Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2020

Nhân tai

Ghét thủy điện (bởi nó gây không ít tai họa cho xứ này), không có nghĩa ghét bỏ cả những người đi cứu dân lao động làm thủy điện đang gặp nạn.

Lúc thiên tai địch họa, mạng người tính bằng phút bằng giờ, treo đầu sợi tóc, đừng đòi hỏi người đi cứu phải có kinh nghiệm, chuyên nghiệp, dù rằng nếu có vẫn tốt hơn.

Cũng đừng lấn bấn nghĩ tướng, chủ tịch huyện mà vào đó làm gì. Nếu không vào, sẽ bị nhận ngay nhiều lấn bấn khiếp gấp bội: Tại sao tướng không vào, cán bộ to không vào, lại chỉ để lính xông vào chỗ chết, v.v..

Thôi thì thiên hạ chín người mười ý, nhưng qua vụ 13 nhà chức việc (11 sĩ quan quân đội, trong đó có cả tướng phó tư lệnh; cả chủ tịch huyện) hy sinh thương tâm khi thi hành công vụ (nhân đây tôi cũng góp ý với T.Ư đoàn rằng, tặng huy hiệu "Tuổi trẻ dũng cảm" thì cứ tặng, nhưng đừng nêu cái lý do "lập công xuất sắc", ở đây chỉ có chết tang thương chứ không kịp lập công quả gì mà xuất với chả sắc, đang ngủ mà lập công với ai), phát lộ rõ ra điều cực kỳ đáng buồn:

-Chưa bao giờ con người thiếu lòng tin vào con người (nhất là người nhà nước) thê thảm như bây giờ, thiếu sự trân trọng điều tốt đẹp như bây giờ.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

Chuyện đi học đầu đời

Nhân thế gian đang um xùm vụ học lớp 1, sực nhớ ngày xưa cũ.

Hồi xưa ở miền Bắc, lứa sinh từ giữa thập niên 50 trở về sau tới thập niên 70, trước khi vào lớp 1 (hệ 10 năm theo kiểu Liên Xô) đều phải mất 1 năm tới lớp hẳn hoi để vỡ vạc chữ quốc ngữ (tiếng Việt). Khóa đào tạo đặc biệt ấy được gọi là lớp vỡ lòng. Ông anh họ tôi vốn hiệu trưởng trường cấp 1 xã, đùa bảo là lớp vỡ thình, ví như con chim non suốt tháng đầu được bố mẹ bón ăn, tới khi vỡ bọng cứt (thình là cái bọng cứt) thì mới có thể ra ràng bay khỏi tổ được. Nửa năm đầu học vần (tên gọi vỡ lòng), nửa năm cuối học viết chữ (tập chép).

Gõ đầu bọn trẻ ranh là thứ việc cực kỳ vất vả. Chúng là loại đối tượng rắn mày rắn mặt, còn khó dạy hơn cả thế lực thù địch bây giờ. Đứa nào đứa nấy mắt đầy dử (trong Nam gọi là ghèn), mũi thường trực thò lò hai dòng xanh lè, chốc đầu tinh những gầu và chấy, hay đánh gãy bút chì, uống nước lã thành thần, có đứa còn lén giấu khoai sống đem vào lớp ăn. Ngủ gật hơn cả đại biểu quốc hội. Trốn học như ranh. Gần như không đứa nào tử tế, mà dính đầy phốt, thậm chí quá nhiều tiền án tiền sự (đánh nhau, vặt trộm ổi táo nhà người ta, ném nhãn đình, tuốt đòng đòng ruộng hợp tác, mải chơi để trâu ăn mạ, đi rình ngó trộm các đôi trai gái ngắm trăng bên bờ cừ…).

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

Tự chủ đại học

Ở xứ này, đã thành thứ lệ ngầm, khi “người ta” nói cái gì, chỉ cần hiểu ngược lại sẽ có kết quả đúng. Chẳng hạn họ nói dân chủ gấp ngàn lần, sống và làm việc theo pháp luật, tự do báo chí, quyền của người dân được tôn trọng, nói công cuộc chống tham nhũng ngày càng thắng lợi, người dân tuyệt đối tin yêu đảng, v.v.., cứ hiểu theo cách ấy, chả cần phải lăn tăn nghi ngờ gì.

Chuyện họ rao giảng về tự chủ đại học, có nhẽ cũng nên nhìn như vậy. Nói tự chủ mà không phải tự chủ, thế vẫn là tự chủ. Triết học An Nam quẩn quanh tù mù khiến thiên hạ chả biết đâu mà lần.

Các ông các bà ấy, ý tôi muốn chỉ các đương sự, từ bộ chính trị, trung ương, chính phủ, bộ học tới các trường… gần đây luôn ra rả về tự chủ đại học. Sau bao năm trói chặt, thực hiện cơ chế bao cấp ngành giáo dục nói chung, đại học nói riêng, họ làm như đã phát kiến, khám phá ra chân trời mới, hô hào phải tự chủ đại học, cởi trói cho đại học, đưa đại học lên tầm cao mới. Tuy nhiên họ chỉ nói nhưng không làm, nếu có thí điểm một chút thì, như lão hàng xóm nhà tôi nhận xét, vừa đéo vừa run. Cái tâm thức, thói quen lệ thuộc, sợ sự đổi thay (không biết đổi thì sẽ như thế nào) bám chặt vào bộ não khô cứng rồi, dễ gì mà dám tự chủ, cởi trói.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

Quốc pháp

Tỉnh ủy Tuyên Quang, nhất là ông bí thư tỉnh, và những đảng bộ địa phương nào khác đã và đang có ý định may đồ vía, "áo quan" cho các đại biểu dự đại hội đảng (cứ nghe đến đại hội đảng là đã sởn gai ốc rồi) cần thành khẩn khai báo đã đôn giá lên bao nhiêu phần trăm, tham nhũng chiếm đoạt bao nhiêu tiền. Cả vụ 11 chữ ở Hòa Bình nữa. Cả vụ cặp da ở Quảng Bình, vụ bình tài lộc ở Quảng Trị, vụ quà ở Hà Tĩnh...

Cứ hình dung mà coi, trên mạng, cụ thể là trên phây búc này, những nhà may nổi tiếng (như một địa chỉ có tên OMEN chẳng hạn) mời mọc khách may nguyên bộ complet thật xịn, vải ngoại cực tốt, may cực đẹp, giá hàng trao tay chỉ 990.000 đồng (tức chưa đầy 1 triệu), lại tặng thêm chiếc cravate xịn nữa. Còn giá "áo quan" của Tuyên Quang những hơn 6 triệu, thế thì chúng ăn trắng trợn còn gì mà chẳng chửi.

Công an cần vào cuộc điều tra những vụ tham nhũng trắng trợn như thế, chứ đừng để dư luận, báo chí (như tờ báo Một Thế Giới chẳng hạn) phát hiện, phanh phui, lên tiếng, rồi để họ lí nhí vài câu này nọ là xong. Quốc pháp đâu phải chỉ đem xử đám dân đen ăn cắp con vịt, cái bánh mì, chiếc mũ, mà chính phải đem áp dụng với bọn tham nhũng này.

Đảng và đảng viên cũng chỉ là một bộ phận của xã hội, đừng coi đó là vương quốc riêng, bất khả xâm phạm, đóng cửa trong nhà bảo nhau. Phải bình đẳng trước pháp luật. Khi đã coi quốc pháp có khe hở thì dân sẽ chẳng xem quốc pháp là cái đinh gì nữa.

Nguyễn Thông

Nền giáo dục thụt lùi

Thỉnh thoảng dư luận xã hội lại rộ lên những chuyện về giáo dục, đủ mọi buồn vui, nhiều điều cười ra nước mắt. Nào quan chức quản lý giáo dục chẳng khác chi bụt đất, lúng ta lúng túng trong chiếc áo cơ chế, không có cách nào đột phá, thay đổi được những trì trệ hủ bại đã tồn tại suốt mấy chục năm. Nào trường không ra trường, lớp chả ra lớp, thầy chẳng ra thầy, trò cũng không ra trò. Nào thi cử lằng nhằng tốn công tốn của mà tiêu cực vẫn hoàn tiêu cực. Nào chương trình lạc hậu, sách giáo khoa độc quyền bòn rút túi tiền dân, giáo sư tiến sĩ giấy nhiều như lợn con vẫn chẳng nên cơm cháo gì… Bao nhiêu thứ xám xịt bôi lem bôi luốc bộ mặt giáo dục nước nhà, kéo dài hơn nửa thế kỷ.

Đôi khi ta nghe chút ai đó ngậm ngùi khi so sánh nền giáo dục của chế độ này với giáo dục thời thuộc Pháp hoặc thời Việt Nam cộng hòa. Cũng khó nói bởi “không có cái gì là toàn vẹn”, nhưng phải thừa nhận giáo dục cộng sản thua kém rất nhiều, nhất là so với thời Pháp. Nền giáo dục vốn bị cộng sản coi là thực dân, vong bản, mất gốc ấy đã tạo nên những cột mốc tày tặn, giá trị vững chắc cho đất nước này, mà không biết đến bao giờ mới lập lại được. Học vấn của những người ngồi trường Pháp, có nhẽ chả cần bàn cãi nhiều. Nền tảng đạo đức được tạo dựng ở mỗi con người, cũng không cần bàn. Tôi chỉ đưa ra một tiểu tiết để thấy cách giáo dục thời Pháp rất tuyệt vời: tất cả những ai học trường của nhà nước khi ấy, dù ở bất cứ đâu trên đất Việt, đều giỏi cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, và độc đáo nhất là chữ viết đều rất đẹp, giống nhau y đúc, bất kể do thầy nào dạy. Tôi cam đoan, nền giáo dục bây giờ, với những ông trùm như ông Nhân ông Nhạ, thì một tỉ năm nữa cũng không thể làm được “tiểu tiết” ấy.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

Ghét và thương

Cụ Nguyễn Đình Chiểu từng viết “Ghét đời U Lệ đa đoan/Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần/Ghét đời Ngũ bá phân vân/Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn”.

Tình trạng tham nhũng trong xã hội, xét cho cùng do chính bộ máy cai trị, cầm quyền. Đó là tầng lớp cán bộ hư hỏng, đặt cái tôi ích kỷ lên trên tất cả. Dân và nước không là gì đối với chúng. Đáng buồn ở chỗ loại này hơi bị nhiều, càng ngày càng nhiều, chống không xuể.

Đành rằng nước nào chẳng có tham nhũng, thời nào chẳng có tham nhũng, nhưng tham nhũng thành quốc nạn, thành dịch như ở xứ ta và bên Tàu thì ít nơi có. Để cả bộ máy cầm quyền hư hỏng thối nát như thế, trách nhiệm thuộc về “đảng lãnh đạo toàn diện”. Dân đâu có quyền, mà dân cũng chả có điều kiện tham nhũng. Chỉ những người mơ hồ, nhẹ dạ mới khen công cuộc chống tham nhũng của thể chế. Đúng ra phải lên án, rằng tại sao lại sinh ra những kẻ khốn nạn như vậy. Chúng là con đẻ của thế chế chính trị, đẻ ra quái thai mà lại còn được khen là sao.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2020

Ông bình vôi

Sinh thời, cụ Phan Khôi là người cương trực, thấy gì không nên không phải, trái tai gai mắt, cụ phê thẳng thừng. Chứng kiến đám quan chức, lãnh đạo ăn hại, chỉ ồn ào màu mè nhưng rỗng tuếch, cụ gọi họ là ông bình vôi. Cụ viết “Nhà tôi, hồi bà nội tôi còn sống, có cái bình vôi hạng sang ấy. Mỗi khi mua vôi ở chợ về, bà tôi ngồi tỉ mỉ lấy cái chìa quệt vôi nhét vào miệng nó, gọi là “cho Ông Bình ăn”. Và lâu lâu lại tắp thêm vào cái miệng nó một lần, hóa nên cái miệng càng ngày càng chêu vêu ra… Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cú rũ trên trang hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng “Ông”. (Giai phẩm mùa thu, 1956). Thực ra, cụm từ “ông bình vôi” này bắt nguồn từ nhà thơ Lê Đạt, một trong những yếu nhân của Nhân văn giai phẩm. Thi sĩ bực bội mà rằng “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi/Y như một cái bình vôi/Càng sống càng tồi/Càng sống càng bé lại”.

Mấy ngày qua, chứng kiến quá nhiều ông bình vôi, không thể không theo gương tiền nhân, cụ Phan và ông Lê, mà nói đôi nhời.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng (kỳ 6, cuối)

Súng trường CKC, K44, sau này cả súng tiểu liên AK47 ngoài phần bắn đều có chỗ lắp lưỡi lê. Tùy mỗi loại súng mà có lưỡi lê khác nhau. Lưỡi lê của K44 dài và nhọn như cái dùi có cạnh, cứng bén vô cùng. Tôi có lần đâm thử vào gốc cây dầu ở cổng trường Dự bị đại học trong phiên trực đêm cuối tháng 2.1979 sau khi xảy ra Trung Quốc tấn công biên giới phía bắc. Thầy hiệu trưởng đi họp về bảo phải tăng cường cảnh giác bởi trường ta đóng trên địa bàn phường 9 quận 5, nơi tập trung đông người Hoa nhất. Mỗi thầy giáo trong đội tự vệ được phát một khẩu K44. Thử lưỡi lê, cắm sâu tít vào thân cây, loay hoay mãi mới rút ra được. Như đã kể, khẩu súng ấy, với kẹp đạn rời 12 viên, tôi đem về căn hộ tự bảo quản, đến tối lại vác xuống đi rảo một vòng trong sân ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh, kể ra có nó cũng yên tâm.

Sẽ có lúc lịch sử tỉnh táo và khách quan nhìn nhận, đánh giá lại “sự nghiệp chống Mỹ cứu nước”, giải phóng miền Nam. Điều thấy rõ nhất là suốt thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70, lũ lượt trai tráng cả triệu lượt người từ Bắc kéo vào Nam để “giải phóng 14 triệu đồng bào miền Nam rên xiết dưới ách đè nén áp bức của Mỹ ngụy”, và gần như không có đoàn quân nào từ trong Nam ngược ra giải phóng miền Bắc cứu đồng bào miền Bắc đang bị tiến lên CNXH. Miền Bắc cấp người, còn súng đạn đã có 12 nước anh em phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, lo cho. Không nói ra thì ai cũng rõ, phe “thiên đường” này quyết đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng, cũng là một kiểu “Việt Nam hóa chiến tranh”, chứ đâu phải chỉ có tổng thống Mỹ R.Nixon chủ trương như thế.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng (kỳ 5)

Nói tới súng, nhất là súng trường, những người đã sống thời chiến tranh, dù trôi qua gần nửa thế kỷ, vẫn còn nhiều ám ảnh. Lứa thiếu nhi miền Bắc chúng tôi hồi thập niên 60 biết khẩu súng trường qua cả thực tế lẫn văn chương, sách trích giảng văn học. Ông Tố Hữu làm thơ ca ngợi các dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Hòa, Kpa Klơng, cao chưa bằng khẩu súng, nhưng “tay em một khẩu súng trường/mà như có cả quê hương đánh cùng”, bởi “tuổi mười bốn những ước ao/buổi đầu cầm súng biết bao là mừng…/súng này càng đánh càng hay/một tay em chấp mười tay quân thù”. Ngay cả đứa bé tí, theo mẹ đi chợ xuân, “mẹ mua cho bức tranh màu/yêu súng hơn bé chỉ lắc đầu/a, mẹ ơi cái súng xinh xinh/súng cầm tay bé bước nhanh nhanh”… Cứ như thế, đám chúng tôi chỉ say súng, chả cần biết giời đất. Nếu ai hỏi lớn lên ước mơ gì, phần lớn chỉ giả nhời được cầm súng.

Tôi đã từng quản một khẩu K44 hơn chục năm. Lại nhớ khu ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh cuối thập niên 70, đầu 80. Nó được chia làm 2 khu, phía ngoài, mặt tiền đường lúc đầu thuộc trường Dự bị đại học, vài năm sau bàn giao cho Bộ Đại học và THCN. Phía trong là khu tập thể giáo viên công nhân viên của trường. Chung nhà ăn, chung sân, chung lối đi lại, chung cổng. Hôm tôi mới nhận phòng ở, cuối tháng 4.1977, tức là 2 năm sau ngày “giải phóng” vẫn thấy dưới sân chất đầy những thứ mà bộ đội quân quản phá bỏ, như giường tủ bàn ghế, chưa được dọn. Không được dùng, phải bàn giao thì phá thôi. Tòa nhà vốn là khách sạn, trước tháng 4.1975 cho sĩ quan Đại Hàn thuê, nên gọi là khách sạn Đại Hàn, nằm trên đường Trần Hoàng Quân, với 2 hàng cây dầu (họ cây sao) thẳng tắp cao vút. Ông này là đại tá quân đội VNCH tử trận, được chính quyền đặt tên đường. Chính quyền mới thay bằng tên một võ quan khác, cao hơn hẳn, cho biết thế nào là tầm cỡ cách mạng, đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Đề nghị một cách nghiêm túc, chứ không đùa

Trên quả địa cầu này, chỉ trừ Vatican, còn nước nào cũng có đảng chính trị cầm quyền. Đảng càng tử tế, dân và nước càng được nhờ cậy.

Suốt cả năm nay, ở nước này, ngoài cuộc mưu sinh miếng cơm manh áo bắt buộc, người ta đã dành quá nhiều thời gian, sức lực, vật chất, tinh thần vào việc tổ chức đại hội đảng. Dù nó chỉ là một đoàn thể, một lực lượng chính trị nhưng nó đã làm cả xã hội bận bịu, tốn kém, mất thì giờ.

Tôi nhận thấy, không có thể chế nào thích họp hành như thể chế của những người cộng sản. Những năm 1920, nhà thơ cộng sản nổi tiếng V.Maiacovski của nước cộng sản khởi thủy Liên Xô (nay chỉ còn cái bóng) cũng phải thừa nhận cộng sản là “những người loạn họp”. Không ở trong chăn sao biết chăn có rận.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim (kỳ 3)

Chuyện kể rằng khi làm phim “Vợ chồng A Phủ”, đạo diễn Mai Lộc mời nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết nhạc. Ông Thương lúc này đã khá nổi tiếng trong làng nhạc, nhất là bài “Bình Trị Thiên khói lửa” thời chống Pháp. Trong nhạc tiền chiến (tức trước cuộc chiến 9 năm, 1945 - 1954), dòng nhạc mà cách mạng quy kết là ủy mị, tiểu tư sản trụy lạc, ông có vài bài được yêu thích, như “Đêm đông”. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, bài “Đêm đông” bị cấm tiệt, người ta chỉ dám hát lén với nhau. Có nghe truyền tai, chính ông Thương cũng không dám nhắc lại đứa con tinh thần ấy bởi sợ ảnh hưởng tới đường công danh.

Mà chả phải chỉ riêng nhạc sĩ Thương, tình trạng đó rất phổ biến trong giới văn nghệ. Ông Hoài Thanh trút hết cả tinh hoa để có cuốn “Thi nhân Việt Nam” (một cuốn sách chân dung, phê bình văn học, theo tôi cho tới nay chưa cuốn nào qua mặt được), vậy nhưng hồi 9 năm phải công khai lên tiếng từ bỏ nó. Những ông Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Phạm Văn Khoa, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi… đều na ná vậy. Miệng thì nói “nhận đường”, “cuộc hồi sinh kỳ diệu” (Chế Lan Viên), “cuộc lột xác rớm máu” (Nguyễn Tuân), “hôm nay học hết kỳ chỉnh đảng/thấy bốn phương ánh sáng lùa vào” (Xuân Diệu) nhưng có nhẽ cũng cay đắng lắm.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Hai ông Phương

Giữa trưa nay, bão số 5 đã nhạt dần thành áp thấp nhiệt đới, dù nó chỉ thọc vào miền Trung làm gẫy đổ cơ man cột điện, cây cối, tốc bao nhiêu mái nhà, nhưng cũng lan ra gây mưa gần khắp cả nước. Khi tôi đang lách cách mấy chữ này, Sài Gòn u ám sụt sùi suốt, định có tí việc chạy ra ngoài mà đành chịu. Thấy đứa cháu gọi vào bảo ở ngoải cũng mưa. Hà Nội đang tắm mưa, và chuyển lạnh. Tiết trọng thu sao cứ buồn buồn. Lật giở mấy trang báo điện tử, có cái tin buồn, nhạc sĩ Phó Đức Phương vừa mất. Trưa 19.9 tây lịch, tức mùng 3 tháng 8, mùa thu Canh Tý 2020.

Thế hệ sinh giữa thập niên 50 chúng tôi hầu như ai cũng biết tên tuổi hai ông Phương. Thực ra thì biết nhiều ông Phương lắm. 

Có ông Trần Phương trợ lý cho ông Lê Duẩn, làm tới phó thủ tướng thời bao cấp, đồng tác giả của “đặc sản” giá lương tiền. Những năm ấy có câu đồng dao “Thằng Phương thằng Truyến thằng Quỳnh/Ba đứa đồng tình bóp cổ nhân dân”. Truyến là ông Đoàn Trọng Truyến, Quỳnh là ông Trần Quỳnh. Tinh những đệ tử của ông Lê Duẩn nghìn nến. Ông Trần Phương còn được biết tới khi ông có cuốn sách tự kể chuyện đi tìm mộ người em gái họ Vũ bị quân Pháp giết hồi kháng chiến 9 năm (thực ra ông Phương họ Vũ chứ không phải họ Trần). Thế giới tâm linh, thần giao cách cảm, ly kỳ và éo le phết.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Tăng trưởng âm

Vốn biết thời nay việc sử dụng ẩu tả tiếng Việt đã như thứ bệnh mạn tính (lưu ý mạn chứ không phải mãn, tức là bệnh càng ngày càng nặng), nhất là ở các nhà báo (phóng viên, biên tập viên), đáng nhẽ kệ họ bởi có nói ra cũng chả chữa được, nhưng không nói thì lại thương tiếng Việt, giữ sự ấm ức trong lòng.

Nếu thỉnh thoảng coi tivi hoặc đọc báo mậu dịch, mọi người sẽ thấy họ (nhà báo) nói và viết rằng “nền kinh tế tăng trưởng âm”. Chả đâu xa, hôm qua tôi nghe trên tivi mậu dịch VTV1 nó ra rả mấy lần về tăng trưởng âm của kinh tế nhiều nước do đại dịch vi rút Vũ Hán (tôi cứ nói toẹt ra là vi rút Vũ Hán chứ không uốn éo nịnh Tàu như tay tổng giám đốc WHO). Còn trên báo thì đầy. Bác nào muốn biết, chỉ cần vào gu gồ (Google) gõ 3 chữ “tăng trưởng âm” thì ra ngay. Tinh báo tiếng Việt quốc doanh mậu dịch.

Tôi chẳng biết họ lôi từ đâu, dịch từ đâu ra cái cụm từ ấy. Chỉ biết là sai toét.

Đã nói tới tăng trưởng thì chỉ nhấn tới sự đi lên, phát triển, đạt được thành tựu, càng về sau càng mạnh hơn trước. “Tăng” nghĩa là thêm, thêm lên. Tăng tiến là thêm vào và hướng về phía trước. “Trưởng” là phát triển, trở nên vững mạnh.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2020

Súng nào chẳng là súng, nhưng cần biết phân biệt (kỳ 4)

Những năm đầu chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc, hầu như già trẻ lớn bé quân dân chính đảng ai cũng biết chuyện các cụ lão dân quân xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh dùng súng bộ binh bắn rơi tàu bay Mỹ. Cứ tạm lược bỏ những tô vẽ thêm, những huyền thoại được người ta gắn kết thêm vào để cho rực rỡ thì việc ấy là có thật.

Nói ai cũng biết bởi sau khi sự việc xảy ra, báo chí và đài tiếng nói Việt Nam phát liên tục những bài ca ngợi, đến nỗi đám trẻ con nhỉnh hơn chục tuổi chúng tôi ở tít tận Hải Phòng cũng nắm rõ mồn một. Cụ Hồ gửi thư khen, báo chí ca ngợi, văn nghệ sĩ chụp ảnh, sáng tác bài hát. Cái loa kim vỏ gỗ màu xanh da trời to bằng cục gạch treo trên tường phát liên tục bài “Hát mừng các cụ dân quân” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nghe riết cũng thuộc làu.

Chả là xã Hoằng Trường nằm gần cửa Lạch Trường chảy ra biển. Chỗ này bọn tàu bay Mỹ thường lợi dụng bay tầm thấp để tránh bị phát hiện, tới đất liền mới vọt lên vào thả bom. Các cụ nhà ta thành lập hẳn trung đội lão dân quân (hồi ấy chỉ ngoài 50 đã được lên lão), trang bị súng 12 ly 7 và súng trường K44, CKC trèo lên mỏm núi chờ. Mấy thằng Mỹ khờ chủ quan, mắc mưu các cụ, ngày 14.10.1967 bị các cụ xơi tái một chiếc F4 phản lực hiện đại (còn có tên Con ma), 10 ngày sau bắn góp vào với bộ đội cao xạ hạ thêm chiếc cánh quạt khu trục AD6 nữa. Cả nước sướng, nhất là xứ Thanh.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

Già và trẻ

Phàm đã là người lãnh đạo, thế nào cũng nói nhiều. Càng làm to càng nói nhiều, tới mức lải nhải điếc tai.

Chả riêng gì xứ An Nam ta, đâu đâu cũng thế.

Các ông bà ấy, nhất là mấy cụ cộng sản, lúc nào cũng ra rả đề cao tuổi trẻ, tuổi thanh niên sôi nổi, tuổi trẻ là tương lai đất nước, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội... Chỉ thiếu điều họ bảo tuổi trẻ là giời, thánh thần phật tiên.

Theo họ, tuổi trẻ làm được đủ mọi thứ, nhưng chỉ không được làm lãnh đạo, bởi non, yếu, không có kinh nghiệm, thiếu chín chắn, và đặc biệt thiếu thứ quan trọng nhất là... tuổi già.

Cứ phục vụ cống hiến cho tốt đi, bao giờ già, cho làm lãnh đạo.

Chuyện giếng làng (kỳ 2)

Làng Trà Phương (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) quê tôi những năm xa ngái ấy, thập niên 1960 - 1970. Nói nhại câu thơ của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm, khi ta lớn lên cái giếng đã có rồi.

Trong từ Hán Việt có chữ “hương”, nghĩa là làng, quê. Lại có chữ “thôn” cũng có nghĩa là làng (lâu nay nhiều người cứ tưởng thôn là từ thuần Việt). Nói làng Trà Phương hay thôn Trà Phương đều chung một nghĩa. Câu thơ “Ngày mai về lại thôn hương”, tức là về làng, về quê. Khi từ “hương” để chỉ quê thì nghĩa của nó khá rộng, vượt ngoài phạm vi một làng, một thôn. Đồng hương là những người cùng quê, có khi quê là tỉnh, huyện, xã. Hội đồng hương Kiến Thụy (là của người cùng một huyện), hội đồng hương Hải Phòng (cùng một thành phố). Hồi hương là về quê. “Cố hương”, một truyện ngắn nổi tiếng của Lỗ Tấn viết về quê cũ (cố) qua ký ức đứa trẻ thơ. Hương quan là cái cổng làng. Người không sống ở quê gọi là tha hương. Tha có nghĩa là người khác, tha hương là quê người khác. Sống tha hương là sống quê người khác chứ không phải quê mình. Cũng không ít người nhầm chữ tha, tưởng đó là tha thẩn, lang thang. Bên Tàu đất rộng, một hương (thôn, làng) của nó tương đương với một huyện bên ta, một huyện bằng vài tỉnh ở ta, một tỉnh có khi bằng cả nước ta, tỉnh Tứ Xuyên chẳng hạn, rộng 485.000 cây số vuông, gần gấp đôi VN. Trưởng thôn của nó quyền hành ngang với chủ tịch huyện xứ ta. Tôi có ông bạn người bên Thủy Nguyên, ở xã Tân Dương, tên Đào Gia Thiệp, đầu thập niên 80 đang học dở nghề thầy giáo bỏ học về quê làm trưởng thôn. Tôi cũng có ông cháu họ làm trưởng thôn Trà 2 khóa liền, do dân tín nhiệm bầu trực tiếp (chứ không hình thức bầu lấy được kiểu quốc hội chả biết đâu mà lần). Gặp nhau, tôi bảo với hai tay trưởng thôn ấy, các ông oai không kém gì chủ tịch huyện, nếu ở bên Tàu. Bọn hắn cứ ngớ ra.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

Người chép sử bặt đi đâu cả

Nước An Nam ta, cứ thiên hạ thế giới có cái gì thì ta cũng có thứ ấy, thậm chí còn nhiều hơn, dù chả để mần chi.

Hồi xưa, mỗi triều đại chỉ cần vài người có nhiệm vụ chép sử, gọi là thái sử công. Mọi điều xảy ra đều được biên ghi lại một cách trung thực. Không có thế lực nào, ngay cả vua, cấm được họ, bắt họ chép sai. Sử đã chép được coi là thứ thiêng liêng, vua cũng không được sửa, chứ nói gì đám cá cậy vây, cua cậy càng.

Thời Chiến Quốc, thái sử Bá chép việc Thôi Trữ giết vua, bị họ Thôi chém ngay. Hai em của Bá là thái sử Trọng, thái sử Thúc tiếp tục chép đúng như thế đều lần lượt bị chém. Người em út là thái sử Quý nối tiếp (bởi bắt buộc phải có người chép sử, không thề bỏ trống) lại biên y sì như vậy. Thôi Trữ quát ngươi không sợ chết à, Quý trả lời chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận để mà sống thì chẳng thà chết còn hơn. Thôi Trữ đành chịu thua, không phải là thua Quý mà thua người chép sử, thua bản chất của lịch sử.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Ngu dân

Thời thuộc Pháp, phe cách mạng thường tuyên truyền bọn thực dân rất thâm độc, chúng thi hành chính sách ngu dân khiến con người mất trí, cam chịu, chấp nhận sự đè nén. Để thực hiện ngu dân có kết quả, bọn đế quốc sài lang ấy ngăn cản sự học hành mở mang đầu óc, bưng bít thông tin, tăng cường trấn áp đe dọa, thậm chí dùng đến cả thuốc phiện, rượu, tôn giáo, lối sống trụy lạc… Tức là cứ có thứ gì xấu là nhét hết vào tay nó, quy cho nó gây tội ác. Mày đã thế, thì ông kêu gọi dân chúng làm cách mạng quật mày xuống, cướp chính quyền, cho chừa cái thói ngạo nghễ, ngu dân đi, Pháp ạ.

Cụ Nguyễn Trãi xưa bảo “Phúc chu thủy tín dân do thủy”, lật thuyền thì mới biết sức dân mạnh như sức nước. Nâng được thuyền, hay lật đắm thuyền, đều do dân vậy, “tải chu, phúc chu giả, dân dã”. Nhưng chứng kiến ách thống trị của bọn Pháp kéo dài, cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu phải chua chát thốt lên rằng “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn/Cho nên chúng nó dễ làm quan”.

Súng nào mà chẳng là súng nhưng cần biết phân biệt (kỳ 3)

Một số vị, có nhẽ từng lăn lộn đời nhà binh, kiến thức quân sự đầy mình thủng thẳng nhắc tôi, bảo ông biết gì về súng đạn mà viết. Vâng, tôi chưa trải qua nghiệp lính nhưng sống suốt thời chinh chiến, súng đạn to nhỏ đùng đoàng đinh tai nhức óc, mắt nhìn súng, tai nghe tiếng súng, tay rờ nhiều thứ súng, chứng kiến cả con người chết bởi súng, nên cứ biết tới đâu biên tới đấy thôi. Có gì sai, không nên không phải, chỉ mong nhận sự góp ý phê bình.

Hôm trước nói tới đâu rồi nhỉ. Chuyện dân quân xã tôi (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng) tháng 11.1967 trực chiến trên đỉnh núi Chè, dùng súng trường góp đạn vào việc bắn rơi một chiếc tàu bay AD6 lặc lè bom bay ngang qua. Thấy ông Nam lùn trung đội phó dân quân còn kể ngồi trên đỉnh núi ngó rõ mồn một thằng phi công trong buồng lái. Bắn rơi máy bay hiện đại của Mỹ bằng súng trường, như chuyện thần thoại. AD6 vốn là loại máy bay ném bom phổ biến hồi những năm đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc. Chính tướng phi công Nguyễn Cao Kỳ cũng từng cưỡi một chiếc AD6 bay ra thả bom xuống thị xã Đồng Hới (Quảng Bình) bị trúng đạn cao xạ sém chết, may mò về lại được sân bay Nước Mặn (Đà Nẵng). Chả biết hồi thập niên 90 ông ta được mời về nước để hòa giải hòa hợp dân tộc, có ai nhắc lại với ổng chuyện này.

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Tuyên giáo

Nếu muốn biết bộ mặt thật của Ban Tuyên giáo và tòa án xứ này, cứ đọc đoạn chỉ đạo báo chí truyền thông từ đám tuyên giáo thì rõ.

Tôi nói thật, loại như Võ Văn Thưởng tôi không chỉ khinh mà không coi là người. Thế mà cũng có những người há hốc mồm ra ngồi nghe y cao giọng dạy dỗ này nọ. Tôi thách y có giỏi thì công khai lên tivi tranh luận, mỗi bên được hỏi nhau 10 câu xem trả lời như thế nào.

Những ai còn lú lẫn, mơ hồ tin vào báo chí tivi loa đài mậu dịch thì nên xem xét lại. Cả luật pháp xã hội chủ nghĩa nữa, cũng cần mổ xẻ luôn. Dân chúng đã tốn cơm nuôi một lũ khốn.

Dưới đây là chỉ đạo của y về vụ xử Đồng Tâm khi tòa chưa xử.

Ở mục 1.8 (trang 3), văn bản chỉ đạo của Ban Tuyên giáo trung ương (trích nguyên văn):

Chuyện giếng làng

Hôm trước về quê, Nguyễn mỗ tranh thủ lúc chưa có lệnh cách ly tại chỗ, xách xe chạy lên núi Trà thăm cảnh cũ. Chỉ cảnh cũ thôi chứ không có “người xưa” bởi khi xa ấy còn thò lò mũi xanh. Núi Trà Phương không khác gì cái kho chứa cả thế giới tuổi thơ của tất tật trẻ con trong làng.

Kiến Thụy đất Hải Phòng là huyện ven biển thuần nông, sông trôi lờ lững, ruộng đồng xanh ngắt, chả hiểu sao tự dưng thò lên hai quả núi. Giá cứ như vùng Thủy Nguyên, Đá Bạch, Tràng Kênh nối vào với Đông Triều, Quảng Yên, hoặc lùi xuống Đồ Sơn, Cát Bà, Cát Hải đã đi một nhẽ. Núi có mạch, sông phải theo dòng. Đằng này, đang phẳng đang lặng, vụt lên hai ngọn đá tách ra riêng rẽ, như thách thức không gian. Núi Chè ngự trên đất làng Trà Phương nên còn gọi núi Trà, còn núi Đối hộ khẩu thường trú bên làng Đối, tên chữ là làng Xuân La, nơi có di tích Văn miếu nổi tiếng vùng duyên hải. Ông anh Vũ Lệnh Năng đồng môn người Cốc Liễn đang làm “Miếu trưởng” Văn miếu Xuân La, còn cô giáo Phạm Thị Dừa học giỏi văn khét tiếng đất Phòng có thời đóng chức hiệu phó trường cấp 3 chuyên Trần Phú, nhà chỉ cách văn miếu vài chục bước chân. Hơi văn thấm vào từng tế bào các vị ấy. Mấy chục năm nay, chính quyền và nhân dân đã trồng cây bạch đàn phủ xanh hai rặng đá Chè - Đối, ngắm thật mát mắt.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim (kỳ 2)

Kỳ 1 đã nói rồi, đó là phim “Vợ chồng A Phủ” của đạo diễn Mai Lộc, các vai chính A Phủ và Mỵ do Trần Phương, Đức Hoàn đóng, phim đen trắng, chiếu rộng rãi năm 1961, tới năm 1973 được giải Bông sen bạc. Nhắc lại như thế để ai chưa đọc phần đầu dễ hình dung.

Điều cốt lõi làm nên thành công của phim này là tác phẩm cùng tên, truyện vừa “Vợ chồng A Phủ” của “đại văn thụ” Tô Hoài. Chính cụ Tô là người chuyển thể sang kịch bản phim, và giời ạ, cũng là người viết lời cho bản nhạc “Bài ca trên núi” trong phim. Có lần tôi gặp chị con gái cụ vào công tác trong Sài Gòn, chị Nguyễn Sông Thao, bảo chị ạ, ông cụ nhà chị đúng là thứ núi Thái Sơn trong văn chương xứ này. Chị Thao cười bảo thì vưỡn. Tôi lại lí nhí thế mà chị chả kế thừa được cụ tí nào, chị lườm cho một phát tưởng rách mắt, hì hì.

Hồi đầu thập niên 60, chả hiểu ai cho hay mua, tủ sách cỏn con nhà tôi có cuốn “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài, gồm 3 truyện vừa: Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ, Cứu đất cứu mường. Truyện nào cũng hay. Không hiểu sao, chẳng riêng gì Tô Hoài, các cụ thời ấy lại tài, viết nhanh và hay đến thế. Còn nhớ cái bìa sách vẽ hoa văn hình cái cây vuông vuông, kiểu trang trí của người Thái Tây Bắc. Đọc nát cả ra, tới mức phải lấy cơm dán chằng dán đụp. Sau không biết nó bị chuyền tới fan nào của Tô Hoài rồi mất hút. Giờ mà còn, đem bán cho cô Sông Thao để bày trong cái nhà lưu niệm cụ thân sinh chắc được ối tiền.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2020

Gieo gió gặt bão

1. Tiệc và máu

Thấy người ta đang hớn hở tổ chức đại hội đảng và mở phiên tòa xử những người dân giữ đất ở Đồng Tâm, tôi lại nhớ tới chuyện cụ Đoàn Phú Tứ, thế hệ tôi hầu như ai cũng biết.

Thời kháng chiến chống Pháp, năm 1950, đại biểu quốc hội, nhà thơ Đoàn Phú Tứ được đại tá Trần Dụ Châu cục trưởng Cục Quân nhu (tương đương trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần bây giờ) mời dự đám cưới do đích thân Châu tổ chức cho đàn em. Một đám cưới xa hoa chưa từng có.

Trong tiệc cưới, cụ Tứ khi được mời đọc thơ đã hiên ngang chửi thẳng vào mặt Châu và đồng bọn: "Bữa tiệc mà chúng ta sắp chén đẫy hôm nay/Được dọn bằng máu xương chiến sĩ".

(Nói thêm: Sau đó, Trần Dụ Châu bị tử hình. Y là kẻ tham nhũng đầu tiên của chế độ này bị ra tòa, mở đường cho dòng cán bộ tham nhũng càng ngày càng đông đảo. Có nhẽ đám cán bộ đảng viên tham nhũng cần phải lập miếu thờ Châu là ông tổ của cộng sản tham nhũng.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng nhưng cần biết phân biệt (kỳ 2)

Còn có cả chuyện chị Nguyễn Thị Chiên du kích Thái Bình, thèm súng lắm nhưng chưa tìm được cơ hội. Bài học lớp 2 viết rằng “Hôm ấy giặc đi càn đông. Chị Chiên cùng trung đội du kích đã phục sẵn. Tên quan ba Pháp lò dò đi vào trận địa. Bắn nó thì lộ, bọn giặc có thể bao vây lại ta. Chị xông ra, nhanh như cắt, chạy sát tới nó giật khẩu tiểu liên chĩa vào nó bắt hàng…”. Sách giáo khoa cứ rủ rỉ kể như vậy, đám chúng tôi sướng quá, nức nở khen tài thật, tài thật. Tất nhiên tên quan hai Pháp phải đầu hàng, còn chị Chiên sau này được phong anh hùng, nữ anh hùng đầu tiên của xứ ta thời hiện đại, đợt phong anh hùng đầu tiên của chính quyền cách mạng, năm 1952, cùng với Nguyễn Quốc Trị, Cù Chính Lan, La Văn Cầu (đánh nhau), Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh (lao động). Thời bao cấp thập niên 80 sống khó quá, nghe kể bà Chiên bung ra làm ăn, nổi tiếng với việc nuôi chó cảnh Nhật, bán lời lắm. Bà Chiên mất năm 2016.

Nhắc tới súng trường, tôi đã từng nhìn tận mắt những khẩu súng cổ lỗ sĩ của dân quân xã, như mấy khẩu mút cơ tông (kiểu Pháp), trung chính (của quân Tưởng Giới Thạch), chủ yếu đem ra cho dân quân tập bắn, ngắm, bóp cò chứ không thấy nổ lần nào. Có lần chị gái tôi trong tiểu đội nữ dân quân còn khoác cả khẩu mút cơ tông về nhà, oai lắm. Thày tôi bảo đừng sờ vào đó, súng đạn vô tình, chứ hay ho gì. Khi Mỹ đưa máy bay ra ném bom miền Bắc thì dân quân các xã được trang bị súng tốt hơn, để bắn máy bay. Cũng vẫn chỉ là súng trường thôi nhưng hiện đại hơn, như CKC, K44. Súng cũ không có hộp tiếp đạn, bắn viên nào, lắp viên ấy, nhưng CKC và K44 có hộp tiếp đạn chứa khoảng 6 - 8 viên. Tôi dân ngoại đạo vũ khí nên cứ nhớ láng máng vậy (cũng như ở bài kỳ 1 có ghi đạn đại liên 12 ly 7 to gần bằng cổ tay, bởi lúc trẻ con thì thấy đạn ấy là to lắm rồi, đại cơ mà, thực ra 12 ly 7 chỉ nhỉnh hơn cây bút dầu viết bảng bây giờ, chứ cao xạ 37 ly mới cỡ cổ tay, hì hì).

Cải cách ruộng đất, Đồng Tâm, và báo chí

Hôm nay 7.9, nhằm ngày 20 tháng cô hồn, mùa thu cách mạng, nhà cai trị lôi những người dân giữ đất ở xã Đồng Tâm ra xét xử. Khi quyền lực và súng đạn trong tay, xã hội vô pháp vô luân, họ muốn làm gì mà chả được.

Lại nhớ, gần 70 năm trước, xứ này chịu nạn, vướng tấn bi kịch khủng khiếp, tới giờ vẫn còn ám ảnh sau bao thế hệ. Đó là trận cuồng phong tàn phá tận gốc xã hội và con người, chính quyền gọi nó bằng cái tên cuộc cách mạng long trời lở đất, nói nôm na là cuộc cải cách ruộng đất.

Nhà cầm quyền làm gì họ cũng cho là đúng, không có sai. Khi họ tổ chức đấu tố và bắn giết, hệ thống báo chí vừa ca ngợi "chính nghĩa cách mạng", vừa a tòng a dua với súng đạn, lên án các bị cáo, góp phần không nhỏ vào sự giết người man rợ. Mỗi chữ như một đọi máu. Nhan nhản những bài kiểu "Địa chủ ác ghê". Trong hoàn cảnh ấy, không ai có thể cãi lại được chuyên chính vô sản và báo chí một giọng. Tới khi cải cách ruộng đất hiện nguyên hình là cỗ máy chém tàn bạo, phải sửa sai, người ta nhận ra rằng báo chí đã tự bôi gio trát trấu vào mặt nó, vết nhơ đầy máu không thể nào rửa sạch.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2020

Khen vuốt ve nhau để làm gì

Hôm qua 4.9, Bộ Chính trị làm việc với dàn lãnh đạo TP.HCM. Cứ như truyền thông báo chí quốc doanh thì khen nhau dữ lắm. Có nhẽ họ bàn nhiều chuyện nhưng không thấy báo chí nói gì đến việc giải quyết dứt điểm vụ Thủ Thiêm, miếng gân gà khó nuốt. Cũng chả nghe họ có đề cập gì tới mức Sài Gòn phải đóng góp ngân sách theo tỷ lệ bao nhiêu... Đó là những điều mà đông đảo người Sài Gòn muốn được bạch hóa.

Tôi lại quan tâm tới chuyện khác. Bộ mặt của thành phố mà chính cụ chủ tịch nước hôm qua cũng nhắc lại rằng nó từng là "hòn ngọc của Viễn Đông", nhưng giờ đây dưới sự cai quản của những vị vừa được khen, quả thật ngọc đâu chả thấy, chỉ thấy nhếch nhác, gớm ghiếc vô cùng. Đừng có dòm lên những khối nhà cao tầng để bảo rằng đã có đô thị hiện đại, văn minh, đáng sống. Khoan hẵng đề cập tới những thứ này nọ, chỉ món vệ sinh môi trường và lòng lề đường lộn xộn, bẩn thỉu, bị chiếm dụng tùm lum thôi cũng đủ biết cái “tài” của mấy đương sự cai trị. Không ai bảo được ai, từ cấp thành phố tới cấp phường. Anh nào cũng nói hay nói tốt nhưng thực tế tệ hại sờ sờ trước mắt, ngay trong phạm vi quản lý của mình thì “có mắt như mù”, rất vô trách nhiệm.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

Ngồi xổm trên pháp luật

Việc đảng cử cán bộ hạt giống (mà họ là chiến lược) về các tỉnh làm bí thư, phó bí thư (giống như một dạng quan toàn quyền) là chuyện riêng của đảng. Với tư cách phó thường dân nhưng là một cử tri chính hiệu, tôi không... can thiệp vào việc riêng của tổ chức, các ông muốn làm gì thì làm.

Nhưng các ông cử hạt giống về, rồi ép địa phương phải làm thủ tục chiếu lệ, bầu họ làm chủ tịch, phó chủ tịch bên chính quyền thì đó chỉ là thứ mưu mẹo đặt địa phương vào sự đã rồi, là chuyện hết sức nhố nhăng. Các ông đã đổ khuôn, thì bố đứa nào dám làm trái, không bầu.

Từ sự vi phạm trắng trợn đó, dẫn tới chuyện bộ 4T hôm qua còn công khai biệt phái cán bộ, chả khác gì cử đặc nhiệm, về Hậu Giang làm Giám đốc sở 4T (Thông tin - Truyền thông). Rất vớ vẩn.

Đừng nói là đã có những quy định cho phép như thế. Quy định là do con người đặt ra, nhưng quy định nào cũng phải tuân theo hiến pháp và pháp luật (đó là chưa nói hiến pháp cũng còn điều nhí nhố, và đề ra một đằng, thực hiện một nẻo). Nếu cứ xé rào vậy, ông bà nào cũng có quyền ngồi xổm lên pháp luật, thì tốt nhất cứ giải tán Hội đồng nhân dân các cấp đi, thậm chí giải tán cả quốc hội cũng được, sau đó thoải mái đặt ai vào ghế thì đặt, đỡ phải mưu mẹo, mang tiếng với đời.

Nguyễn Thông

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Súng nào mà chẳng là súng nhưng cần biết phân biệt

Nhiều bản báo (in và điện tử 4.0) hôm 24.8 có cái tin về tay tổng thống độc tài ăn gian ở Bạch Nga Belarus sợ người biểu tình nên phải kè kè khẩu súng trên người. Sao chưa thấy các nhà lãnh đạo xứ ta gửi điện chúc mừng “dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đồng chí, chúc đảng và nhân dân giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa” nhỉ. Hay là sợ dây với hủi.

Khẩu súng mà y đeo là khẩu AK, của nhà chế tạo Kalashnikov, loại tiểu liên lừng danh thế giới. Khổ, súng ấy thì ai chả biết, đến đứa trẻ con nó cũng rành AK là tiểu liên, vậy nhưng các bố báo nhà ta thì cứ gọi là súng trường, súng trường AK.

Nó là thế này. Lâu nay cách gọi vũ khí súng đạn ở xứ ta phần lớn thông qua từ Hán Việt. Căn cứ vào hình dạng khẩu súng và tính năng, đặc điểm của nó mà đặt thành tên. Nào là: hỏa tiễn, đại bác, lựu pháo, cao xạ, đại liên, trung liên, tiểu liên, súng trường… Gọi là tiểu liên, trung liên… bởi căn cứ vào khả năng bắn liên tiếp và độ to của nó. Tiểu liên có băng đạn vài chục viên, bóp cò mà giữ cò thì ra xổ cả tràng. Bộ đội ta, có những anh rất giỏi, dùng được cả tiểu liên để bắn điểm xạ, trúng phát một. Trung liên to hơn một chút, có hai càng để dựng cho vững, hộp đạn tròn chứa cả trăm viên. Anh hùng Bế Văn Đàn đã “lấy thân mình làm giá súng” cầm hai càng trung liên cho anh Pù bắn (có câu hát: hoa ban chan bao nước mắt anh Pù, nhưng gần như chả ai biết anh ấy) bởi lúc ấy chiến hào không có chỗ đặt.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Chuyện loanh quanh một bộ phim

Chiều 30.8 tây, trúng tháng cô hồn, trong mưa ngâu khi khoan khi nhặt, thiên hạ thong thả lần bước bên nhau tiễn đưa một người về cõi vô cùng. Chiều tiễn biệt khi đợt dịch Cô vít vẫn còn căng nên ai nấy đeo khẩu trang. Âu cũng là đặc điểm của một đoạn khúc khuỷu trong dòng thời gian. Người ấy là diễn viên, đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Trần Phương, trụ thế vừa tròn 90 cái tết trung nguyên, rằm tháng 7.

Nói tới Trần Phương nhiều người không biết dù ông rất nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân. Ở ta nghệ sĩ nhân dân hơi bị nhiều, đạo diễn diễn viên lại quá nhiều nên sự không biết cũng chả nên trách. Nhất là thời gian đã trôi đi cái chặng ông nổi tiếng cũng mấy chục năm rồi. Nhưng đám chúng tôi, thế hệ đẻ vào thập niên 50 và cả 60, 70 nữa thì chả mấy đứa không thấy ông. Có khi chưa rành về diễn viên Trần Phương nhưng đảm bảo nắm chắc nình nịch về anh chàng A Phủ trong bộ phim có tên “Vợ chồng A Phủ”. Nhiều lúc chúng tôi đùa nhau lứa mình là lứa A Phủ, mặc quần thủng đít đi xem A Phủ. Vì vậy, bây giờ nhiều khi thấy buồn cười và vui vui khi nghe mấy đứa con gái bảo “này, để Mỵ nói cho mà nghe”. Sức sống của nhân vật văn chương thật lâu bền. Hình như mặc nhiên những cái tên A Phủ, Mỵ đã là thứ riêng, không đụng hàng. Giả dụ giờ có đứa con gái nào bố mẹ nó đặt cho tên là Mỵ, người ta cũng cứ quy vào vợ chồng A Phủ, làm gì có Mỵ thứ 2.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

Cứ nói điều mình cho là đúng

Trong xã hội dân chủ, mỗi người đều có quyền biểu đạt suy nghĩ của mình. Không nên ép buộc nhau, bởi suy nghĩ của mỗi người mỗi khác. Thấy người khác trái ngược ý mình cũng đừng lấy làm phiền, mà nên tôn trọng cách hiểu của họ. Chính vì vậy, tôi chả mấy khi chê bai các dư luận viên hoặc những người như Trần Nhật Quang (mà thiên hạ gọi là Quang lùn) khi họ có quan điểm riêng. Tất nhiên về tư cách và thái độ (chửi bới, lăng mạ) mà họ thể hiện thì không phục.

Rất nhiều điều, cứ nói ra là nhận sự phản ứng trái chiều ngay. Kệ, mình cho là đúng như mình nghĩ thì viết ra thôi.

Nhiều năm qua, Bộ GD-ĐT đã rất vô trách nhiệm khi bật đèn xanh, buông lỏng, để mặc các địa phương, các trường bắt học sinh phải tựu trường, đi học sớm ngay trong hè, ngang nhiên cướp đoạt những ngày nghỉ hè quý báu của học trò. Học chán chê rồi mới khai giảng, khai trường. Túm lại là rất vớ vẩn.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

Làm người là khó

Bốn chữ nói trên không phải tôi nghĩ ra, mà của cụ Đoàn Duy Thành, một nhân vật kỳ lạ trong kịch sử Việt Nam hiện đại. Cụ Thành từng là bí thư Hải Phòng quê tôi, vị tổng quản được nhất của đất Phòng từ xưa tới giờ. Chuyện về cụ hẵng gác lại, có dịp kể sau.

Ở Hà Nội đang diễn ra cái triển lãm nho nho nhưng ý nghĩa về lịch sử của tấm quốc huy Việt Nam, thực ra là về họa sĩ sáng tạo nó, cụ Bùi Trang Chước. Một cái tên nghe vừa lạ vừa quen.

Rất nhiều người không biết cụ Chước. Ngay thế hệ chúng tôi sinh giữa thập niên 1950 cũng ít tỏ về cụ. Càng về sau lại càng mờ mịt. Cụ như vầng sáng bị che phủ bởi đám mây đời u tối.

Hồi xưa, nói thế chứ thực ra cũng chả xưa gì, chỉ thập niên 60 - 70 thôi, nếu có ai mày mò tìm hiểu về hội họa, về thế hệ họa sĩ được đào tạo từ thời Pháp, trưởng thành dạo 9 năm, thường chỉ nghe nhắc Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, Phan Kế An… chứ bặt cái tên cụ Chước, Bùi Trang Chước. Một phần do lĩnh vực, khuynh hướng sáng tác (cụ Chước chỉ chuyên về đồ họa), nhưng phần lớn do cách đối xử của chế độ đối với con người.

Chuyện truyền đơn (kỳ 2)

Hồi bé, học cấp 1 trường làng, đám trẻ con chúng tôi đọc trong sách tập đọc hoặc được nghe người nhớn kể về những chiến sĩ cách mạng rải truyền đơn kêu gọi dân chúng chống Pháp chống Nhật, đánh đổ phong kiến. Chỉ nghe và biết vậy thôi chứ chả biết mặt mũi tờ truyền đơn nó thế nào. Làng Trà Phương quê tôi có ông Sơn ông Hoạt đi hoạt động cách mạng, rải truyền đơn, Pháp bắt được đánh cho gần chết. Hai ông bị giam, đều trốn ra, tiếp tục hoạt động, rải truyền đơn, khi hòa bình làm bí thư, chủ tịch xã. Ông Sơn còn là người “đầu têu” khoán hộ từ năm 1967 ở vùng duyên hải, cùng thời với ông Kim Ngọc trên tỉnh Vĩnh Phúc, sau nhập với Phú Thọ thành Vĩnh Phú, sau lại tách ra thành Vĩnh Phúc, rất loằng ngoằng. Thời đổi mới, ông Kim Ngọc được giải oan, phong anh hùng. Còn ông Sơn bị khai trừ đảng, cách hết chức vụ bởi tội đi ngược con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Số phận con người, mỗi người mỗi khác, chả biết thế nào mà lần.

Tới năm 1964, máy bay Mỹ đánh ra miền Bắc, vài năm sau thì đám chúng tôi tận mắt thấy truyền đơn, thậm chí còn cầm trên tay, nhặt đem về đọc. Không phải của cách mạng rải, mà do máy bay Mỹ thả. Cứ tưởng nó chỉ ném bom, ai dè cũng biết chơi món truyền đơn.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

Học văn, chấm văn

Trong các môn học ở nhà trường, văn luôn được coi là môn chính, cùng với toán. Thậm chí ngày xưa, xưa xửa xừa xưa, chỉ học mỗn môn văn, bắt đầu từ “nhất là một, nhị là hai” rồi tam tự kinh, rồi đến tứ thư ngũ kinh, cứ thuộc kinh sách như cháo, sôi kinh nấu sử thật nhừ là có thể đi thi, giành lấy cái bảng vàng trạng nguyên bảng nhỡn. Chả cần toán lý hóa sinh siếc gì cho mệt.

Văn mặc nhiên được coi là thứ tiêu chuẩn để đánh giá con người, cả về tri thức và đạo đức. Hồi xưa khen nhau, ai đó được xếp vào hạng “văn hay chữ tốt” không khác gì bây giờ được phong giáo sư tiến sĩ, anh hùng, huân chương Hồ Chí Minh, danh hiệu nhân dân này nọ.

Hồi tôi bắt đầu đi học (thực ra chả muốn học, chỉ muốn chơi hoặc đi đánh dậm, nhưng thày bu cứ ép, bảo “nhân bất học bất tri lý, ấu bất học lão hà vi” – người mà không học không biết được lẽ đời, lúc còn trẻ con mà không đi học, rồi khi già làm được trò gì). Bu còn đèo thêm, nó không đi học, sắm cho nó cái cặp tre và cái giỏ để đi nhặt cứt, sau này nhớn lên cũng chỉ ra Phòng đạp xích lô như cậu Đại là cùng. Chả là trong làng có ông Đại, nhà nghèo, mấy anh em không học hành gì, ông có hai anh là ông Bình, ông Vọng đều ra Phòng đạp xích lô, 3 anh em xích lô chuyên nghiệp. Tôi không sợ theo ông Đại, còn muốn ra Phòng tung tẩy là khác, nhưng hãi phải đi nhặt cứt.

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

Lại lằng nhằng đất quân đội

Đối với người nội trợ, tức người dân bình thường đúng nghĩa, những thông tin ấy như sét đánh ngang tai. Nghe tin bỗng thấy bàng hoàng/Siêu thị đang bán chuyển sang mất... mặt bằng.

Chả là hồi tháng 6, đại siêu thị Big C trên đường Tô Hiến Thành quận 10 Sài Gòn tuyên bố phải đóng cửa bởi bên cho thuê đất tăng giá thuê. Không chịu nổi thì đành đóng thôi.

Lại cách nay vài hôm, Saigon Co.opMart (hệ thống siêu thị phục vụ dân sinh lớn nhất nước) thông báo sẽ chấm dứt hoạt động siêu thị Cống Quỳnh, siêu thị đầu tiên ở VN, sau 24 năm tồn tại. Lý do: Bị đòi mặt bằng.

Điều đáng nói, hai mặt bằng của hai siêu thị ấy đều là đất quân đội, còn gọi là đất quốc phòng. Chúng lọt thỏm trong thành phố đông dân cư.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Tại ngoại hậu tra

Hôm 11.7, công an ban lệnh khởi tố tay phó chủ tịch thành phố HCM Trần Vĩnh Tuyến về tội “tham nhũng”. Trúng ngày thứ bảy cuối tuần, tin tức đang hẻo, báo chí như bắt được vàng, đồng loạt khai thác sự kiện nóng này. Tôi ngồi trên xe khách lắc lư từ Bảo Lộc về, mắt nhắm mắt mở do say xe, đọc cái tít của “tờ” Vietnamnet, rằng “Ông Trần Vĩnh Tuyến được tại ngoại hầu tra”. Chán, báo với chả chí, chữ với chả nghĩa.

Những người làm trong cơ quan bảo vệ pháp luật chắc không mấy ai lạ lẫm với cụm từ Hán Việt này. Đúng ra, chính xác phải là “tại ngoại hậu tra”, mà chính xác hơn nữa thì “tại ngoại hậu cứu”. Nhưng người ta cứ “hầu tra” riết, thế rồi cứ coi như vậy thành đúng. Báo chí sai đã đi một nhẽ, thậm chí có cả những luật sư, quan tòa, công tố viên, kiểm sát viên, rồi cả ông to bà nhớn lãnh đạo cơ quan pháp luật cũng mở mồm “tại ngoại hầu tra”.

Để biết đúng sai, cần xem xét nghĩa của từng chữ trong cụm Hán Việt này. “Tại” nghĩa là ở, chỉ vị trí một nơi nào đó. Tu tại gia là tu ngay ở nhà (chứ không cần vào chùa), học tại chức là học khi đang còn giữ chức vụ làm việc (không cần phải nghỉ hẳn để tập trung suốt thời gian trong trường). Xưng hô “tại hạ” tức là khiêm tốn với người trên, cấp trên, ý rằng mình đang ở (tại) dưới (hạ) người ta.

Đối diện tào lao

Chú nhà báo Đức Hoàng và VTV do ông Trần Bình Minh cầm đầu vừa phát lên sóng quốc gia chương trình "Đối diện - Chống sự lãng quên".

Trong đó, các chả một mình một chợ chứ không dám đối diện ai, tha hồ mạt sát, lên án, khinh bỉ những người mà họ gọi là vô ơn, tệ bạc, xấu xa, cố tình phủ nhận quá khứ, phủ nhận công lao của những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước.

Lạ. Ai phủ nhận thì tôi chưa thấy, nhưng chính các chả phủ nhận, tệ bạc, vô ơn tôi đã thấy rồi. Suốt bao nhiêu năm, họ cứ lờ đi cả vạn chiến sĩ hy sinh ở mặt trận biên giới phía bắc trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, không nói gì về người ngã xuống, một nén hương cũng không dám thắp, thậm chí tên kẻ thù ngoại xâm cũng không dám nhắc, sợ nó giận.

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước khi mắng mỏ người khác, hãy coi lại chính mình đã, chú Hoàng robot ạ. Ai quên, chính các chú và đồng bọn công khai lãng quên chứ chả phải ai vào đây cả. Hãy đối diện với chính mình trước đã.

Các cụ xưa thường quen miệng bảo "gái đĩ già mồm", thực ra gái đĩ còn tử tế hơn đám này nhiều. Gái đĩ phải tôn đám Đức Hoàng là bà cố tổ.

Cái trò chiếm sóng quốc gia khua môi múa mép, cả vú lấp miệng em ấy nên dẹp đi cho đỡ xấu hổ.

Nguyễn Thông

Đại hội đảng là dịp để tham nhũng

Một cái cặp da làm quà tặng cho đại biểu giá từ 3,5 - 3,7 triệu đồng, tổng số tiền mua quà là 2,2 tỉ đồng. Giá tiền cặp ấy chắc chỉ có ở Việt Nam.

Theo ông bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, đại hội sẽ có 400 đại biểu và 200 khách mời. Trong số khách ấy, thể nào chả có những bà mẹ VN anh hùng hoặc những cựu cán bộ đã già lụ khụ, đi lại còn phải chống gậy. Cặp tặng cho họ, họ để ôm chắc, kiểu như "bà đem bà ngửi chứ bà không ăn".

Cặp mà giá tới 3,7 triệu đồng, bằng giá tiền mua cái tủ lạnh 200 lít hoặc chiếc máy giặt 8kg, thế thì mua mẹ nó tủ hoặc máy cho đại biểu đi, cặp kiếc làm gì. Khổ nỗi, nếu mua tủ thì nó lại thổi giá đôn lên thành 10 triệu, thậm chí 15 triệu, dân có khóc khô nước mắt cũng chả cung cấp đủ tiền cho các bố ấy phần trăm, hoa hồng.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

Chuyện truyền đơn

Đã vào thập niên thứ 3 của thế kỷ. Thập niên chứ không phải thập kỷ như nhiều người (có cả GS, TS) nhầm hoặc quen dùng, bởi thập niên là 10 năm, một kỷ là 12 năm, thập kỷ tức 120 năm, còn nếu giải thích rằng thập kỷ có nghĩa là 10 năm của thế kỷ thì rất gượng gạo, chỉ gán ghép cho có chứ chả theo nguyên tắc nào.

Năm 2020 là đầu thập niên thứ 3 của thế kỷ 21, khoa học kỹ thuật đã phát triển như vũ bão, có những thứ chỉ mới vài chục năm trước là chuyện rất bình thường, phổ biến, thì lúc này đã cực kỳ lạc hậu, lỗi thời, xưa cũ, có cảm giác như từng tồn tại ở thời nào xa lơ xa lắc. Chẳng hạn cái truyền đơn.

Hồi tháng trước, đám cộng sản Triều Tiên cứ sôi sùng sục, tố cáo người bà con Nam Hàn thả truyền đơn lên phía bắc. Tay Kim Ủn cảnh cáo không tha thứ cho hành vi "xâm lược" này, thậm chí dọa Nam Hàn sẽ nhận lĩnh hậu quả khủng khiếp chưa từng có. Lâu nay mồm Kim nói gang nói thép thế nào, thiên hạ đều biết cả nên cũng không lấy đó làm điều lăn tăn. Vài ngày sau, báo chính thống của Triều Tiên, rồi báo Hàn, rồi tất nhiên lan tới báo Việt, đồng loạt đăng tin Triều Tiên đã chuẩn bị cho cuộc trả thù khủng khiếp có một không hai, khiến người ta nghĩ phen này bán đảo Triều Tiên chấm dứt cảnh chia cắt, thống nhất tới nơi rồi, Hàn Quốc chết đầu nước. Chỉ có điều, không phải là xe tăng đại bác, tàu bay tàu ngầm, binh hùng tướng giỏi, mà là Triều Tiên đã in xong đợt 1 gồm 12 triệu tờ truyền đơn, cứ từng cục từng cục to như cục tiền cụ Hồ 500 nghìn đồng còn mới (sao dạo này xứ ta tiền 500 mới tinh lắm thế, chả nhẽ...), vuông thành sắc cạnh, chất đầy căn nhà. Đống truyền đơn ấy, chả biết tải nội dung gì, nhưng lựa gió thả sang miền Nam, chỉ rợp trời cũng đủ chết ngộp.

Tiếc sân Phú Thọ

Phú Thọ được nhắc ở đây không phải là tỉnh Phú Thọ, nơi có đền Hùng, tỉnh trung du miền Bắc. Phú Thọ này, ngày xưa thời Việt Nam cộng hòa, trước năm 1975, là cái sân thể thao hoành tráng nhất nước, dân miền Nam gọi là vận động trường Phú Thọ, đặc biệt với những đường đua ngựa dài mấy cây số.

Ở Sài Gòn (tức TP.HCM), đất là vàng, là kim cương, đô la, là tất cả, thậm chí còn quý hơn cả độc lập tự do. Làm quan, chết bởi đất là chuyện thường bởi chả có đứa quan nào chê vàng, kim cương, đô la. Hàng loạt đứa vào tù, ra vành móng ngựa cũng vì lý do ấy. Chúng nó tham vô đáy, chết nữa cũng chẳng ai thương.

Trung ương đã chỉ ra nhiều vụ ăn đất ở Sài Gòn, nhưng có một vụ cực lớn không hiểu sao lại im thin thít. Nó sờ sờ trước mắt bàn dân thiên hạ, ai cũng biết, chỉ trung ương không biết. Hay là sự ăn chia đã "ổn" nên bị cố tình lờ đi.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Khuyết tật hay tàn tật

Ngày xưa chỉ nghe hoặc đọc trên báo từ “tàn tật” để nói về những người cơ thể bị tàn phế một phần, bộ phận nào đó. Chả hiểu tự khi nào người ta đẻ thêm từ “khuyết tật”. Điều chắc chắn sản phẩm mới này không phải do dân chúng hoặc các nhà ngôn ngữ tạo ra, mà bởi nhà chức việc, thậm chí quan to. Họ hứng lên, tung từ ngữ mới, áp vào các văn bản dưới danh nghĩa chính quyền, đảng, nhà nước, rồi cứ thế bắt mọi người tuân chỉ. Đúng sai, kệ.

Hiện trong các tổ chức hội đoàn, đoàn thể ở xứ ta, có Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, mà không phải ai khác, chính bà Đặng Huỳnh Mai cựu thứ trưởng Bộ GD-ĐT (đang bị ồn ào vụ “đòi” nhà công vụ) làm chủ tịch. Thực thà mà nói, người tàn tật có riêng tổ chức của mình thì tốt quá đi chứ, chả ai phản đối chuyện này. Chỉ có điều, tên gọi ấy đã sai trầm trọng, không đúng đối tượng.

Theo nghĩa từ Hán Việt, “tật” tức là tình trạng cơ thể bị suy yếu. Tật bệnh chỉ con người ta mắc bệnh, đau ốm, cần được chạy chữa. Tật cũng có nghĩa là điểm yếu nào đó của con người, “có tật giật mình”, tật nói ngọng, tật nói khoác, v.v..

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

Không khen

Nhiều người chân tình nhắc tôi, viết gì thì viết, nói gì thì nói, gái góa lo việc triều đình tha hồ mà lo, nhưng tránh đụng chạm đến cá nhân, nhất là mấy ông to bà nhớn. Rằng thì là mà họ sẽ thế lọ thế chai, rồi lại chẳng phải đầu cũng phải tai đâm phiền. Chỉ nên gợi ra những cái chung chung thôi…

Vâng, thực tình tôi chả thích bới móc cá nhân. Con người ta nhân vô thập toàn, được cái này hỏng cái kia, tốt xấu chen nhau, hay dở xen kẽ, có mấy ai tròn trĩnh. Bản thân mình cũng vậy. Nhưng khổ nỗi, cái chung đều bắt đầu từ cá nhân, từ mỗi con người cụ thể. Một xã hội, nhà nước, thể chế, chế độ, bộ máy, cộng đồng… đều bắt đầu từ cá nhân, do cá nhân tạo thành. Né đi, thế thì chỉ còn nước leo lên trời trò chuyện với mây, nơi không có con người. Chỗ ấy lành nhất.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

Đòi đất quốc phòng

Nghe chuyện lãnh đạo TP.HCM đòi lại khu đất Ba Son, thấy hơi buồn cười.

Chỗ được đòi thực ra chỉ là nhà bảo tàng về cụ Tôn rộng khoảng hơn 3.000 mét vuông, mở rộng ra xung quanh được hơn 3.000 mét vuông nữa, nằm ven đường Tôn Đức Thắng. Cả khu Ba Son cũ mênh mông mấy trăm nghìn mét vuông, giờ may ra chỉ đòi được chỗ ấy, còn thì đã biến thành nhà cao tầng, nhà hàng, khách sạn cả rồi, quân đội "bán" hết rồi, muốn đòi chỉ còn cách bắc thang lên hỏi ông giời. Cứ nhìn khu Vượng Vin ngay trên nền cũ công xưởng hải quân thì rõ.

Thời hậu chiến, theo nguyên tắc bất thành văn, chỗ nào trước kia của quân đội cũ thì quân đội mới tiếp quản, mặc nhiên được xác nhận chủ quyền. Đất đai ấy, cơ sở vật chất, nhà cửa ấy là để phục vụ quốc phòng, là đất quốc phòng, không ai được đụng vào. Lỡ có chiến tranh thì lại lấy ra sử dụng. Đụng vào đất quốc phòng, chỉ có chết.

Thành phố sông Hàn

Bây giờ, lúc này mà nói về Đà Nẵng dễ bị coi là đồ “cuốn theo chiều gió”, ăn theo, cơ hội, bầy đàn, là đủ thứ, mặc dù vùng đất này lúc nào cũng đầy sức hấp dẫn chứ không phải đợi có dịch cô vít cô veo.

Tôi có thứ duyên nợ nhạt không ra nhạt, mặn không hẳn mặn, với Đà Nẵng. Nhưng thấy xứ Tourane cũ đang phải gồng mình trợn mắt chống dịch bệnh, cứ thương thương. Mỗi khi thấy ai đó chê nó cười nó, lại càng thương.

Quê tôi Hải Phòng, thời chiến tranh chống Mỹ, chính quyền miền Bắc đặt ra sự kết nghĩa những tỉnh thành ngoài Bắc với tỉnh thành trong Nam. Hà Nội đương nhiên thì phải đăng ký hôn thú với Sài Gòn rồi. Tỉnh Kiến An “lấy” tỉnh Gò Công, tỉnh Nghệ An lấy tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Hải Phòng được ghép đôi với Đà Nẵng, rồi Thanh Hóa - Quảng Nam, Vĩnh Phúc - Bến Tre, Thái Bình - Vĩnh Long và Trà Vinh… Cứ thế mà thi đua, bên sản xuất, bên chiến đấu. Ở Hải Phòng có đường Đà Nẵng gần ngã năm, sau 1975 ở Đà Nẵng có đường Hải Phòng gần ga xe lửa. Bài hát tỉnh ca “Thành phố hoa phượng đỏ” có câu “Hải Phòng ơi, hôm nay bé nhỏ, mai ta đã thấy rộng dài rực sáng, sánh vai cùng Sài Gòn, Đà Nẵng quê hương”. Từ thời bom đạn, đám trẻ nông thôn như tôi quanh đi quẩn lại sống trong làng nhưng nghe nói mãi về Đà Nẵng, tự dưng cảm thấy thân thương, định bụng sau này nước nhà thống nhất, nếu có tiền, vào đó chơi một chuyến cho biết “Đà Nẵng yêu thương” thế nào.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2020

Thần thiêng nhờ bộ hạ

Hôm cuối tuần cần được nghỉ ngơi, nhưng tôi khuyên ông Bảy Phúc nên bớt chút thời gian làm ngay việc này (việc cần làm ngay, ký tên: NVT, chứ không phải NVL, hì hì), bởi để lần lữa sẽ nguội:

Rà soát ngay lập tức đám trợ lý, thư ký, cố vấn, quan hầu cận, đặc biệt là bọn viết diễn văn, báo cáo cho thủ tướng. Chưa đời thủ tướng nào mà đám quần thần trợ lý lại ngu dốt, làm cho ông quê kệch, mất điểm nhiều như đời cầm trịch của ông, ông Bảy ợ.

Vẫn hiểu rằng không phải thứ gì nhà lãnh đạo cũng biết, cũng tỏ tường. Nếu thế, họa có là thánh. Nhưng "thần thiêng nhờ bộ hạ", những đứa mà các ông chọn dứt khoát phải là đứa giỏi, cực giỏi, thông thạo từng lĩnh vực. Khi ông cần lập ngôn ở lĩnh vực nào thì đứa chuyên về lĩnh vực ấy phải chịu trách nhiệm. Mày làm tốt thì tao dùng, mày làm dở thì tao thải, tao đá đít. Có như thế mới tránh được những vụ kiểu cờ lờ mờ vờ (CLMV), vụ "bức tử" nhà văn Nguyên Ngọc, vụ đi đâu cũng phán đầu tầu, hàng đầu, đại bàng, gái đẹp...

Trong vụ "giết", phong liệt sĩ ảo cho rất nhiều nhà văn vừa rồi, lỗi không ở ông Phúc bởi ổng không biết. Tôi cam đoan cả ông Phúc lẫn ông Võ Văn Thưởng đều không biết nhà văn "liệt sĩ" Trần Hiếu Minh là ai, cứ nói cho sướng miệng thôi. Cái thằng trợ lý cho ông Phúc, nó học vẹt trong nhà trường, nó đọc đoạn trích "Cửu Long cuộn sóng", nó biết Trần Hiếu Minh, chứ Thưởng, Phúc có học hành gì mấy thứ này mà biết.

Mắc tóc bởi lòng tham

Nhà công vụ, như cái tên gọi của nó, là nhà công, tạm cấp cho quan chức ở khi còn làm nhiệm vụ.
Không còn làm việc nữa, nghỉ hưu chẳng hạn, thì phải trả lại để nhà nước sắp xếp chỗ ở cho cán bộ khác.

Đó là quy định bất biến, cả người được tạm cấp lẫn nhà nước cứ thế mà thi hành, không lôi thôi oong đơ chi cả.

Thói đâu có cái thói, xong việc rồi cứ quyến luyến chỗ ở mãi, viện lý do lý trấu không chịu trả. Chẳng ai tin được, chỉ do lòng tham thôi. Càng cán bộ càng tham, càng làm to càng tham, bởi thâm tâm các vị ấy nghĩ mình là công thần, có quyền như vậy. Nhiều người còn nhớ vụ ông cựu chủ tịch Hà Nội Hoàng Văn Nghiên, nghỉ rồi nhưng cứ bám lấy cái nhà công vụ biệt thự ở 12 Nguyễn Chế Nghĩa, đòi mấy cũng không trả, cứ lì ra, lằng nhằng suốt bao nhiêu năm. Dân cười chê quá trời. Nói thật, thế lực thù địch chả thấy đâu, chỉ thấy không ai làm xấu mặt chế độ, bỉ bôi nhà nước bằng chính cán bộ. Càng cán bộ to thì nhọ nồi bôi đen càng lớn.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2020

Ngu hơn Phạm Chuy

Phạm Chuy vốn chỉ là kẻ thất phu nhưng tinh thông mọi điều, lý luận đầy mình, có tài vương bá. Chuy bị nạn, chạy trốn từ Triệu sang Tần, được vua Tần tin dùng, làm đến thừa tướng, công lao hiển hách, quyền chỉ dưới vua, nói gì vua cũng nghe.

Ngồi trên đỉnh cao, Chuy nghĩ thiên hạ không ai bằng mình, không ai có thể thay mình. Thấy vậy, Thái Trạch một kẻ học trò đến mở mắt cho Chuy.

Trạch hỏi Chuy, ông tự thấy mình tài giỏi hơn Thương Ưởng, Ngô Khởi, Văn Chủng không. Chuy đáp không bằng. Trạch lại hỏi vua Tần nay đối xử với ông có bằng Tần Hiếu công đối xử với Thương Ưởng, Sở vương với Ngô Khởi, Việt vương với Văn Chủng không. Chuy đáp không bằng.

Cất nhắc dao gươm

Ông Tô Lâm bộ trưởng Công an hôm rồi có đăng đàn nhân ngày của ngành. Ổng vẫn lặp lại thứ lý luận mà các đàn anh Trần Đại Quang, Lê Hồng Anh, Bùi Thiện Ngộ... từng thuộc lòng, rằng công an là thanh bảo kiếm bảo vệ chế độ. Chỉ thấy nhắc bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng chứ không đề cập dùng kiếm làm điều gì nữa.

Trong những thanh kiếm ấy, từng có rất nhiều kiếm cùn, như Phan Văn Vĩnh, Trần Việt Tân, Nguyễn Thanh Hóa, Bùi Văn Thành... Tinh thứ dữ nhưng cực cùn, rỉ sét. Và cũng nên nhắc tới Chung con, Nguyễn Đức Chung đô trưởng Hà Nội.

Thực ra Chung con cũng chả phải loại tài cán gì, chỉ thuộc dạng cơ hội, nhân thời buổi công an trị, nhất là lúc Trần Đại Quang đương chức, mà ngoi lên được. Chỉ cần coi cách tráo trở trong vụ Đồng Tâm, cách xử lý dây dưa vụ xây dựng sai phạm nhà 8B Lê Trực, cách hứa hẹn rất linh tinh về đường sắt Cát Linh-Hà Đông, cách làm cho chìm xuồng vụ chiếm đất phá rừng ở Sóc Sơn... cũng đủ thấy "tài" của Chung con rồi.

Vụ Nhật Cường mobile được Bộ Chính trị đốt lò của ông Trọng coi là đại án nhưng không bắt được Nhật Cường thì cũng chả dễ gì xử được Chung con, mà muốn túm được thằng ấy thì phải hỏi ông giời.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2020

Căn bệnh nặng

Hồi xưa các cụ nói chữ, gọi là nan y (y: chữa bệnh, nan: khó, nan y là khó chữa). Bệnh gì?

Càng ngày, ta càng thấy rõ nhà cai trị xứ này rất say mê quá khứ, cái mà họ gọi là lịch sử vĩ đại, quá khứ hào hùng, những chặng đường vẻ vang. Mà lịch sử của họ phần lớn chỉ cách mạng, đánh nhau, chém giết, đổ máu, tương tàn. Họ ca ngợi chiến công chói lọi, bước ngoặt lịch sử, dấu ấn không phai mờ, chặng đường vinh quang của dân tộc..., quanh đi quẩn lại thì vẫn chiến tranh, nồi da xáo thịt. 

Quanh năm suốt tháng, hết kỷ niệm nọ đến chào mừng kia, phát mệt với những tự sướng ấy. Tất nhiên, họ sẽ quên đi, lờ đi những sai lầm, thất bại, những đau đớn do họ gây ra mà nhân dân đất nước phải chịu.

Họ luôn miệng nói hướng tới tương lai, nhìn về phía trước, xếp lại quá khứ nhưng cứ loay hoay mãi trong mớ bùng nhùng lịch sử, tốn bao nhiêu là thời gian, trí lực, tài sản cho sự vuốt ve quá khứ này. Người đời nói chẳng sai, đó là ăn mày quá khứ.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

Đồng Hới và Bính, và những ngày khó quên (kỳ 2)

Nghe Lương Ngọc Bính hát “Trên biển quê hương” của nhạc sĩ Đức Minh, mình nhớ ngay bài này ông Uy anh giai mình từng chép trong cuốn sổ bằng bàn tay, tinh dững khúc ca hừng hực khí thế đánh giặc, mở đầu là bài “Đánh đích đáng” của Ngô Sĩ Hiển, rồi "Tiếng hò trên đất Nghệ An", "Tiếng đàn ta lư", "Vui mùa chiến thắng"… Bất chợt mình hát theo nó “hò là hò là khoan, tung lưới ra ngoài khơi, ta bắt con cá nhẩy, ta bắt đàn cá bơi, ơi hò là hò ơi…”, lúc đầu thầm thì nho nhỏ kiểu ăn theo, sau cứ to dần. Rồi mấy đứa khác cũng ăn theo nữa, át cả tiếng cu Bính. Cái Thúy xẩm ngồi cạnh mình, bấm tay một cái đau điếng, bảo chúng mày im đi, để Bính nó hát. Đúng là đàn bà trong đám đông ô hợp vẫn thường tỉnh táo hơn bọn quê xệ như mình. Mình định bảo Thúy, ngoài Phòng cũng có biến thể bài này, không phải là cái biến thể “Cởi truồng ra khơi, bị con cá đuối nó xơi mất bòi” đâu, mà là “Hải Phòng quê ta, hồi xưa vẫn hát câu ca hát rằng, ai đã về đây, chớ quên thuốc lào Tiên Lãng. Hai điếu hai bên, bây giờ còn mỗi điếu thôi. Điếu ở cạnh người, đó là trái tim của tôi…”. Nhưng đang vui nghiêm túc, lại trên đất thiêng Quảng Bình, mình đếch dám hó hé.

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

Từ trong di cảo

Hồi tôi về quê, giở lại những thứ mà thày tôi để lại, có những tờ ghi chép (gọi theo cách của các cụ là di cảo; di là để lại, cảo là bản nháp, bản thảo, bản ghi chép)) thật cụ thể mà quý giá. Biết bao kinh nghiệm sống, bao nhiêu bài thuốc, những nhắc nhở dặn dò con cháu đủ mọi điều… được thày tôi biên ra. Tôi đã từng dựa vào đó viết một loạt tút (status) trên phây búc (FB) nhưng đáng tiếc đã hai lần trang cá nhân của tôi bị xóa, bị khóa nên không thông tin lâu bền được.

Những di cảo ấy, chẳng hạn là tờ bìa tạp chí này (ảnh kèm). Thày tôi sinh thời chỉ làm nông dân nhưng đọc cả báo Nhân Dân, báo Hải Phòng (tờ này mỗi tuần 1 số), thậm chí tạp chí Học Tập. Thời đó, những vị đang cai trị xứ ta bây giờ vẫn chỉ chân đất mắt toét, chưa là gì cả. Chả biết thứ tạp chí ấy có đem lại cho thày tôi điều gì tốt đẹp không, nhưng cái bìa của nó, chẳng hạn bìa số ra tháng 10 năm 1971, thì rất có ích. Những năm tháng thiếu thốn ấy, giấy má cực hiếm, nhiều khi không kiếm đâu ra tờ giấy trắng để biên chép những thứ cần thiết. Tất cả những tờ lịch đã xé (khi đó lịch chỉ bé bằng bàn tay, chứ không có khổ lớn), mặt trong phong bì, bìa những tờ tạp chí… đều được tận dụng. Có những điều thày tôi biên bằng chữ Pháp, chúng tôi chỉ giữ lại mà không đọc được, nhưng nhiều nội dung khác thì bằng chữ Việt, với phông chữ chuẩn của những người trải qua thời Pháp thuộc.

Trên bìa tờ tạp chí Học Tập này, thày tôi ghi ra bài thuốc, cụ thể là tên thuốc và chỗ cần mua, với chỉ dẫn cụ thể. Nội dung là: “Thuốc chữa bệnh hậu sản. Chữa được cả đàn ông. Xanh xương vàng da, gầy ốm, ăn ngủ kém, chưa làm đã mệt, v.v.. (có lẽ là bệnh phòng tích). Bà Cụ Lạc. Thôn Yên Tập, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, Hải Hưng. Nhớ Phố Lối đi vào. Đề phòng thuốc giả. Ngõ nhà Bà Cụ Lạc có cây táo”.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

Đồng Hới và Bính, và những ngày khó quên

Với người đi chơi nhởi, thoát ra khỏi cuộc sống tù túng tẻ nhạt đời thường, thì thời gian tung tẩy cảm thấy thật là ngắn ngủi. Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Thoắt cái đã hết ngày. Chả bù lúc ở nhà, cứ ngó tới ngó lui, đếm từng tiếng tí tách của kim giây đồng hồ. Mấy bữa ở Đồng Hới Quảng Bình, ở Huế (mình chỉ có nhõn buổi trưa xứ Huế), và Đà Nẵng, cứ như giấc mơ. Hì hì, ngày vui nào mà chẳng như mơ. Về Sài Gòn đã 2 hôm rồi, “lại lao vào việc lòng say sưa/hết sớm thôi chiều nắng lại mưa”, bấn bíu với đủ thứ bực bội khó chịu, thế mà trong giấc ngủ chập chờn, vẫn thấy rõ mồn một cả đám giặc ngồi dúi dụi cuối xe, những Ngọc Tân, Bá Tân, Xuân Ba, mình, lẫn vào đó là bác cả Thụn, cái Thúy xẩm nữa. Ai nấy hùng hổ kết án thằng Bá Tân con cụ Hồ thiếu cảnh giác cách mạng, ham rượu chè, mắc phải bí đao kế. Ngọc Tân trừng mắt dí tay ngay trán thằng con cụ bảo không chừng mày là nội gián, Tân ợ, mày mà gián điệp chuyến này, cứ từng giờ báo cáo hết về “trung tâm bí đao” thì bỏ mẹ chúng tao. Chả là đang xảy ra việc nhường chức trưởng đoàn. Bất chợt thằng Ba lắc lư 3 chỏm tóc tam mao được cái Thúy cái Hà kết cho lúc ăn sáng, nửa thì thầm nửa kêu toáng lên, chúng mày ơi, thằng Tân dính bí đao kế, còn lão Ngọc Hồng trúng phải bí ngô kế, ối giời ôi. Cả đám bò lăn ra cười, chỉ có lão cả Hồng ngồi trên ngơ ngác dòm xuống đéo hiểu chúng nó nói gì về mình.

Ấy, những chuyện như vậy thì làm sao quên nổi. Tuổi già, U70 cả rồi, vô minh vô thức, buồn cũng ít mà vui lại càng ít. Nói đâu xa, mình đây, nhiều hôm cứ ngồi thừ ra ngắm con thạch sùng cụt đuôi bò trên tường, tự hỏi đâu là thạch sùng, đâu là Thông cào, không biết nữa. Rất tẻ nhạt. May còn có bạn bè. Chỉ K17 mới có thể đem đến niềm vui liên tục, bất tận, dai đẳng như mấy hôm rồi. Lại bần thần mong, hôm nào bất chợt mở điện thoại hoặc phây búc, thấy chúng nó nhắn tin, cào ơi, mày có đi không, chúng tao sắp sửa lên đường đấy, có cả Nga đi nữa đấy…

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

Nguyên hay cố, cựu?

Có người hỏi tôi, khi nào thì dùng các từ "nguyên, cựu, cố".

Đúng ra phải hỏi thêm cả từ "đương" nữa, bởi cùng với các từ nói trên, đó là những chặng, những đoạn khác nhau trong một đời người.

Khi còn làm việc (gì đó) thì gọi là đương. Đương chức, đương nhiệm. Cái thời đang diễn ra gọi là đương thời (đương cũng có nghĩa là đang). Hồi xưa trong bộ máy hương thôn, lý trưởng đang làm nhiệm vụ thì là lý đương, lý trưởng nào đã bị phế truất, đã thôi không làm nữa thì gọi là lý cựu.

Cựu tức là cũ, chỉ cái (điều) đã qua. Cựu thần tức là người bề tôi cũ (trước kia là bề tôi, nhưng giờ vì lý do nào đó, già lão hoặc bị phạt chẳng hạn, không làm nữa). Cựu trào là triều đại cũ. Đối lập với cựu là tân (mới). Cựu thế giới để chỉ những đại lục cũ Á, Âu vốn được người ta ở từ lâu, còn với tân thế giới (châu Mỹ) mới được khai phá. Ông bộ trưởng nào không còn làm bộ trưởng nữa thì là cựu bộ trưởng, ông tổng bí thư đã hết chức được gọi là cựu tổng bí thư.

Góp ý với các hãng tàu bay và sân bay

Trong lúc dịch bệnh hết sức nghiêm trọng, việc các hãng tàu bay yêu cầu hành khách phải khai báo y tế trước khi làm thủ tục lấy vé, thôi thì cũng được đi, thậm chí là cần thiết. Vẫn biết đây là chủ trương của nhà nước, chính phủ chứ không phải hãng tàu bay hoặc cảng hàng không tùy tiện làm, tuy nhiên, cách làm rất hình thức, bất cập, lôi thôi rườm rà, không hiệu quả.

-Nhiều người đứng xếp hàng chán chê chờ làm thủ tục vé thì mới biết phải ra một chỗ khác khai báo y tế có kết quả đã mới được xếp hàng lấy vé. Tôi nhận thấy rất nhiều hành khách bị dở dang vụ này, đâm ra bực tức, càu nhàu, chửi bới. Có ông chửi "địt mẹ, nó chỉ có mảnh giấy con con thông báo thế kia thì biết thế đéo nào được". Hành khách nóng tính cũng có lý do chính đáng của họ, mà lỗi từ hãng tàu bay. Trong lúc dịch bệnh đang căng, nên phát loa thông báo cho hành khách biết, đừng sợ gây tiếng ồn. Ồn lúc này là cần thiết.

Bất chợt Trịnh Xuân Như

Sau một thời gian khá dài, thậm chí dài ơi là dài, từ tháng 10.2018 tới giờ, mới túm lại được y. Chả là mở phây búc của thằng cu làng Lon Trịnh Huyên Trịnh Xuân Ba thấy có cái tên Trịnh Xuân Như. Nghe quen quen, chợt nhớ, a, cu Như điện lực. Xin kết bạn mí nó, chắc nó mải bận đi giăng mắc dây điện, trồng cột điện, cắt điện… nên nó chưa để mắt tới mạng mẽo. Hôm qua thì nó duyệt rồi.

Nói tới cu Như, không phải tất cả K17 văn khoa đều biết. Nhưng những ai đã đàn đúm ở Sầm Sơn mùa thu năm Mậu Tuất 2018 thì đều biết Trịnh Xuân Như, quý Như, cảm nhận được sự giản dị, chân tình và gần gũi của y. Mình là người ngoài mà còn yêu mến y, huống hồ trong ngành điên nặng như mụ thị Huệ, biết rõ Như, thì còn quý hắn thế nào. Nói của đáng tội, không có Trịnh Xuân Như, khó có cuộc vui nổ trời nghiêng biển dạo ấy.

Nhắc tới cái năm Mậu Tuất 2018 cứ bổi hổi bồi hồi. Chơi bời Sầm Sơn chán chê đã đời, còn kéo nhau đi Thành nhà Hồ, viếng Lam Kinh thăm mộ đức Lê Thái Tổ. Khi ngó tấm văn bia Vĩnh Lăng vĩ đại (chỉ có người xưa mới làm được như thế), chợt nhớ cụ Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa cũng đúng năm Mậu Tuất, 1418. Đi được rong ruổi nhiều chỗ kỳ quan danh lam thẳng cảnh xứ Thanh như thế, có một phần đóng góp không nhỏ của Trịnh Xuân Như.

Vẫn biết ở xứ Thanh họ Trịnh là đặc sản, chả khác gì nói tới An Nam ta là phải nhắc ngay tới họ… Nguyễn, hì hì (các bà Thúy xẩm, Huệ lùn, Đạm tồ, Hà ngố… có đồng ý với nhà cháu không nào), nhưng quả thật tới Thanh Hóa mà không biết không chơi với họ Trịnh kể cũng hơi bị khiếm khuyết. Dĩ nhiên ta vẫn đề cao, vẫn chơi với những ngoại trịnh, như Lê Quốc Lập, Trần Triều Nguyệt, Đặng Quốc Khánh, Lê Văn Sơn, Nguyễn Thị Bé, Nguyễn Thị Xuân nhưng có tí Trịnh vẫn mang dáng vẻ “Thanh kỳ khả ái” hơn. May mà lớp ta có thằng làng Lon đặc sệt Trịnh, nó và mấy đứa em từng đãi bọn “ăn mày” K17 một bữa cháo hến, hến xào kèm bánh đa, gà vườn luộc, bánh bột lọc… ăn mệt nghỉ trong “cái sáng hôm ấy sáng gì” thật khó quên. Ở xứ Thanh còn có Trịnh Văn Chiến quan đầu tỉnh nhưng K17 ta không chơi mí y bởi khi đó lùm xùm vụ cô Quỳnh Anh quỳnh em mang tiếng quá. Bù lại, chúng ta đã có một Trịnh đích thực, dễ thương là Trịnh Xuân Như.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Nhắc các chị nội trợ: Khoai tây mua ở siêu thị

Sẽ có người bảo dở hơi nó vừa vừa chứ. Đàn ông đàn ang lại đi nhắc đàn bà chuyện nội trợ, chợ búa, mua sắm, nấu nướng. Đúng là đồ dở hơi. Thì cũng đành chịu vậy, bởi ở nhà mình, tôi hay phải đi chợ.

Giờ đây, việc đi lại, vận chuyển dễ dàng, hàng hóa đặc sản vùng miền có mặt khắp mọi nơi. Ngày trước, sản vật theo vùng miền, cây trái theo mùa, mùa nào thức ấy, có chỗ ăn không hết, ứ thừa, rẻ rề nhưng cùng lúc thì chỗ khác vùng khác lại hiếm hoi, đắt đỏ. Nay thì khác, miền Bắc có cả dưa hấu (thường chỉ trồng vào mùa hè) bán suốt mùa đông mùa xuân, không trồng được xoài ngon nhưng ăn xoài thoải mái; còn miền Nam cứ mỗi mùa vải chín đất bắc vẫn tha hồ mua ngay tại nơi mình ở, chỉ đắt hơn vài ba giá. Cây khoai tây chỉ hợp với khí hậu ôn đới, mát mẻ nên chỉ có ở miền Bắc cữ trời se lạnh (đông - xuân) và đất Đà Lạt, tuy nhiên người tiêu dùng xứ nóng nhiệt đới có thể mua được củ này quanh năm. Ấy là do cuộc sống biến đổi, con người đỡ bị cảnh thèm nhạt. Tôi nhớ hồi những năm 80 trở về trước, chả bao giờ hình dung ra dân bắc được ăn dưa hấu ngày tết, dân nam mua vải thiều giá vừa với túi người bình dân.

Từ hồi giữa thập niên 90, sự mua sắm càng thuận tiện hơn cho người nội trợ khi xuất hiện hệ thống siêu thị. Mua bán theo kiểu tây. Đắt một tí nhưng tiện lợi, hàng hóa tập trung, sạch sẽ, thứ gì cũng có. Tất nhiên trong siêu thị có cả rau củ, khoai tây.

Thành phố hoa phượng (kỳ 2)

Cuối bài kỳ trước có nhắc tới nhà thơ Hải Như. Nói cho công bằng, trong việc quảng bá, PR cho địa danh Hải Phòng, công của ông Hải Như rất lớn. Người đời biết tới đất Phòng nhiều hơn, thậm chí kỹ lưỡng, tỉ mỉ hơn là nhờ bài thơ của ông. Hải Phòng một thời lừng danh những tên Quán Bà Mau, bến Bính, Sáu Kho, Thượng Lý, Sở Dầu, Tam Bạc, vườn hoa đưa người… trong trang viết Nguyên Hồng. Rồi tới lượt Hải Như, người ta biết thêm về Xi Măng, cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên, sông Lấp. Ngay cái tên bài thơ, “Thành phố hoa phượng đỏ”, thành thứ tên riêng, cũng đủ để ghi công lao của ông với thành phố cảng miền duyên hải này. Tôi không biết những vị lãnh đạo, các quan cai trị đất Phòng suốt từ năm 1970 (năm bài thơ ra đời) tới nay đối xử với Hải Như khi còn sống và Hải Như sau khi đã khuất như thế nào, nhưng với người có công thì cần có cách gì đó cụ thể biết ơn. Chả hạn, đặt cho một con đường mang tên ông, phố Hải Như, trồng trên đó những hàng phượng, bung nở đỏ rực mỗi hè. Cũng vậy, tỉnh Quảng Bình cần có đường Hoàng Vân, tỉnh Bến Tre có đường Nguyễn Văn Tý, Nghệ An có đường Đinh Quang Hợp, Thanh Hóa có đường Xuân Giao hoặc Hoàng Đạm…

Cũng cần biên thêm, nếu chỉ tồn tại dưới dạng thơ, dù đăng trên báo Nhân Dân (báo Nhân Dân thời ấy còn có người xem chứ bây giờ thì nói làm gì) bài thơ của cụ Hải Như cũng chỉ giới hạn ở đám đông vừa vừa chứ không đông lắm. Nó chỉ thăng hoa khi được âm nhạc chắp cánh. Xứ ta lạ lắm, nhiều bài thơ nôm na như vè nhưng nhờ thầy son phe mà bay chấp chới khắp miền. Thôi, chả nói ra đây sợ đụng chạm. Mà cũng không ít nhạc sĩ gần như rất vụng soạn lời (trên đời không có mấy ai đặt lời (ca từ) giỏi như Trịnh Công Sơn, nếu cần kể thêm tới người thứ nhì thì đó là Hoàng Vân), tuy nhiên cực giỏi trong chuyện kết hôn thơ với nhạc. Hai vị Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu là ví dụ cụ

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2020

Chuyện Tào Tháo

Tào Tháo tự (tên chữ) là Mạnh Đức, còn có tên khác là A Man, là nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Trung Hoa cổ đại. Nhưng phần lớn người thời sau, cứ nhắc tới Tháo là nghĩ ngay một kẻ gian hùng. Người ta ít dùng cho Tào 2 chữ Mạnh Đức mà thường gắn vào 2 chữ A Man. Nói tới Tào A Man cũng chẳng khác gì bảo rằng giỏi thì giỏi thật nhưng gớm bỏ mẹ.

Nói về Tháo thì lắm điều cần kể, chỉ sực nhớ chuyện này: Sau trận thua Xích Bích, đại bại dưới bàn tay Chu Du mà Tháo vốn xem thường, Tháo hơi bị buồn một thời gian, nhưng xưa nay kẻ anh hùng vốn không chịu buồn lâu, nên chỉ ít ngày sau đó đã khánh thành đền Đồng Tước, tổ chức tiệc tùng ăn chơi nhảy múa tưng bừng, cũng giống như người ta bây giờ họp quốc hội hoặc tổ chức đại hội đảng vậy, dù vừa tan tác bởi dịch Cô vít.

Trong lễ tiệc hoành tráng, băng cờ khẩu hiệu rực rỡ "Đảng Đại Ngụy quang vinh muôn năm", "Tào công vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta", Tháo chĩnh chện ghép 2 cái ngai làm một, ngồi chỗ cao ngất, tâm sự với các đàn em rằng, ta tuổi cũng đã cao rồi, muốn nghỉ ngơi vui thú điền viên lắm, chả tội gì ôm rơm rặm bụng, nhưng thấy chưa được. "Từ khi ta giết Đổng Trác, quét sạch Khăn vàng, trừ được Viên Thuật, phá được Lã Bố, dẹp tan đám Viên Thiệu, Lưu Biểu, dần dần bình định được cả thiên hạ, làm đến chức tể tướng, ngôi phú quý tưởng tột bậc rồi, còn mong gì hơn nữa? Nếu triều đình không có ta, chưa biết bao người xưng đế, bao kẻ xưng vương rồi đó. Lắm người thấy ta quyền cao chức trọng, ngờ cho ta có bụng này khác, thật là lầm lớn! Nhưng muốn cho ta bỏ binh quyền đi, thì cũng không xong, vì ta không còn binh quyền trong tay, tất sẽ bị kẻ khác hãm hại" (Trích nguyên văn Tam quốc diễn nghĩa). Ý của Tháo rằng ta mà bị hại, thì đảng Đại Ngụy và nhà nước cũng sẽ sụp đổ.

Tháo nói xong, các quan thì thầm, à ra vậy, nhưng vẫn vỗ tay tung hô chưa bao giờ cơ đồ đất nước tươi đẹp như hôm nay, đó là nhờ hồng phúc của chúa công, mong chúa công cứ ngồi thêm vài nhiệm kỳ nữa.

Nguyễn Thông

Chuyện sinh đẻ có kế hoạch (kỳ 4, cuối)

Những gì liên quan tới đẻ đái, đặt vòng, chính sách dân số, những chuyện cười ra nước mắt về kế hoạch hóa gia đình… tôi đã ráng nhặt nhạnh từ ký ức và biên ra trong những kỳ trước. Lần này chỉ tập trung nói về một nhân vật liên quan tới sinh đẻ có kế hoạch, là cụ đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong tâm thức đông đảo người dân xứ này, hai nhân vật lịch sử được kính trọng và yêu mến nhất, chiếm được nhiều cảm tình nhất, là cụ Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hình ảnh cụ Hồ trở nên chói lọi rực rỡ, tất nhiên chủ yếu từ con người cụ, nhưng cũng có phần tô vẽ không nhỏ của bộ máy tuyên truyền. Nghệ thuật tuyên truyền của người cộng sản, thì ngay cả những bậc thầy tuyên truyền đủ mọi thời đại xưa nay cũng phải chịu thua. Vị lãnh tụ của họ được đẩy lên thành đấng bậc vẹn toàn không tì vết, có khi thần thánh, ngọc hoàng, ông trời, đức phật, đức chúa cũng không bằng. Tôi cả đời sống trong thể chế cộng sản, từ lúc bé bắt mũi chưa sạch tới giờ, đã hiểu và nhận ra điều chối tỉ ấy.

Vậy nhưng, với trường hợp cụ đại tướng Võ Nguyên Giáp, có nhẽ là ngoại lệ. Những gì cụ Giáp có được, chủ yếu do cụ tạo ra, ít phải nhờ “bộ máy” họa sĩ. Tài năng, đạo đức, công tích, vẻ đẹp… cụ có được đều tự thân sinh ra, tồn tại vững chắc trong cõi đời, trong lòng người. Không phải vô cớ mà những người lính nhiều thế hệ đã gọi cụ bằng danh hiệu cực kỳ giản dị mà cao quý: người anh cả của quân đội, anh Văn. Người dân bình thường yêu quý kính phục cụ kể cả khi cụ là người lẫy lừng đỉnh cao lẫn khi cụ là vị tông đồ chịu nạn. Hình ảnh anh Văn, vị đại tướng, nhà cách mạng qua bao biến thiên thời đại, qua bao cuộc bãi bể nương dâu, ít bị suy suyển, trong xã hội lẫn lòng người.

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

Thành phố hoa phượng

Hẵng tạm gác sang một bên chuyện người ta đang thi nhau chặt cây phượng trong sân trường. Các cụ xưa bảo “con chim trúng đạn sợ làn cây cong”, một cây phượng đổ, thế là sợ, lôi tất cả đám phượng hồng ra chặt ráo củ tỉ. Đó cũng chỉ là một phần biểu hiện thứ tư duy xộc xệch ở xứ ta: không quản được thì cấm. Chỉ tội nghiệp cây phượng.

Nếu cần chép vào lịch sử thì có thể biên thế này: Năm Canh Tý, tháng Tân Tỵ, nhằm tháng 5 tây lịch 2020, mùa hè, chế độ cộng sản niên hiệu Nguyễn Phú Trọng năm thứ 5, cây phượng vốn do người Pháp đem sang An Nam trồng làm đẹp cảnh quan từ cuối thế kỷ 19, được tôn vinh thành biểu tượng mùa hè, kỷ niệm của tuổi học trò, sau hơn một thế kỷ vinh quang, đã bị “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” sau những nhát dao và đường cưa máy của nhà cai trị. Kể từ nay, sân trường chẳng còn sắc màu phượng đỏ, người ta sẽ trồng thay thế vào đó thứ cây gì, hoặc thậm chí có trồng hay không thì chưa biết.

Đã bảo gác, mà cũng tốn hơn 200 chữ, thế mới biết người đời dễ dao động không làm chủ được mình. Vậy chuyện thành phố hoa phượng ra ri?

Chả là, Hải Phòng, dân gian gọi tắt là Phòng, nơi được nhà thơ Nguyễn Dương Côn (người Thái Bình, quê của… Đường Nhuệ đang nổi tiếng) phác họa trong hai câu thơ dễ gây mất lòng: “Cái thành phố ăn nằm với biển/Đẻ ra những đứa con cần lao”. Suốt hàng mấy chục năm, hình ảnh của Phòng luôn là thành phố cần lao làm lụng vất vả cần cù. Bác Dương Côn kia nói chẳng sai tí nào. Nếu có ăn chơi, chỉ phổ biến kiểu áo bay mũ cối. Lẽ dĩ nhiên về sau cũng có những tai tiếng kiểu idol Phòng như Cu Nên, Dung Hà, Dương Tự Trọng, Đỗ Hữu Ca, nhưng cũng có những anh hùng như Đoàn Văn Vươn cống Rộc Tiên Lãng. Người Phòng lúc thế này khi thế khác, luôn xù xì đầu mấu sần sùi. Đẹp hay xấu còn tùy ở mắt nhìn.

Tút cuối về ngựa lùn

Sao lại cuối? Để thời gian đi rửa bát còn ý nghĩa hơn là quan tâm thứ ba vạ ấy.

- Ông đại tướng Tô Lâm trùm phú lít xứ này bảo rằng đội ngựa lùn đó sẽ được sử dụng vào các việc lớn như lễ tân nhà nước, nghi thức quốc gia, diễu binh diễu hành những dịp lễ trọng thể... Thôi, tôi can ông và các ông các bà. Thời nay là thời nào mà cứ muốn quay ngược về buổi hồng hoang cổ lỗ. Bệnh hình thức, hoang phí, vung tiền qua cửa sổ... nặng vừa vừa chứ, kẻo không đứa dân nào chịu được. Lưng thằng dân đã còng lắm rồi, cõng nặng lắm rồi, đừng vứt lên thêm rác rưởi gì nữa. Đó là chưa nói mấy con ngựa lùn ấy chỉ làm bẩn mắt chứ lễ tân trang trọng nghi thức nỗi gì.

Tôi đề nghị mấy ông bà cai trị xứ này tới một ngày nào đó hãy đi vào thực chất, đừng có bày vẽ rườm rà, hoa hòe hoa sói, màu mè sặc sỡ, cờ đèn kèn trống, băng rôn khẩu hiệu, nay lại thêm ngựa nghẽo, chỉ sướng mình, giải quyết được khâu sĩ khâu oai, nhưng làm khổ dân.

Cộng sản các ông mắc bệnh hình thức nặng nhất quả địa cầu này.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

Chuyện trồng cây (kỳ 2, cuối)

Nhớ láng máng hồi còn bé tí, nghe người nhớn nói cụ Hồ phát động Tết trồng cây. Khi ấy tôi chưa đi học, vài năm sau biết đọc báo thì rõ ra là vào cuối năm 1959, cụ kêu gọi mọi người bắt đầu từ Tết Canh Tý 1960 vừa đón xuân vừa trồng cây cho ích nước lợi nhà. Cụ bảo “Mùa xuân là tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Phải nói rằng, trong trăm nghìn điều mà cụ nói và làm, tôi ưa nhất việc này.

Trên báo Nhân Dân những số ra vào dịp tết luôn có tin tức và hình ảnh ông cụ đi nơi này nơi nọ, cùng ông thư ký Vũ Kỳ và vài người thân cận, xắn quần tới đầu gối, trồng những cái cây non bé xíu. Vẫn biết nhiều khi cụ đóng như thế để làm gương nhưng vẫn thấy quý mến. Những cái cây cụ Hồ trồng thường chỉ to bằng ngón tay cái, cao chừng 1 mét, so với cây các nhà lãnh đạo bây giờ trồng kỷ niệm có nhẽ chưa bằng cái cành nhỏ. Thực ra không cần cụ phát động, người dân vẫn trồng, thậm chí trồng quanh năm chứ chả đợi tới tết, chỉ có điều từ sau Tết Canh Tý mỗi dịp tết lại nô nức kéo nhau xẻng cuốc cây cối đào chỗ này bới chỗ nọ, băng cờ khẩu hiệu cũng vui vui.

Làng Trà Phương quê tôi (ở xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) hồi bắt đầu chiến tranh phá hoại lập ra hội phụ lão trồng cây hăng lắm. Chả là bộ đội tên lửa kéo quân về chiếm bãi tha ma Mả Đò để làm trận địa, mồ mả phải dời hết vào Mả Vối. Các chú đề nghị xã trồng giúp cây cối ngụy trang cho tên lửa, vậy là đội trồng cây các cụ ra đời. Nhà tôi cạnh đường thuận chỗ đi lại, nghỉ ngơi nên các cụ thường tụ họp. Tôi quanh quẩn ra vào, lúc đun siêu nước, lúc bê điếu bát cho các cụ dùng. Gọi là phụ lão nhưng các cụ chỉ ngoài 50. Phần lớn để râu trông oai phết. Đội trưởng là cụ Thạch xóm trong, các đội viên gồm thày tôi, cụ Thấn, cụ Mưu, cụ Thê, cụ Vình, cụ Khể, cụ Bài, cụ Bé, cụ Toán…, gần hai chục cụ. Hơn chục ụ tên lửa, các cụ trồng bạch đàn, phi lao, chuối kín đặc, xanh mướt, tên lửa được dắt phủ cành lá nằm giữa rừng cây thì bọn máy bay Mỹ chịu chết không tìm được. Ấy là tôi nghe các cụ bảo vậy, sau có nghe chú Cảnh thiếu úy sĩ quan điều khiển nói nhỏ bọn Mỹ nó có nhìn bằng mắt đâu mà che. Các cụ còn trồng cho xã một hàng dừa ven đường cặp bờ đầm chạy suốt từ ngã ba Ông Viên ra khu thành phủ cũ, hơn trăm cây dừa to cao lực lưỡng đẹp như thắng cảnh của làng. Tôi xa quê từ 1976, vài năm sau về thấy trống hơ trống hoác, chả hiểu vì sao người ta lại chặt bỏ, cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2020

Đối tượng của ngựa


Sáng 8.6, Bộ cảnh binh tổ chức diễu hành lực lượng kỵ cảnh với 60 con ngựa cho các vị đại biểu quốc hội coi, ngay trước tòa nhà viện dân biểu, còn gọi là nhà quốc hội, tức hội trường Ba Đình cũ. Dân chúng thấy sự lạ cũng kéo nhau đến đích mục sở thị.

Nhà chức việc phú lít cho biết lực lượng kỵ binh cơ động có nhiệm vụ trấn áp tội phạm.

Điều ấy thì ai cũng biết. Không trấn áp tội phạm thì chẳng nhẽ chỉ để diễu chơi làm cảnh. Bao nhiêu tiền của công sức vào cái trại ngựa này chứ có ít đâu.

Vấn đề là tội phạm nào?

Bọn mua bán ma túy chăng? Gớm, bọn ni chúng nó ngồi trong nhà chung cư cao cấp, di chuyển bằng xe tiền tỉ, buôn bán trong hệ thống ngầm, ngựa nghẽo mà làm gì được chúng. Không tin cứ hỏi "anh hùng" Văn Kính Dương và ngọc nữ Ngọc Miu. Cho qua.

Bọn côn đồ như đám áo cam chạy xe máy kéo nhau tới phá quán ốc hương ở quận Bình Tân hôm nọ chăng? Chúng chỉ hành sự buổi tối, ban đêm, làm ào nhát xong rồi rút mất, điện cũng không nhanh bằng. Khi ấy ngựa kỵ binh đang lờ đờ ngáp ngủ, lắp xong được bộ yên lên lưng nó thì bọn tội phạm đã về nhà khò khò từ tám hoánh rồi. Thôi, dẹp.

Chuyện trồng cây

Thật đau lòng. Ngày 26.5, buổi sáng, khi học trò Trường cấp 2 Bạch Đằng quận 3 Sài Gòn đang ngồi ngoài sân chơi bời ăn sáng thì cây phượng to đổ ập xuống, đè chết một cháu, gần 2 chục cháu khác bị thương.

Chiều hôm trước, trời mưa to, gốc cây đã lỏng. Khi cây vật đổ lộ ra cái gốc trụi lủi, không có lấy một mẩu rễ cái, còn đám rễ chùm cũng đã bị chặt tỉa hết để người ta xây bồn xung quanh cho đẹp. Thân cây cũng đã mục bên trong. Thì đâu còn rễ nuôi thân mà chả mục.

Tội nghiệp các cháu bé. Tai họa chả biết đâu mà tránh, nhưng nghĩ giận con người, những người nhớn. Chính họ gián tiếp góp phần cướp đi mạng sống và sức khỏe của các cháu.

Đã từ lâu, xưa lắm rồi, con người sống với cây xanh. Không có cây thì thánh thần cũng chết chứ nói chi người. Cây là lá phổi, bầu dưỡng khí, nguồn oxy, bóng mát, máy điều hòa nhiệt độ… cho người. Hồi tôi còn bé, không nhớ kỹ lớp 2 hay lớp 3, có học bài thơ về cây xanh, rằng “lá cây là lá phổi/cũng hít vào thở ra/cành cây thường vẫy gọi/như tay người chúng ta”. Anh trai tôi mới học lớp 5 nhưng đã thông thạo giảng giải rằng ban ngày cây nó phả ra oxy cho mình thở, đến tối khi mình đi ngủ thì nó mới nghỉ mệt, nó thải ra khí các bô níc (carbonic) vì vậy không nên ngủ dưới gốc cây ban đêm. Công nhận hồi xưa chưa có máy móc hiện đại, mạng miếc, 4 chấm không chấm khiếc gì, chỉ có sách và thầy cô giáo, nhưng trẻ con biết được nhiều điều rất cơ bản, là thứ kỹ năng sống mà bọn trẻ bây giờ rất nghèo nàn.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

Chuyện sinh đẻ có kế hoạch (kỳ 2)

Tới tận năm 1984 nhà nước của nước Việt Nam thống nhất mới chính thức lập ra Ủy ban quốc gia Dân số và sinh đẻ có kế hoạch (sau này đổi thành Ủy ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình), và vị chủ tịch đầu tiên bị nhét ghế vào đít, không phải ai khác, chính là đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vụ này gây xôn xao dư luận xã hội cả trong nước lẫn quốc tế nóng mấy năm liền. Đằng sau sự kiện có một không hai này là biết bao nhiêu góc khuất, cứ lâu lâu lại xì ra một tí, cho tới tận khi cụ Giáp mất năm 2013. Dân gian chưng hửng với quyết định của trung ương, họ bảo giống như trò đùa, trêu ngươi, mấy ổng coi cuộc đời chẳng khác chi sân khấu bi hài. Thời ấy, chả mấy ai không biết câu “Nhà thơ làm kinh tế. Thống chế đi đặt vòng”. Chút sẽ nói kỹ hơn xung quanh chuyện cụ đại tướng phải đi đặt vòng.

Vậy nhưng không phải tới năm 1984 mới thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Như phần 1 đã kể, từ cuối thập niên 1960 là miền Bắc bắt đầu đẻ theo chỉ đạo của nhà nước rồi, bắt chước Trung Quốc. Sau này đất nước thống nhất, tôi vào miền Nam làm việc và sinh sống, tò mò hỏi những người tại chỗ rất nhiều điều, trong đó có cả chuyện sinh đẻ kế hoạch. Mấy thầy cô giáo người Nam dạy cùng trường cười bảo chỉ có miền Bắc ưu việt của các thầy mới thế chứ chúng tôi trong này chả ai cấm, đẻ thoải mái, chỉ tới khi cách mạng về thì mới biết thế nào là đặt vòng. Rồi thầy Hòa còn kể cán bộ về tận các tổ dân phố tuyên truyền, giải thích làm sao phải đặt vòng, hướng dẫn cách đặt như thế nào, đặt vào đâu… Mấy cô giáo, cô Nhã cô Quỳnh cô Ngọc cười tóe lên, ôi giời, kinh bỏ bà, đặt mí chả đặt, có đặt vào mồm các ông ấy.

Cũng là dạng dốt hay nói chữ

Hôm trước tôi đọc trên rất nhiều tờ báo cái tít chình ình chữ to tướng ở trang nhất (báo in) hoặc phần tiêu điểm (báo mạng), họ rút nhời của cụ nhớn rằng “Lợi ích nhóm, tham nhũng là giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm”. Có nhẽ đây chính là nhời cụ bởi nó được đặt trong ngoặc kép, vả lại có dử kẹo họ (báo chí) cũng chả dám bịa.

Tất nhiên, với những lập ngôn đao to búa lớn từ miệng cụ nhớn, người ta hoan hô rần rần. Còn tôi thấy chả có gì hoan hô, mà chỉ chê. Cái nào đáng khen thì khen, cái nào đáng chê thì chê, tính tôi vậy.

Thế thì chê cái gì? Chê cái thói dốt hay nói chữ, chê thói a dua a tòng.

Chữ ở đây là chữ “nội xâm”. Lâu nay thiên hạ có vẻ quen với chữ mới này, không biết do ông ba vạ lãnh đạo nào phát ra trước. Mồm kẻ sang có gang có thép, đám đông nghe vậy không cần biết đúng sai, cứ thế trầm trồ, kiểu như hay nhỉ, khí phách nhỉ, đúng nhỉ. Đúng đúng cái con khỉ.

Từ ghép ất ơ ấy (nội xâm) từng thành tố có gốc Hán Việt, nội và xâm. Ai cũng biết “nội” là bên trong, phía trong, đối lập với “ngoại” là bên ngoài. Nội trú (trú là ở) tức ở bên trong, còn ở bên ngoài là ngoại trú. Đứa nào đi học không về nhà với thày bu mà ở ngay ký túc xá của trường thì gọi là nội trú. Nội hôn là lấy nhau (hôn nhân) trong cùng dòng họ, nhà Trần ngày xưa áp dụng kiểu này để không cho người ngoài họ vào tranh quyền cai trị. Quan nội giám tức là những viên hoạn quan (bị thiến 2 quả lựu đạn để không thể gây… nổ) ở trong cung (nội) chuyên làm việc giám sát (giám) các bà cung phi xinh đẹp nhưng thèm tình ái, ngăn các bà không được tòm tem với ai khác ngoài vua. Nội trợ để chỉ người trong nhà chuyên đỡ đần (trợ) việc nhà…

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020

Một án văn nghệ ít người biết (kỳ 2)

Nước Nam ta xưa nay, án văn nghệ thời nào cũng có. Không kể đến những án ghê gớm liên quan tới Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát…, chỉ riêng thời cộng sản nắm quyền đã nẩy sinh nhiều vụ oan sai, tai tiếng, vẩn đục cả làng văn nghệ. Những người từng sống ở miền Bắc từ thập niên 50 về sau, chả mấy ai không biết không nghe về những vụ liên quan đến văn nghệ sĩ, đến những tác phẩm bị nhà cai trị “rút phép thông công” như nhóm Nhân văn giai phẩm (với Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Thụy An, Đặng Đình Hưng, Trần Duy…), “Nhãn đầu mùa” của Trần Thanh - Xuân Tùng, “Phá vây” của Phù Thăng, “Hai trận tuyến” của Hà Minh Tuân, “Sắp cưới” của Vũ Bão, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, “Tây tiến” của Quang Dũng, “Mở hầm” của Nguyễn Dậu, “Những người thợ mỏ” của Võ Huy Tâm, một số bài ký của Nguyễn Tuân… Sau nữa là “Cửa mở” của Việt Phương, “Cây táo ông Lành” của Hoàng Cát, “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “Sẹo đất” của Ngô Văn Phú… Rồi “Đề cương văn nghệ năm 1986” của Nguyên Ngọc, “Ly thân” của Trần Mạnh Hảo, “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, những phát ngôn của Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Minh Châu, v.v.. Có cái thành án, thậm chí tác phẩm bị cấm tiệt, tác giả bị tù tội; có cái chỉ do lệnh miệng vu vơ rồi chịu số phận dập vùi, cấm cửa ở các nhà xuất bản, không một tờ báo hoặc cơ quan truyền thông nào dám nhắc tới nữa. Tất cả chỉ bởi vì chính quyền-nhà cai trị không thích, không hài lòng, nhẹ thì cho nó là dao hai lưỡi, lập lờ hai mặt, ám chỉ, xuyện tạc, nặng thì bị quy thành chống đối, phản động, thù địch.

Nhưng như thế đã đi một nhẽ. Đằng này có cả không ít tác phẩm theo dòng chủ lưu ca ngợi, đề cao, tâng bốc, xu nịnh (những điều mà người cộng sản rất thích, rất chú trọng) cũng bị xử luôn. Tôi muốn nhắc ở đây trường hợp một bài hát từng khá nổi tiếng, bài “Khi ta nghe tiếng người” của nhạc sĩ Lê Lan.

Chuyện sinh đẻ có kế hoạch

Con người cũng như con vật, phải có sinh đẻ thì mới bảo tồn được nòi giống, mới tồn tại được. Còn làm thế nào để có sự sinh đẻ lại là chuyện “nhạy cảm”, khó nói, không tiện nhắc ở đây, hì hì.

Hồi cuối tháng 4 (2020) vừa rồi, dư luận xã hội lao xao về cái quyết định gì đó của chính phủ do ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký, nội dung đề nghị dân chúng đẻ sớm, trước 30 tuổi càng tốt, đẻ nhiều, nhà nước không hạn chế. Nghị định cũng không nói rõ sớm nhất là bao nhiêu, nếu đẻ nhiều có được nhà nước, chính phủ nuôi không. Tôi còn nhớ đọc cuốn sách về bà Trần Lệ Xuân vợ ông Ngô Đình Nhu, sách kể rằng bà cụ thân sinh bà Xuân lấy chồng sớm từ khi 12 tuổi, tới 13 tuổi đã đẻ, mà đẻ ra tinh dững siêu nhân. Hay là ông Phúc cũng có đọc cuốn ni rồi mới đẻ ra cái nghị định ấy. Tôi có đứa cháu con người bạn thân (thầy Nguyễn Văn Vy, đồng hương, đồng môn, đồng nghiệp), vợ chồng nó sang định cư ở Úc, bên ấy thiếu người nên cho đẻ thoải mái, chả cấm đoán kế hoạch gì, đẻ càng nhiều thì trợ cấp của nhà nước càng cao, tới tận 18 tuổi lận. Nay nó chưa đầy 4 sọi (40) mà đã 3 đứa lít nhít, tôi giục bảo mày cứ làm thêm vài đứa nữa, chả tội gì không đẻ, đã có bọn Úc giãy chết nuôi, cho chúng nó sập tiệm luôn.

Mà chẳng phải chỉ riêng ông Phúc, có một dạo, cuối năm ngoái 2019, ông Nguyễn Thiện Nhân không biết do ai xúi, cũng lên tiếng giục chị em đẻ nhiều. Lão hàng xóm nhà tôi cười, cha Nhân dạo ni rảnh nhỉ, lo cả chuyện đẻ đái, đi sâu vào quần… chúng. Tôi bảo phỉ phui cái miệng ông đi, đẻ nhiều càng tốt chứ sao, thành phố của ông Nhân đang thiếu lao động, cứ đẻ cho thật lực vào, có thế đàn ông mới có việc.

Phạt

Nói ra thì dễ bị mang tiếng, rằng chống chủ trương chính sách của chính phủ. Nhưng không nói thì ấm ức... đéo chịu được.

Tự dưng các bố ban quy định cho phép công an được dừng và kiểm tra bất cứ người chạy xe nào dù không hề vi phạm. Có ông cán bộ còn tuyên bố đâu phải chỉ ta mới làm thế, Mỹ nó cũng làm, ra cái điều ta giờ mới thực hiện là đã nhân tình lắm, chậm lắm rồi.

Tôi nỏ cần biết bọn Mỹ giãy chết nó thế nào, chỉ biết đang chả mắc lỗi gì mà bị chặn xét hạch hỏi thì chỉ muốn chửi cho bõ tức.

Hay là các bố nhìn ai cũng nghi là thế lực thù địch, 100 thằng dân tử tế thì có 99 thằng đáng nghi nên cứ chặn xét cho chắc ăn.

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

Thói giả dối

Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, chưa khi nào tôi thấy thói giả dối trắng trợn lên ngôi như thời này. Giả dối thì lúc nào cũng có, nhưng giả dối nghênh ngang, giả dối leo tận lên nóc thì có nhắm mắt cũng vẫn hình dung nó đang diễn ra thế nào.

Sẽ có người nhân danh bảo vệ này nọ, nhân danh đạo đức (mà chả hiểu đó là thứ đạo đức gì) thách thức, kiểu rằng đừng có vu vơ thế, hãy chứng minh đi. Thì chứng minh.

Khi cả nước đang lao đao chống dịch viêm phổi Vũ Hán, tính mạng con người treo đầu sợi tóc, dẫu có làm hết sức mình còn chưa đủ tử tế, thì có những kẻ thay mặt cơ quan nhà nước trắng trợn ăn tiền mua máy cứu chữa người bệnh. Cái máy giá chưa đầy 2 tỉ đồng, chúng đôn lên 6, 7, gần 8 tỉ đồng, chênh lệch khủng, chấm mút chia nhau đồng tiền tội lỗi bẩn thỉu từ nỗi đau của dân chúng, cộng đồng. Chuyện xảy ra không chỉ ở một vài tỉnh thành mà phổ biến nhiều nơi, cứ như có tập đoàn ăn chia điều hành. Đó đã là điều khốn nạn. Và khốn nạn hơn nữa, khi sự khốn nạn bị phát giác thì chúng giả dối, quay ngoắt trắng trợn phân bua, cãi chày cãi cối, lấp liếm rằng máy mượn, mới chỉ thỏa thuận, chưa mua bán gì. Đó là sự khốn nạn thứ 2. Chưa dừng lại ở đó, hình như “người ta” sợ rút dây động rừng, xấu chàng hổ ai nên vụ việc “ăn không chừa một thứ gì” ấy đang có vẻ bị chìm vào quên lãng, hòa cả làng. Là sự khốn nạn thứ 3. Ba tầng khốn nạn trong một vụ việc, trời còn chả chịu thấu nữa là dân.

Chém cha cái sổ hộ khẩu, bàn tới bàn lui làm gì

Mấy hôm nay, xứ An Nam với vai trò đầu têu của quốc hội lại um xùm quanh chuyện hộ khẩu. Cuốn sổ hộ khẩu bé bằng 2 bàn tay lần này lại được nâng lên đặt xuống. Cần phải nói thẳng ra rằng nó không phải chỉ là cuốn sổ biên trong đó những thông tin về con người, gia đình, mà thực chất là cái cùm cái gông cái xích cái vòng kim cô… cùm trói, đè nặng lên số phận công dân nước này. Khi đã là cùm thì nó thành thứ công cụ cai trị, kẻ cầm quyền chỉ muốn giữ chứ mấy khi bỏ. Kéo dài đã ¾ thế kỷ trói buộc bằng sổ hộ khẩu kể cũng đã quá lâu, giờ mới bàn tới chuyện bỏ là khí muộn. Chẳng trách gì cái sổ hộ khẩu bởi nó chỉ là thứ vật chất vô tình, đáng trách là ở những kẻ có quyền bấy lâu này dung túng nó chỉ cốt bảo vệ thứ quyền lợi băng nhóm xấu xa ích kỷ.

Đã có những tín hiệu khả quan cho sự kết liễu sổ hộ khẩu. Đích thân ông đại tướng Tô Lâm đăng đàn trình trước các vị nghị viên về việc xóa cùm. Trước đó bà chủ tịch quốc hội Kim Ngân cũng có lần ề à than phiền hộ khẩu gây tai ách cho bà thế nào, “tôi cũng làm mất sổ hộ khẩu, phải đi khai báo lại 2 - 3 lần” (theo báo VNN ngày 23.4.2020), ra cái điều ta đây cũng bức xúc lắm, từng là nạn nhân chớ bộ. Xa tí nữa, năm 2017, chỉ 1 năm sau khi ngồi ghế thủ tướng, ông Nguyễn Xuân Phúc đặt thẳng vấn đề bỏ sổ hộ khẩu, cũng than rằng “thì là mà” nó tai ách lắm. Dân tình sướng ran, tưởng phen này chính phủ liêm chính kiến tạo sẽ cởi cùm trói cho mình, ai dè cứ lặng đi luôn, ném đá ao bèo, chìm dần, mất hút. Có nhẽ ông thủ tướng đã phải chờn trước đám lợi ích có súng đang sống bằng việc bu vào cuốn sổ mỏng mảnh tai quái đó.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2020

Ép làm người tốt

Điều hầu như ai cũng thấy, là cứ vài ba ngày, thậm chí liên tục, thủ tướng Phúc lại họp với ban chỉ huy phòng chống dịch Vũ Hán, còn gọi là COVID-19. Dân chúng ghi nhận sự tích cực và trách nhiệm của ông. Mỗi lần họp đều cập nhật thông tin, đề ra những hành động mới, chứ không phải khề khà ngồi nói dăm ba câu, vỗ tay khen nhau rồi kéo đi ăn mừng cuộc họp thành công tốt đẹp.

Sáng 15.5, ông Phúc cũng họp, chính ông đặt ngay vấn đề "không được vận động, ép dân ký đơn từ chối nhận sự hỗ trợ của chính phủ". Vụ này diễn ra ở nhiều nơi, cộm nhất tại Thanh Hóa, một tỉnh giàu tài nguyên nhưng nghèo nhất nước. Tiếng dữ đồn xa, tới nay đã vài tuần, bây giờ cụ thủ mới đề cập, nêu ra, mới chỉ đạo xử lý là khí muộn.

Nhưng muộn còn hơn không. Khi ông Phúc nói không được thế này, không được thế nọ tức là ổng đã nhìn thấy sự thực, thấy có tình trạng ép dân, bức bách người nghèo. Những kẻ làm sai làm bậy đều trong bộ máy chính quyền, cần lôi cổ chúng ra. Sáng nay đọc báo, thấy chúng đổ cho trưởng thôn. Đèo mẹ, chúng khôn lỏi, bởi trưởng thôn do dân bầu, chỉ như anh loong toong, không nằm trong hệ thống chính trị. Đổ cho trưởng thôn tức là dân làm sai với nhau chứ cán bộ không hề sai. Thay dân phạt dân chứ không thể thay cán bộ phạt cán bộ.

Một án văn nghệ ít người biết

Hôm rồi, Ban Tuyên giáo của đảng tổ chức khá long trọng lễ trao giải cho những cá nhân, tập thể, tác phẩm học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách của cụ Hồ. Điều này nhà nước chính quyền thực hiện hằng năm nhưng năm nay là mốc kỷ niệm chẵn hoành tráng (130 năm) nên độ lễ cũng hoành tráng hơn.

Cứ như những hàng chữ “đại tự” và con số cũng to chẳng kém trên phông màn (ảnh kèm theo) thì cuộc lễ này là “Lễ trao giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 - 2020”. Nhiều giải lắm. Trao nhận tíu tít. Nhưng cảm thấy lạ nhất là ban tổ chức lại lần mò quá khứ, trao giải đặc biệt (tức là giá trị trên cả giải nhất) cho một bài thơ chỉ thế hệ tôi (và trước hoặc sau đó mươi năm) biết, bài “Hồ Chí Minh, tên người là cả một niềm thơ” của nhà thơ cộng sản Cuba Felix Pita Rodriguez. Có nhẽ ban tổ chức đã chuẩn bị kỹ lưỡng nên mời cả con gái thi sĩ quá cố tới nhận giải ngay trên sân khấu, do đích thân nhân vật số 2 của đảng, ông Trần Quốc Vượng trao.

Phải nói như này, đó là một bài thơ viết về cụ Hồ vào hạng hay nhất. Mà lại do người nước ngoài viết. Tôi lẩn thẩn cho rằng còn hay hơn cả thơ Tố Hữu về cụ, vốn chỉ ca ngợi một cách thái quá, giọng điệu nịnh nọt lộ liễu. Có nhẽ chỉ bài thơ nội địa “Muôn vàn tình thương yêu trùm lên khắp quê hương” của nhà chính trị-thi sĩ Việt Phương mới sánh nổi. Lứa chúng tôi (sinh giữa thập niên 50) hầu như đứa nào cũng biết, thậm chí thuộc làu bản dịch bài thơ của Phê Lích (thời ấy cứ gọi nôm na tên của Felix Pita Rodriguez thành Phê Lích Pi Ta Rô Đri Ghết). Hình như người ngoài họ nhìn vào ta sẽ khách quan chân thực và táo bạo hơn. Đó là chưa nói thứ tư duy của Tây có những vượt thoát ra khỏi khuôn mẫu tầm thường (mà phương đông hay có), tạo ra những hình ảnh đặc biệt. Lúc ban đầu,

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

Chuyện Nguyễn Văn Hiến thời Tam quốc

Yên nào, đừng sốt ruột, để tui kể cho mà nghe.

Tôi biết chắc sẽ rất nhiều mới đọc cái tít ngắn ngủn 7 chữ kia sẽ thắc mắc: vớ vẩn, bên Tàu, thời Tam quốc lấy đâu ra Nguyễn Văn Hiến, làm quái gì có họ Nguyễn.

Vâng, thời Tam quốc, thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên đúng là không có Nguyễn Văn Hiến, cùng lắm chỉ có một tướng tên Hiến là Tống Hiến, kẻ thân tín của Lã Bố, sau hàng Tào Tháo, bị Nhan Lương đại tướng của Viên Thiệu chém chết.

Nhưng họ Nguyễn thì Tàu có nhé, nhất là ở vùng Nam Việt (Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ), vốn đất của Triệu Đà xưa. Trong “Hịch tướng sĩ” bất hủ, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn từng viết “Vương Công Kiên là người thế nào, tì tướng của y là Nguyễn Văn Lập là người thế nào mà giữ được thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, khiến cho trăm vạn sinh linh nhà Tống phải đội ơn sâu”. Bài ni có trong sách “Trích giảng văn học” lớp 7 (hệ 10 năm ở miền Bắc) hồi tôi học. Thầy văn Nguyễn Minh Phất bắt chúng tôi phải học thuộc lòng, cũng như phải thuộc “Bình Ngô đại cáo”, “Ta đi tới”, “Rằm tháng giêng”, “Nổi gió”, thuộc cả câu trứ danh “Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta” dùng để mở bài… Khi đọc đến cái tên Nguyễn Văn Lập, thằng Nguyễn Văn Ao (bằng tuổi tôi, người thôn Phương Đôi) học cùng lớp bảo, ơ, bên Trung Quốc cũng có họ Nguyễn chúng mày ạ, như tao, như thằng Nguyễn Văn Đến (thôn Quế Lâm), thằng Nguyễn Văn Thông (thôn Trà Phương), hay nhỉ. Anh Ngô Trọng Tiến cười, hay cái đéo gì, làm tì tướng thì khác gì thằng hầu, phải làm tướng mới thích, Ngô Khởi chẳng hạn. Ao sau này đi bộ đội vào nam rồi hy sinh, tên anh trong tấm bia ở nghĩa trang xã tôi, khắc đề Liệt sĩ Nguyễn Văn Ao.

Cái người mà tôi gọi là “Nguyễn Văn Hiến thời Tam quốc” thực ra không phải họ Nguyễn mà họ Sái. Ai từng đọc bộ danh tác này chắc đều nhớ Sái Mạo (còn gọi là Thái Mạo), một viên tướng tâm phúc

Chuyện áo rét (phần 2, cuối)

Miền Bắc, Hải Phòng, mùa hạ, tháng 5.1967 (hoặc 1968 chi đó). Như đã kể, tôi và đứa cháu họ, hai thằng hí hửng vớ được mấy cục nước đá to bằng cái gối mây, bọc kỹ rơm bên ngoài, đặt lên xe cải tiến kéo về. Từ Kiến An tới nhà còn mười mấy cây số nữa, đã tối nhọ mặt, cứ nghĩ tới cảnh ở nhà có nước đá uống lúc đang bức sốt, mỗi người làm cốc nước chanh đá mà lại phấn chấn. Hai chiếc xe cải tiến lọc cọc lọc cọc thứ âm thanh buồn đơn điệu. Thỉnh thoảng cứ vài cây số lại dừng kiểm tra đá, coi có còn không. Còn, nhưng nhỏ đi nhiều, đám rơm thì ướt đẫm. Về đến đầu làng thì trời tối lắm, đường không một bóng người, cả làng chìm trong màn tối đen. Hai thằng dừng lại sờ đá lần cuối, chả thấy đâu cả. Nó đã tan hết, không để lại dấu tích gì. Trí cười mếu, thế là toi bữa tiệc nước chanh. Tôi về nhà kể cho bà Khoắn chị cả tôi nghe, bà chị bảo các ông ngu vừa vừa chứ, đá ấy nó làm bằng nước sông nước ao chứ sạch sẽ gì, nó để ướp cá cho tươi, cá bán hết thì nó vứt đi, thế mà cũng cố kéo về, rõ ngố.

Đang kể chuyện áo rét, vòng vèo chuyện nước đá hơi lâu, giờ lại quay về chủ đề chính.

Tiếng Việt mình lạ lắm. Nói tới áo rét, áo lạnh, ai cũng hiểu đó là thứ áo gì, để làm gì. Nhưng nếu tự dưng có ông bà nào vào cửa hàng quần áo bô bô rằng ở đây có bán áo ấm không, cô bán hàng liền lấy ngay cho xem mấy chiếc áo rét, áo lạnh. Vẽ, lạnh hay ấm thì cũng chỉ để chống rét. Khi tôi vào sống hẳn trong miền Nam, nơi nóng quanh năm, chỉ được mươi ngày trước và sau lễ Giáng sinh trời se se lạnh (có người bảo đó là phép màu của Chúa, ban cho con chiên để hưởng lễ vui vẻ), nên gần như không phải mặc áo rét. Con trai con gái người già trẻ con đều quần áo mỏng, đồ cộc đồ ngắn, chả cần biết áo len áo bông. Giả dụ có sắm bộ veston cũng chỉ mặc xúng xính khi có đám cưới đám cheo, xong lại cất biệt vào tủ. Nhớ có lần cùng đám nhà báo đi Lâm Đồng dự lễ khởi công cái nhà máy thủy điện Đạ Dâng-Dachamo, năm 2005 thì phải, mình cùng hai bác phóng viên ảnh tên Thành (Đức Thành-SGGP, Công Thành-Tuổi Trẻ) mò ra chợ đêm Đà Lạt. Thành phố này là nơi duy nhất ở miền Nam bán áo rét áo len, bán quanh năm, chứ không như miền Bắc chỉ trưng vào mùa đông. Chiếc áo khoác dày vải simili chỉ 70.000 đồng, áo len dài tay cổ lọ có trăm mốt (110.000). Mình hứng chí, đúng cái thói của người từng rét run bần bật, khuân cả hai về Sài Gòn. Suốt 2 năm trời, không mặc được lần nào, cuối cùng lại phải cho ra bắc để chúng có điều kiện làm nhiệm vụ chống rét.