Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ông cụ Đẹn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ông cụ Đẹn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Ông cụ Đẹn (phần 2)


Sống ở nông thôn tuổi thơ ngắn lắm. Đi học vài tiếng tại trường thôi, thời gian còn lại lăn ra đồng. Bố mẹ làm nông, con cái đâu dám chơi bời  gì. Hợp tác xã thu hết ruộng đất chỉ chừa lại cho gần sào rau xanh diện 5%, cả nhà ngoài thời gian làm công điểm thì xúm vào đó mà hành hạ đất đai. Thày mình lớn tuổi, sức yếu, vả lại trước kia chỉ quen sách vở chữ nghĩa, chả rành cày cấy nên nghiễm nhiên bị giao cho đảm trách việc nhà, họa hoằn lắm mới dính tí công chuyện hợp tác. Phần đối ngoại dường như dồn hết lên vai bu mình, cấy hái, nhổ mạ, đập nương, tát nước, dỡ khoai, hái thuốc lào… để lấy công điểm, làm quần quật cả sáng lẫn chiều, cao lắm cũng chỉ được 12 điểm, chả mấy khi được công rưỡi. Bác Tư đội trưởng đội 4 nhà mình chấm công làm sao ấy, cứ đàn ông thợ cày thợ bừa dù vừa làm vừa chơi cũng được phết  những 2 công (20 điểm), còn các bà áo đẫm mồ hôi cả ngày không kịp khô vẫn chỉ hơn 1 công. Chuyện qua lâu rồi, nay nhắc lại chả phải đòi hỏi gì mà chỉ buồn một thời các bà vất vả thiệt thòi. Nói thật, không có các bà, nhiều việc các ông có mà làm được khối. Mình chả thể quên những lần cắt lúa đầm Trợ hoặc đầm cánh Bến. Mùa đông rét cắt da cắt thịt, bu mình, dì Được, bá Nữ, thím Chung, bà cụ Đẹn… dầm nước ngang lưng, cắt được bó nào, mình và mấy đứa cùng tuổi như Dinh, Hiển, Bốn, Hữu, Bằng, Tuyên, hai anh em sinh đôi Việt-Bắc… đẩy thuyền theo nhặt xếp đầy ngọn, còng lưng đủn vào bờ cho đám thanh niên nhớn hơn bó lại gánh về sân hợp tác. Được hạt gạo vào mồm, cả mẹ lẫn con vất vả khổ cực trăm bề, chả khác thời thực dân đế quốc.

Tụi mình lúc đó trên dưới 10 tuổi nhưng đứa nào đứa nấy già sớm, hốc hác, đen đủi. Mấy năm sau Hiển con bác Vình, Hữu con bác Tư đi bộ đội, học hành dở dang, vào chiến trường rồi hy sinh, chết quá trẻ chưa đầy đôi mươi. Mình không phải khoác áo lính vì có anh Uy đi, nhà cứ hai trai thì một được tạm hoãn. Nhưng tí tuổi mà đã già dặn ra phết. Cũng biết đập nương, tát nước, nhổ mạ, dỡ khoai… Nhà mình không được chia trâu nên mấy anh chị em mình không có tuổi thơ chăn trâu như anh em nhà Dinh, Hiển, Bốn. Nhiều lúc thèm chăn trâu, sinh ra tị nạnh. Còn nói ra mồm, đến bác Bổ ngố nhà cụ Đẹn cũng có trâu để chăn, cớ sao mình cứ suốt ngày rảo kênh trên đầm dưới, hết kiếm rau lợn, lại nấu cám, rút rơm, quét sân quét nhà.

Rồi một lần, sáng mùng 1 tết, chả nhớ năm nào, rét khiếp, mấy gốc đào thày trồng vườn trước sân chắc do lạnh quá nên chả hé được bông nào. Các chú bộ đội tên lửa trận địa Mả Đò mọi năm đều vào xin cành đào, có năm xin nhiều quá đến nỗi thày mình khước từ thì không nỡ, cho nhiều quá thì tiếc nên mới lấy nước vôi kẻ chữ rõ to lên tường bao quanh sân: Không hỏi xin cành đào! Năm ấy rét đậm từ đầu tháng chạp, đào cứ xoăn tít lại chả hé được nụ nào, vườn trông vắng hoe. Mình và tí Ngọt đang xúng xính áo mới nhưng rét quá phải mặc thêm áo bông cũ trùm ngoài, bất chợt nhìn ra vườn Bỗng, cái nghĩa địa nho nhỏ phía sau nhà hợp tác thấy bác Bổ (ít tuổi hơn mình nhưng mình phải gọi là bác) co ro phong phanh trong chiếc áo tơi lá te tua, quần nâu lá tọa vo lên đầu gối, lầm lũi dắt trâu đi, chả biết tết là gì. Giời ơi, mùng một mà cũng phải chăn trâu, từ bấy mình không thèm trâu nữa.

Ba anh em bác Bổ (Bổ- cu nhớn, Quả- cu nhỡ, An- cu con) đều ngố. Có người bảo tại cụ Đẹn chịu nhân quả sau cải cách ruộng đất. Mặt họ ngây ngô, nhem nhuốc, quần áo rách rưới quanh năm, ai cho cái gì cũng ăn, hình như lúc nào cũng đói. Họ chỉ có việc duy nhất là chăn trâu, có lúc cả ba anh em cùng đi, lúc thì Bổ hoặc Quả cầm thừng. Trâu gặm cỏ, còn họ tuốt đòng đòng (lúa non sắp trổ bông) ăn ngấu nghiến. Vào vụ dỡ khoai, cả ba lần mò trên các cánh đồng đã dỡ xong, vớ được củ nào còn sót lại là rửa quấy quá, hoặc chùi vào quần cho sạch đất, ăn ngay tại chỗ. Ông bà Đẹn biết các con đói khổ nhưng cũng đành chịu, nó phận ngố đã đành, vả lại cả nhà đều nhịn đói chứ riêng gì chúng đâu. Hợp tác chia cho mấy tạ thóc, trăm thứ trông vào, chai mắm, chai dầu hỏa, ký muối, mét vải, nhà 6 miệng ăn chỉ với chừng đó suốt nửa năm giời, không tằn tiện chỉ có nước đi ăn xin.

Mấy đứa trẻ nghịch ngợm chúng tôi hay trêu anh em bác Bổ, gọi họ là thằng ngố. Thày bảo chúng tôi đừng nên thế, họ cũng là người, họ chịu thiệt thòi, mình đừng coi khinh bởi các bác ấy có muốn thế đâu. Thày bu tôi thỉnh thoảng có củ khoai luộc, gióng mía, quả dưa lại nhờ chúng tôi đem cho các bác. Lạ là họ chả tranh giành ăn bao giờ. Bao nhiêu, nhiều ít thế nào mặc lòng. Hình như người ngố do kém suy nghĩ nên họ ít giành thứ này thứ khác về mình, kệ buồn vui thiên hạ.

Đận ấy, cây ổi góc vườn nhà bói mấy quả đầu mùa, thấy đã ương ương, tôi hăm hở trèo lên định vặt tất, chưa chín cũng được, không lại béo lũ học trò Quế Lâm thường đi học qua. Đang khều khều thì thấy bác Quả đứng chờ dưới gốc hồi nào. Mặt bác vêu vao, da xanh lét, hai ống chân như ống sậy, chiếc quần đùi rách hở cả bụng. Thôi, lại mất toi vài quả rồi. Tôi phân vân và tiêng tiếc, dù chưa cho. Chợt nghe ông anh họ, anh Huy làm giáo học hỏi đùa bác Quả: Uống rượu chửa? Bác Quả: Uống rồi. Bác Huy: Say không? Ông Quả: say đờ. Nghe hai vị nói chuyện với nhau, tôi bật cười. Bác Huy nói tôi cho ông Quả hai trái và bảo: Khốn nạn, cơm còn chả có mà ăn thì làm gì biết đến rượu mà say đờ. Khổ cái kiếp người. Tôi thấy anh tôi rơm rớm nước mắt, tôi cứ lạ, sao anh ấy lại khóc được nhỉ. Về sau khi nhớn lên tôi không tiện hỏi nhưng tự mình hiểu ra.

Tôi đi học xa nhà rồi nhận việc nơi xa, ít có dịp về quê. Đôi lúc cũng hỏi thăm về mấy người con bất hạnh của cụ Đẹn. Nghe kể bác Bổ- cu nhớn đi chăn trâu đạp phải sợi dây điện bị bão làm đứt, điện giật chết. Bác An- cu con cũng chết do bệnh tật, nghèo đói. Không thấy nói gì về bác Quả- cu nhỡ say đờ, nhưng tôi nghĩ rằng số phận chắc cũng chả hơn gì.

Thật tội nghiệp cho họ. Cũng một kiếp người.

5.3.2012
Nguyễn Thông

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Ông cụ Đẹn

PHẦN 1

Cho đến giờ, tôi chưa thấy ai khổ như ông cụ Đẹn. Hình như cái tên nó vận vào người. Cuộc đời cứ ngày càng quắt queo. Và không chỉ một mình cụ ông, cả nhà ấy mỗi người là một số phận nghèo khó, khổ đau, thảm hại. Bức tranh gia đình toàn màu xám xịt.

Ông Đẹn người làng tôi, nếu xét họ xa bên ngoại thì là bề trên cả bu tôi, mấy chị em tôi phải gọi bằng ông, nhưng cứ quen cách xưng hô một điều cụ Đẹn hai điều cụ Đẹn, các con cụ chúng tôi kính cẩn thưa bằng bác bằng bá dù họ chỉ bằng, thậm chí kém tuổi. Chỉ có người con gái lớn của cụ đi học, hết cấp 2 thì nghỉ, lấy chồng xa, còn 3 người con trai kế tiếp chả bác nào học hành gì, nguyên do tôi sẽ nói sau.

Lúc tôi bắt đầu học lớp vỡ lòng thì quê đang phong trào hợp tác hóa. Cán bộ xã đến từng nhà, trước thì vận động sau thì gò ép bắt phải góp ruộng góp trâu vào hợp tác. Cơn bão cải cách ruộng đất vừa đi qua vài năm nhưng đâu đây, góc nọ góc kia vẫn thấy đeo đẳng khốc liệt. Những nỗi khiếp sợ, chán nản còn hằn trên gương mặt người. Anh chị tôi thỉnh thoảng kể lại cái thời ấy và thường nhắc đến cụ Đẹn. Chuyện rằng đội cải cách thấy cụ thành phần bần cố nông cốt cán, họ xúi cụ hăng hái đấu tố rồi còn xếp cụ tham gia đội hành quyết địa chủ. Cụ cứ như con loi choi, ai sai cũng dạ ai bảo cũng vâng, việc gì cũng làm, con người hiền lành bỗng chốc biến thành hung thần, chẳng cần phân biệt đúng sai. Những gia đình bị cụ tố oan sai căm cụ đã đành, ngay cả người làng người nước chả thù hằn gì cũng dần dần xa lánh cụ. Nhưng nếu chỉ có vậy thì còn phúc cho ông cụ Đẹn lắm.

Vào hợp tác, hai vợ chồng cụ suốt ngày quần quật ngoài đồng, lúc thì việc do đội sản xuất phân công lúc thì chăm bón hơn sào ruộng rau xanh, mùa lúa cấy lúa mùa khoai trồng khoai. Cụ ông thật khỏe, hình như tôi chả thấy cụ ốm bao giờ. Vậy mà đói rách quanh năm. Những khi nhà tôi có việc gì nặng nhọc một chút, như đánh mấy gốc tre, bửa đám củi gộc… thì thày tôi lại sai con cái ra gọi cụ Đẹn. Nhà tôi hồi ấy cũng giống bao gia đình xã viên, chả khá giả gì, được cái bu tôi tháo vát biết chút ít buôn bán nên bữa ăn đôi khi chút thịt chút cá. Sau một vài lần như vậy, tôi tỏ ý ngấm nguýt bởi cụ Đẹn ăn khỏe nên khi thày bảo sang mời cụ ra làm giúp thì cứ lần lữa thoái thác, kiếm cớ bận chuyện này chuyện kia rồi chuồn. Nhưng thày hiểu, một lần trong bữa cơm thày bảo (đại khái rằng) các con ạ, việc này việc khác nếu thày hoặc chúng mày (khi thân mật thày gọi như vậy) cố một tí thì cũng xong nhưng để cho cụ Đẹn làm là thày muốn đãi cụ bữa cơm, cụ quanh năm đói nên cả đời chẳng biết no là gì. Chúng tôi nhìn nhau, từ bấy không hề ý kiến ý cò nữa, thày vừa ngỏ ý là tôi co cẳng phóng vào kêu cụ ngay.

Nơi ở của gia đình cụ Đẹn gọi là nhà cũng được, không phải nhà cũng chả sai. Ba gian tường đất nện thấp tè, mái rạ, sân đất, ngõ đầy cỏ dại. Mấy bụi tre lơ phơ khô cằn sau cái chuồng lợn ọp ẹp dột nát trống hoác. Trong nhà hầu như chẳng gì đáng kể ngoài 2 chiếc giường tre khập khễnh, giữa nhà đặt cái thùng gỗ tạp cũ kỹ chả ra vuông chả ra chữ nhật bị mọt ăn loang lổ, vừa dùng đựng thóc vừa làm bàn thờ ông bà. Góc nhà quần áo rách rưới bạc phếch vắt lộn xộn trên cây sào tre, sộc mùi ẩm mốc. Hai chiếc ổ rơm có lẽ là chỗ nằm chỗ ngủ của mấy người con trai. Mỗi lần vào nhà cụ tôi cứ thấy chờn chợn thế nào ấy, một phần bởi sự hoang vắng hôi hám lạnh lẽo từ một không gian nghèo khó, phần khác vì phải vòng qua cái vũng nong tát nước ngay đầu ngõ nhà cụ, sát ao ông Vình, nơi nổi tiếng lắm ma. Hồi ấy người ta làm thơ viết nhạc ca ngợi “dân có ruộng dập dìu hợp tác, lúa mượt đồng ấm áp làng quê, chiêm mùa cờ đỏ ven đê, sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”, xảy ra ở đâu tôi chẳng biết, chỉ thấy vùng quê mình sao mà vắng lặng, u tối, nhiều chỗ ma quỷ trú ngụ đến thế. Nào bờ tre nhà cụ Xe có cây tre đực cứ ai đi ngang thì nó ngả rạp xuống chắn lại, trèo qua thì nó vổng lên; bờ duối già gần nhà bá Thược xóm trong đêm nào cũng vọng ra tiếng cười rúc rích; rồi ma trâu gần ngõ bà Thậm, bóng người con gái quần áo trắng tinh tóc xõa chỗ cây sung nhà ông Mông, còn lối ra xóm Trợ cứ nửa đêm vào dịp ngày rằm mùng một lại có đoàn lính tráng mờ ảo kéo nhau đi… Vậy nên chỉ sau lúc gà lên chuồng một chặp là các xóm yên ắng lạ lùng, chìm trong bóng tối, đây đó vài ánh đèn dầu le lói nơi lũ trẻ học bài. Dường như tất cả im lìm sau một ngày mệt mỏi, đến nỗi nghe rõ mồn một tiếng cò xao xác bay đi kiếm ăn vọng vào đêm thoáng xa thoáng gần, dài từ bờ đầm Trợ đến tận đầu núi Chè. Có lẽ xóm thôn chỉ vui hơn vào những tối chia thóc, ông Tư đội trưởng sản xuất cho đốt cái đèn măng-xông sáng choang treo ngay giữa sân hợp tác, cả xóm tụ về chia thóc chia rơm, công điểm tính thừa tính thiếu cứ ồn cả một chặp. Còn bọn trẻ con thì những đêm trăng rủ nhau ra đình, lúc ấy được trưng dụng làm trường cấp 2, đánh trận giả hoặc chơi trốn tìm, nhiều hôm ham chơi lúc bố mẹ gọi về thì trăng đã xế ngọn tre, quên cả ma quỷ.