế nào. Nói của đáng tội, không có Trịnh Xuân Như, khó có cuộc vui nổ trời nghiêng biển dạo ấy.

Nhắc tới cái năm Mậu Tuất 2018 cứ bổi hổi bồi hồi. Chơi bời Sầm Sơn chán chê đã đời, còn kéo nhau đi Thành nhà Hồ, viếng Lam Kinh thăm mộ đức Lê Thái Tổ. Khi ngó tấm văn bia Vĩnh Lăng vĩ đại (chỉ có người xưa mới làm được như thế), chợt nhớ cụ Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa cũng đúng năm Mậu Tuất, 1418. Đi được rong ruổi nhiều chỗ kỳ quan danh lam thẳng cảnh xứ Thanh như thế, có một phần đóng góp không nhỏ của Trịnh Xuân Như.

Vẫn biết ở xứ Thanh họ Trịnh là đặc sản, chả khác gì nói tới An Nam ta là phải nhắc ngay tới họ… Nguyễn, hì hì (các bà Thúy xẩm, Huệ lùn, Đạm tồ, Hà ngố… có đồng ý với nhà cháu không nào), nhưng quả thật tới Thanh Hóa mà không biết không chơi với họ Trịnh kể cũng hơi bị khiếm khuyết. Dĩ nhiên ta vẫn đề cao, vẫn chơi với những ngoại trịnh, như Lê Quốc Lập, Trần Triều Nguyệt, Đặng Quốc Khánh, Lê Văn Sơn, Nguyễn Thị Bé, Nguyễn Thị Xuân nhưng có tí Trịnh vẫn mang dáng vẻ “Thanh kỳ khả ái” hơn. May mà lớp ta có thằng làng Lon đặc sệt Trịnh, nó và mấy đứa em từng đãi bọn “ăn mày” K17 một bữa cháo hến, hến xào kèm bánh đa, gà vườn luộc, bánh bột lọc… ăn mệt nghỉ trong “cái sáng hôm ấy sáng gì” thật khó quên. Ở xứ Thanh còn có Trịnh Văn Chiến quan đầu tỉnh nhưng K17 ta không chơi mí y bởi khi đó lùm xùm vụ cô Quỳnh Anh quỳnh em mang tiếng quá. Bù lại, chúng ta đã có một Trịnh đích thực, dễ thương là Trịnh Xuân Như.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Nhắc các chị nội trợ: Khoai tây mua ở siêu thị

Sẽ có người bảo dở hơi nó vừa vừa chứ. Đàn ông đàn ang lại đi nhắc đàn bà chuyện nội trợ, chợ búa, mua sắm, nấu nướng. Đúng là đồ dở hơi. Thì cũng đành chịu vậy, bởi ở nhà mình, tôi hay phải đi chợ.

Giờ đây, việc đi lại, vận chuyển dễ dàng, hàng hóa đặc sản vùng miền có mặt khắp mọi nơi. Ngày trước, sản vật theo vùng miền, cây trái theo mùa, mùa nào thức ấy, có chỗ ăn không hết, ứ thừa, rẻ rề nhưng cùng lúc thì chỗ khác vùng khác lại hiếm hoi, đắt đỏ. Nay thì khác, miền Bắc có cả dưa hấu (thường chỉ trồng vào mùa hè) bán suốt mùa đông mùa xuân, không trồng được xoài ngon nhưng ăn xoài thoải mái; còn miền Nam cứ mỗi mùa vải chín đất bắc vẫn tha hồ mua ngay tại nơi mình ở, chỉ đắt hơn vài ba giá. Cây khoai tây chỉ hợp với khí hậu ôn đới, mát mẻ nên chỉ có ở miền Bắc cữ trời se lạnh (đông - xuân) và đất Đà Lạt, tuy nhiên người tiêu dùng xứ nóng nhiệt đới có thể mua được củ này quanh năm. Ấy là do cuộc sống biến đổi, con người đỡ bị cảnh thèm nhạt. Tôi nhớ hồi những năm 80 trở về trước, chả bao giờ hình dung ra dân bắc được ăn dưa hấu ngày tết, dân nam mua vải thiều giá vừa với túi người bình dân.

Từ hồi giữa thập niên 90, sự mua sắm càng thuận tiện hơn cho người nội trợ khi xuất hiện hệ thống siêu thị. Mua bán theo kiểu tây. Đắt một tí nhưng tiện lợi, hàng hóa tập trung, sạch sẽ, thứ gì cũng có. Tất nhiên trong siêu thị có cả rau củ, khoai tây.