Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

TRONG MẮT TÔI

Trưa nay tôi uể oải lầm lũi chạy xe về, khác hẳn với một tuần trước đầy phấn chấn. Nỗi buồn cứ quay quắt, ồn ào khiến mình mệt mỏi. Chả dám than trách bởi đã xác định trước rồi, đường đời lắm nỗi gian nan. Không thể viết ngay được, mà mình lại vốn chậm chạp, viết cũng chậm. Nhưng không thể không viết.

Người xưa khi cần tăng tính thuyết phục cho điều gì đó thường quả quyết “mắt thấy tai nghe”. Những gì tôi biên ra đây là qua con mắt của tôi, còn bạn có tin hay không thì tùy.

Điểm lại một chút: 6 giờ 30 sáng bà xã chưa dậy, tôi ghi vội mấy chữ để trên bàn rồi xách xe đi. Đi - về báo cáo tuy hơi mất tự do nhưng trong trường hợp này có cái hay của nó. Đến cơ quan gặp đồng nghiệp Mr.Do cũng vừa tới. Nó trẻ, nhanh hơn mình, bỏ xe máy lại, lủng lẳng chiếc máy ảnh ống kính dài, thoắt cái đã ngoắc xe ôm vù mất. Mình cũng kêu một chiếc, bảo bác tài nhẩn nha dọc đường để xem nhân tình thế thái. Sài Gòn vẫn ồn ã nhộn nhịp, chả ai biết sau những gương mặt kia là những suy nghĩ gì. Tới nhà hát thành phố, dòng đời thường vẫn như hôm qua hôm kia hoặc có thể ngày mai nên mình bảo bác tài quành về nhà thờ lớn. Kia rồi sự khác lạ. Người đông hơn, đứng đầy trên vỉa hè đường Hàn Thuyên, quảng trường Công xã Paris và vườn cây trước dinh Độc Lập, càng ngày càng đông. Và dù chỉ là tay mơ, mình rất dễ dàng nhận ra nhan nhản công an, an ninh chìm nổi, rồi đủ loại sắc phục dân phòng tự vệ làm xanh mặt nhân dân. Họ chả cần giấu diếm, oai vệ vác dùi cui, cứ vài ba anh lại có một anh tay cầm bộ đàm, lúc líu lo lúc thầm thì ngó trước ngó sau rất chi là bí mật. Thôi tí nữa mình sẽ kể kỹ hơn về mấy “đồng chí” này bởi họ là nhân vật chính của ghi chép hôm nay.

Tới ngã ba Alexandre de Rode- Phạm Ngọc Thạch nhìn sang quán cà phê tầng trệt Diamond còn gọi là cà phê Đá lối trông sang nhà văn hóa thanh niên thấy Mr.Do và bạn bè đứng đó tự bao giờ. Trò chuyện vài câu, gặp thêm bạn đồng nghiệp cũ Phạm Thương. Thương chỉ một anh chàng nhỏ con đẹp trai đeo chiếc máy ảnh bảo ông xã em đây. Mọi người vui vẻ nhưng dường như trong ánh mắt có điều gì lo toan. Mình hiểu. Mọi người theo tiếng gọi của trái tim, tình yêu đất nước mà tụ họp về đây nhưng nó cứ tự phát, tản mát thế nào ấy, không khéo lại chỉ là cuộc vi vu vô nghĩa. Kim phút kim giờ cứ nhích dần. Ai nấy sốt ruột mà chẳng dám nói ra, sợ làm nhụt chí kẻ khác. Mình tranh thủ đi tìm Duy Ngọc bởi hắn có khuôn mặt rất dễ nhận ra, vả lại lần trước mình thích mấy cái ảnh của hắn quá, hầu như các báo mạng kể cả trong ngoài nước đều dùng ảnh của hắn. 8 giờ hơn, đang đếm bước trên lề đường Phạm Ngọc Thạch thì có bước chân chạy rầm rập. Mình nép vào tường, một thanh niên cầm tấm biểu ngữ chỉ kịp đọc thoáng chữ China stop… chạy trước, dăm sáu anh lực lưỡng mặc thường phục đằng đằng sát khí bám sát. Lúc mình quay lại chỗ quán cà phê Đá thì Mr.Do bảo công an vừa bắt một người trong quán, là con trai nhà thơ Đynh Trầm Ca, mình chắc là cái cậu hồi nãy.

Len qua trùng điệp lực lượng chức năng, tôi tới cổng nhà văn hóa thanh niên, nơi một tuần trước ông Ba Đua đã test các vị nhân sị trí thức. Lần này đến giờ vẫn chưa thấy ai, kể cả phe này phe kia. Trông sang trại Tàu, bức tường màu vàng nhơn nhơn thách thức. Chả biết đằng sau những ô cửa sổ khép hờ kia có ai, chúng nó đang làm gì nghĩ gì. Công an đủ sắc phục kín đặc như bức thành lũy thép kiên cố bảo vệ trại Tàu, cần chi mấy chiếc hàng rào sắt. Chỗ này có lẽ là điểm nóng nhất nên anh nào cũng dùi cui hoặc máy bộ đàm. Để ý thấy mấy anh cảnh sát trật tự thì dùi cui, còn anh an ninh thì bộ đàm. Cầm máy đàm oai hơn nên rất ra vẻ ta đây, lộ liễu. Số công khai còn đông đặc như thế thì số chìm biết đường nào mà lần. Tôi có cảm giác hai anh mặc thường phục đứng gần hai bên tôi đều là dạng này, thỉnh thoảng liếc tôi rất khó hiểu rồi một anh biến mất. Linh cảm không sai. 5 phút sau một anh an ninh có vẻ gộc đến thân tình vỗ vai hỏi nhỏ anh ở bộ phận nào, tôi bảo gì cơ, lại hỏi như cũ, bèn đáp rằng tôi ở bộ phận nhân dân. Cái mặt thoắt lạnh tanh, đề nghị anh đi, đây không phải chỗ của anh. Mình bảo tôi chẳng thèm, nhân dân chúng tôi làm gì có chỗ trên cái nước này, anh nhìn xem, toàn người của anh đó thôi. Anh ta đuổi được mình xong liền đưa cái bộ đàm lên mồm lèo nhèo điều gì không rõ rồi ra đuổi tiếp một bác cứng tuổi phía sau.

Kể đến đây, phải trữ tình ngoại đề một chút. Cách nay hơn chục năm thằng cu nhớn nhà mình làm hồ sơ thi vào đại học an ninh. Mình cũng xăng xái giúp nó, hồ sơ đã được duyệt, sức khỏe đạt yêu cầu, chỉ còn chờ thi. Nhưng cứ lăn tăn thế nào ấy. Mình gặp ông anh, bạn đồng môn, khi đó trưởng khoa ngữ văn ĐH KHXH-NV, anh ấy chả ngẫm ngợi gì khuyên ngay rằng nếu em cho nó đi công an sau này có hối cũng không kịp. Thằng con mình biết nghe nhời, làm hồ sơ khác thi vào công nghệ thông tin. Sáng nay nó cũng đi, khi về nó bảo bạn con làm ở công an quận 1 nhắc rằng phải cẩn thận nhưng con cứ đi, sợ gì. Được.

Tôi trở lại chỗ cà phê Đá đứng chờ, lòng cứ không thể hiểu nổi tại sao công an lại có thể hành động rất xăng xái, tích cực, mẫn cán để ngăn chặn những người dân yêu nước biểu tình chống TQ xâm lược. Họ là ai? Họ có thể có lý của họ nhưng gần như có một số người mất hết cả trí khôn, danh dự, liêm sỉ, lòng tự trọng, không còn biết mình là ai trên cõi đời này. Thử hỏi các anh, nhìn những con người đang ôn hòa khuôn mặt trong sáng kia, với cờ tổ quốc quấn quanh mình, biểu ngữ đòi Hoàng Sa-Trường Sa cho Việt Nam trên tay, có sự mờ ám, âm mưu, côn đồ, phản động gì không mà siết người ta đến thế. Không có dân - những con người ấy, mai này nếu bọn Tàu gây chiến các anh có dám kêu họ cùng đi?

Có chút lý do cá nhân, khoảng 8h30 tôi bắt xe ôm về cơ quan. Anh xe ôm ngự trên đường Đồng Khởi chẳng thèm biết tôi là ai, chửi đù mẹ nó cứ thế này thì dân chịu sao nổi. Tôi hỏi anh chửi bọn TQ hay chửi ai, anh bảo chửi tuốt. Tôi nói lát nữa tôi ra xem người ta biểu tình anh có đi với tôi không, anh gằn giọng đi xem thì đừng rủ tôi đi. Trả thêm chút tiền cho bác tài thẳng thắn.

9h, nhận được thông tin qua mạng từ Phạm Thương “đã bắt đầu”. Phải công nhận Thương nhanh nhẹn thật, up lên liên tục. Nhỏ người, trông yếu đuối, vậy mà sức lực đâu giúp Thương bám theo suốt mọi chặng đường, cứ dăm phút lại có tin mới. Hồi Thương mới về cơ quan tôi, cùng lúc hai cô trong đó có Thương, tôi rất quý Thương về sự thẳng thắn, đâu ra đấy, không nịnh bợ. Có lần tôi nói với đạo diễn Lê Phong Lan điều này, chị Lan cũng đồng ý như vậy.

Tôi vội vàng lấy xe quay trở lại. Đoàn người mỗi lúc đông thêm nhưng bị công an khéo léo chia cắt thành từng nhóm. Tuy vậy còn hơn không bởi trước đó đến tận 8h30, được sự trợ giúp của cả một bộ máy khổng lồ, tòa lãnh sự Tàu vững như bàn thạch. Thiếu những người đi đầu như cụ Nguyễn Đình Đầu, ông Lê Hiếu Đằng, Hồ Cương Quyết... nên sức mạnh quần chúng vẫn chỉ là sức mạnh tiềm ẩn. Giờ thì đã có lá cờ đỏ sao vàng do một bạn trẻ phất lên, nhiều người đồng loạt đứng dậy rời ghế quán cà phê, ra khỏi vỉa hè để nhập vào. Ôi các bạn trẻ, lần này hầu hết là học sinh sinh viên, nhiều bạn ăn mặc rất giản dị, thậm chí áo quần cũ kỹ nhưng trông họ thật đáng mến, đáng khâm phục. Họ kéo một tốp khoảng hơn trăm người ra lề đường Lê Duẩn vừa phất cờ, giương cao khẩu hiệu vừa hô “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”…, từng nhóm công an chìm nổi lẽo đẽo theo sau. Người đi đường dừng lại xem như xem một sự lạ, không ai có vẻ muốn gia nhập với họ. Ôi nhân dân. Tôi nhìn các bạn trẻ mà trào nước mắt.

Lòng càng thấy nặng nề buồn hơn khi tôi chạy qua đường Nguyễn Du, quẹo vào Nguyễn Trung Trực, ra Lê Thánh Tôn. Hai bên đường suốt từ sáng sớm đã kín người là người, già có trẻ có. Họ thản nhiên cà phê cà pháo, chơi game bằng điện thoại di động, cãi cọ nhau ồn ào, cứ ngồi đồng thế suốt mấy tiếng đồng hồ, dường như chẳng biết gì đang xảy ra ngoài kia, chỉ cách có vài trăm bước chân. Buồn.

Viết đến đây tôi không muốn viết tiếp nữa.

NGUYỄN THÔNG

8:22 pm, 12.6.2011

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

MỘT NGÀY KHÔNG NHƯ MỌI NGÀY

Đó là ngày 5.6.2011, chắc chắn sẽ đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam dù nhà cầm quyền đương thời không thừa nhận nó, bóp méo nó, thậm chí thù hằn nó. Nhưng có sao đâu, lịch sử trước sau vẫn là lịch sử chứ không thuộc về thế lực nắm quyền. Sau này con cháu ta sẽ tự hào nhắc lại chuyện ông cha, anh chị mình đã sống đẹp như thế nào để làm người, giữ phẩm chất người giữa một xã hội còn quá nhiều bất công, đê hèn, tủi nhục.

Ngày 5.6 dù chưa mang cái khí thế mãnh liệt “trên gió cả cờ đào phất thẳng/dưới đất bằng giấy trắng tung ra” nhưng làm ta nhớ lại những lần người dân Việt yêu nước xuống đường vì nghĩa lớn trong suốt bao năm nô lệ: đám tang cụ Phan Chu Trinh (tháng 3.1926), đám tang trò Trần Văn Ơn (tháng 1.1950), các phong trào sinh viên, học sinh Sài Gòn-Chợ Lớn thời Mỹ xâm lược, những đợt ra quân phong trào 3 sẵn sàng của thanh niên miền Bắc… Dẫu khoác màu áo nào chăng nữa thì tất cả đều mang hồn cốt yêu nước thương nòi, quên lợi ích bản thân để vì nghĩa lớn cao cả. Điều khác biệt duy nhất là nếu những cuộc xuống đường vĩ đại kia đều hướng mũi nhọn vào chế độ đang cai trị trên đầu trên cổ dân thì cuộc tuần hành 5.6 dễ thương nhưng đầy căm giận này lại nhằm giúp chế độ đương thời lật bộ mặt đểu giả của ông bạn vàng ngoại bang Trung cộng. Và nực cười, hay là bi kịch đây, khi chính cái nhà nước mà người dân cố dằn lòng mình để ủng hộ ấy, nó đã phủ nhận những tấm lòng son, thậm chí còn giở trò dao búa với dân.

Những người dân lao động “việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy, tay vốn quen làm”; những sinh viên-học sinh hằng ngày gánh trăm thứ lo miếng ăn chỗ ở chuyện thi chuyện cử; những thanh niên lam lũ quần quật suốt ngày kiếm miếng cơm manh áo… chả ai rỗi hơi làm cái việc “tụ tập, đi ngang qua đại sứ quán, lãnh sự quán TQ” làm gì. Vận nước đã đến lúc chẳng đặng đừng thờ ơ làm kẻ qua đường, thế thôi, chẳng cần việt tân việt tiếc xúi bẩy. Và cũng là để những kẻ đang dương dương tự đắc phải xấu hổ trước lòng yêu nước không vụ lợi của dân, phải thấy nhục khi đọc lại lời tiên tổ Hưng đạo đại vương “nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn; làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm”. Suốt bao năm đánh giặc, đảng hô một tiếng triệu dân đáp lời không hề phân vân tính toán; bao năm hòa bình nhà nước ra rả tuyên truyền “của dân vì dân do dân”, nay dân bày tỏ lòng yêu nước thì lại phũ phàng, chảnh chọe, gằn hắt. Nên nhớ “của - vì - do dân” lý thuyết suông cũng chẳng bằng “dựa vào dân” (phúc chu thủy tín dân do thủy- lật thuyền mới biết sức dân mạnh hơn nước- Nguyễn Trãi) một cách thật cụ thể, các ngài ạ. Chính vì thế, những hành vi giăng rào sắt chặn đường, bày binh bố trận công an nổi công an chìm nhan nhản (có người nhận xét còn nhiều hơn cả người biểu tình), phân công chụp ảnh quay phim để “nhớ cái mặt mày”, cử người này người khác chặn đường, o ép, giải thích, thậm chí sừng sộ đe dọa…, tất cả là gì nhỉ, cách yêu nước có bản quyền chăng. Có bạn trẻ bảo rằng thật nực cười khi một ông tướng hải quân hay một ông phó hiệu trưởng nào đó ôm loa kêu gào, khuyên giải các thanh niên, sinh viên “đừng nghe lời bọn xấu”; có cán bộ phụ nữ thiếu điều nức nở chỉ nhằm xin bà con hãy giải tán, quay về nhà. Chúng ta hãy thông cảm với họ, có thể ai đó trong họ không muốn vậy, cũng tại miếng cơm manh áo cái ghế cuộc sinh tồn cả thôi. Nhưng họ cần phải biết xấu hổ bởi họ không có quyền dạy dỗ người biểu tình lòng yêu nước bởi chính họ chưa đạt đến tầm này. Thực tế cho thấy họ đã phải nhận cay đắng sự ghẻ lạnh, chê cười của người dân. Âu cũng là bài học quý cho những ai khinh thường, rẻ rúng nhân dân.

Tuổi trẻ giờ đây lại khác rồi. Các bạn đã trỗi dậy vượt ngoài vòng cương tỏa của các tổ chức đoàn-hội. Ròng rã 36 năm sau ngày đất nước thống nhất, thanh niên rất ngoan hiền, sai gì làm nấy, bảo gì nghe nấy, như những cụ non suy nhược già héo sức thanh xuân. Trang sử hào hùng của các anh chị Sài Gòn chống Mỹ ngày nào chỉ đôi lúc lóe lên trong những kỳ kỷ niệm. Chính quyền đã quá hiểu sức mạnh của tuổi trẻ qua những cuộc biểu tình năm xưa mà họ vụ lợi nên nay họ không dại gì thả cho tuổi trẻ xuống đường, dù mục đích yêu nước ủng hộ chính họ. Nhưng họ đâu hiểu rằng tuổi trẻ bao giờ cũng là tuổi trẻ, lòng dân yêu nước bao giờ cũng trong sáng mạnh mẽ thẳng căng, không bùng nổ lúc này thì lúc khác, càng âm ỉ lâu sức nóng càng cao, chớ có xem thường, chớ có đùa.

Với tất cả những gì tôi đã chứng kiến tận mắt vào sáng 5.6, cái ngày lịch sử ấy, tôi cho rằng cái bản tin của TTXVN buổi tối cùng ngày đã cố tình bóp méo lịch sử, rẻ rúng nhân dân. Có ai đó phân trần rằng nhà cầm quyền cần phải làm thế, phải khôn khéo thế thì mới… đánh lừa được ông bạn Tàu. Ôi giời, sao cứ cho mình cái quyền khôn hơn thiên hạ thế, xem bọn Tàu cộng thâm hiểm, mưu ma chước quỷ là ngu như lợn, té giếng cả lũ hay sao. Khôn ngoan đâu chả thấy, chỉ rặt giọng điệu phân trần của kẻ dưới với bề trên, vừa hèn hạ, vừa nhố nhăng. Hy vọng rằng đấy chỉ là sự tự ý của cơ quan truyền thông số 1 của nhà nước chứ không phải sản phẩm từ những bộ óc, trí thông minh của các vị lãnh đạo tối cao. Còn nếu ai đó muốn dìm cuộc biểu tình trong im lặng, lãng quên thì họ đã nhầm to. Hơn 700 tờ báo, tạp chí của đảng, nhà nước dù nín khe, sau đó uể oải ca cùng bài đơn điệu thì như thế không có nghĩa cuộc xuống đường ngày 5.6 đã bị chôn vào âm u kín mít. Internet đã giúp nó tỏa sáng, truyền cảm, lôi cuốn… thật nhanh chóng, không gì ngăn chặn được. Yêu nước không chỉ một ngày, ngày 5.6 chỉ là mở đầu rực rỡ của chuỗi rạo rực lòng dân gắn bó với đất nước mình, căm giận quân xâm lược, trong chặng đường mới khai thông.

Một ngày không như mọi ngày khi nhân dân thức tỉnh sau cơn mê dài, khi lòng yêu nước và thái độ trách niệm với chủ quyền đất nước bùng nổ một cách tự nhiên, như con người cần phải hít thở bầu không khí trong lành vậy. Niên biểu chế độ này không ghi nhận thì lịch sử dân tộc vẫn chép sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 2011 bằng những dõng chữ vàng trung thực với thái độ khách quan, trân trọng.


Đêm trước tết diệt sâu bọ Đoan Ngọ

Tối 5.6.2011

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

4 tốt và 16 chữ vàng

Trong cuộc họp báo chiều 31.5, trả lời phỏng vấn báo chí Trung Quốc về phản ứng của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với vấn đề tàu hải giám TQ tấn công tàu thăm dò dầu khí Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du thách thức: “Chủ trương của Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải (tức biển Đông) là rõ ràng và nhất quán. Lần này tàu hải giám của Trung Quốc đã thực thi hành động chấp pháp đối với tàu Việt Nam đang hoạt động phi pháp trên vùng biển của Trung Quốc, hành động này của Trung Quốc là hoàn toàn chính đáng. Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam lập tức dừng mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh hải, không được tạo ra những vụ tranh chấp mới trong vùng biển của Trung Quốc”.

Chả còn băn khoăn gì nữa, chúng nó đã sổ toẹt những gì mà các nhà lãnh đạo của ta đang trân trọng, gìn giữ, nâng niu, coi như thánh chỉ. Hỡi các vị, 4 tốt chứ 40 tốt, 16 chữ chứ 160 chữ liệu có đủ để chống lại sự xâm lăng láo xược của bọn Tàu? Nó đã chà đạp, vứt vào sọt rác, vậy ta có nên khư khư đặt lên bàn thờ. Đừng giải thích với dân chúng rằng đó là sách lược mềm mỏng, sự uyển chuyển, khôn khéo của đảng ta. Người dân bây giờ khôn ngoan hơn rồi, chỉ chưa đến mức họ hét lên rằng hãy dẹp sự ngu trung tệ hại ấy đi.

Nếu lấy ý kiến nhân dân, tôi tin rằng gần như tuyệt đối biểu quyết vứt 4 tốt và 16 chữ vàng vào sọt rác (sọt rác chứ không phải sọt rác lịch sử nhé, đừng làm cho nó trang trọng hơn, dù một tí ti).

Bàn thêm: Chuyện này, hóa ra các cụ từ xửa xưa đã tiên liệu. Này nhé, trong truyện cổ tích Đồng tiền Vạn Lịch có câu: "Đồng tiền Vạn Lịch/Thích 4 (tốt) (16) chữ vàng/Anh tiếc công anh dan díu với nàng bấy lâu", hì hì.

31.5.2011

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

Chiến tranh?


Từ trưa đến giờ, cả nước xôn xao vì chuyện tàu chiến Trung Quốc ngang ngược xâm phạm biển Việt Nam, chặn tàu của Petrovietnam, cắt cáp thăm dò, coi chủ quyền Việt Nam không là cái đinh gì. Cư dân mạng đang sôi sùng sục, nhiều người đòi mở ngay hội nghị Diên Hồng. Lòng yêu nước chân chính đang bốc cao chưa từng thấy.
Tự dưng lại nhớ cái đận cách nay 47 năm, hồi tháng 5.1964. Mỹ muốn đánh Bắc Việt Nam mà chưa có cớ nên cho tàu khu trục Ma-đốc vào vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An quấy nhiễu, khiêu khích. Hải quân Việt Nam chạy ra làm vài phát ngư lôi, Ma-đốc bị thương quay về, hoàn thành nhiệm vụ. Tổng thống L.Johnson xoa tay khởi màn cuộc ném bom miền Bắc. Gần chục năm bom rơi đạn nổ, đau thương không kể xiết.
Cứ tưởng chiến tranh sẽ lùi vào dĩ vãng, nay bóng ma của nó lại sầm sập đến gần. Buồn nhất là suốt bao năm những người cầm quyền cứ lý do lý trấu ra vẻ ta đây khôn ngoan trong sự quan hệ với Trung Quốc mà không thèm đếm xỉa đến thực chất và tham vọng của nước này, không cần biết nỗi lòng người dân. Riêng tôi, tôi vẫn một mực cho rằng trước sau gì Trung Quốc cũng đánh Việt Nam, ít nhất là cũng phải chiếm hết biển Đông bởi chúng không thể nhắm mắt làm ngơ cho Việt Nam khai thác dầu khí- nguồn tài nguyên cực kỳ quan trọng mà nước nào cũng cần. Nó nín nhịn chờ thời lâu rồi, giờ nó giương móng vuốt ra cũng là điều dễ hiểu.
Hàng triệu người dân đang rất bức xúc. Không thể trông chờ vào báo chí quốc doanh. Cần có chỗ cho dân lên tiếng nói. Hiện Facebook đang bị chặn rất quyết liệt, nhất là sau sự kiện xâm lược này. Đề nghị nhà cầm quyền đừng u u mê mê nữa, chỉ đạo bộ phận an ninh mạng mở ngay Facebook cho người dân lên tiếng một cách rộng rãi, từ đó lắng nghe nguyện vọng ý chí của nhân dân.
Vụ này rõ ràng là một kiểu khiêu khích, một "sự kiện vịnh Bắc Bộ mới". Chỉ có điều chúng ta có đủ các lực lượng hải quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, không quân, vậy họ làm gì trong suốt thời gian dài như thế mặc cho bọn cướp biển cướp nước hoành hành, mặc cho chiếc tàu dân sự đơn độc chống chọi?Rất buồn.
Tàu ngầm lớp Kilo hiện đại đâu, sĩ quan sang Nga học đâu, nếu chưa về thì mau mau đưa về, kẻo đến hồi chả còn biển mà giữ nữa.
Bây giờ mà không biết dựa vào sức mạnh toàn dân thì sẽ không bao giờ nữa.
6:40 pm, Friday, 27 May 2011

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Chùa làng nghìn tuổi

Các cụ đi lễ chùa ngày xuân


Ở vùng đồng bằng Bắc bộ, hầu như nơi đâu ta cũng thấy thấp thoáng mái chùa. Mỗi ngôi chùa là một mảnh hồn quê.

Sư cụ trụ trì chùa Trà Phương, hòa thượng Thích Quảng Mẫn đã ngoại 90 mà dáng vẻ nhanh nhẹn lắm. Với trí tuệ minh mẫn, kiến thức uyên thâm, cụ được tôn như pho từ điển sống về đạo Phật, về muôn vẻ cuộc sinh tồn vùng duyên hải Bắc bộ này. Bữa chùa làm lễ giỗ các vị sư tổ truyền đạo (22 tháng giêng hằng năm), cụ bận quá nhiều việc nên khó gặp, vả lại phật pháp hữu duyên, thôi đành chờ dịp khác, nhưng những lần tôi được hầu chuyện cụ xưa kia thì đến giờ còn nhớ.

Sen đá thời Lý nay đã ngoài nghìn tuổi

Nói không ngoa, vùng đồng bằng Bắc bộ hầu như làng nào xã nào cũng có ít nhất một ngôi chùa, thậm chí có xã những mấy chùa, nhang khói quanh năm. Tuy nhiên giữa vùng quê ngan ngát xanh lúa xanh cây như làng Trà Phương (xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, Hải Phòng) thì ngôi chùa làng nghìn tuổi đã trở thành niềm tự hào của bao thế hệ. Theo hòa thượng Thích Quảng Mẫn và các nhà nghiên cứu phật giáo cũng như lịch sử kiến trúc, chùa được xây từ thời nhà Lý, khoảng đầu thế kỷ 11 (1010 - 1020), buổi ban sơ có tên chùa Bà Đanh, tọa trên gò đất cao cây cối um tùm, hoang vắng, chỉ cách núi Chè ở phía đông chưa đầy cây số. Ngược dòng thời gian, lại hình dung ra cái cảnh quấn quít đạo đời như trong câu thơ của cụ Tam nguyên Yên Đổ về chùa Đọi “chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/sư cụ nằm chung với khói mây”. Vết tích cổ nhất của Bà Đanh tự là 3 chân cột bằng đá tảng xanh, mỗi cái nặng ngót nghét vài trăm ký, chạm khắc hoa sen rất tinh xảo thể hiện rõ phong cách nghệ thuật kiến trúc tôn giáo thời Lý. Chỉ tiếc rằng chùa nay đang trong đợt sửa chữa, trùng tu, 3 vật chứng vô giá trải 10 thế kỷ ấy bị để lăn lóc ngoài vườn, nói dại miệng lỡ có kẻ nào hiểu được giá trị của nó mà rinh đi thì thật nguy. Thấy tôi buột miệng tỏ nỗi lo lắng ấy, ông Ngô Trọng Thắng, một người chăm làm công quả cho chùa trấn an rằng của nhà Phật thiêng lắm, chả ai dám động vào đâu. Tuy vậy tôi cứ bán tín bán nghi, chưa dứt băn khoăn bởi hồi những năm 90 bọn trộm từng lẻn vào đây lấy mất mấy pho tượng quý, nào đã tìm ra.

Khu nhà bia-lăng mộ các vị tổ truyền đạo với những cây đại hàng trăm tuổi


Sau cuộc tồn tại dâu bể mấy trăm năm, ngôi chùa làng đã trở mình vào thời nhà Mạc khi Mạc Đăng Dung lên ngôi (1527). Chuyện rằng vị thái tổ nhà Mạc thuở hàn vi nhờ ẩn nấp trong chùa mà thoát chết nên khi công thành danh toại ngài đã cho dựng lại chùa, đổi tên thành Thiên Phúc Tự. Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất dẫn đến sự hưng công này là bà hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn quê gốc làng Trà. Dân gian có câu “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa” (vua Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai, chỉ cách Trà Phương vài dặm) nên việc bà vợ vua không tiếc tiền bỏ ra xây chùa quê mình cũng chả có gì khó hiểu. Những dòng chữ trên tấm bia “Tu tạo Bà Đanh tự” khắc năm 1562 thời Mạc Mậu Hợp còn ghi rõ điều ấy. Theo văn bia, chùa được chuyển về vị trí mới cách nền cũ (nay nơi này là trường THCS Thụy Hương, lâu lâu mấy thầy trò lại đào xới, phát hiện nhiều di vật cổ trong khuôn viên trường) khoảng 200m, với nhiều tòa ngang dãy dọc hoành tráng, trở thành trung tâm phật giáo xứ Đông (vùng Hải Dương, Hải Phòng bây giờ). Sử sách còn ca ngợi tiếng chuông chùa Thiên Phúc vang xa đến cả trăm dặm, quốc sư từng về đây thuyết pháp, giảng kinh, ngày rằm ngày lễ thiện nam tín nữ đông như trảy hội. Khi nhà Mạc đổ, quan quân Lê - Trịnh đã tàn phá nặng nề nhiều công trình kiến trúc mang dấu ấn triều đại trước, trong đó có chùa Trà Phương. Số phận ngôi chùa long đong giữa bao lớp mưa dập sóng vùi, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được bà Ngô Thị Dĩnh người làng có chồng làm giám đốc đài thiên văn Phủ Liễn cúng tiền tu bổ, chùa tái sinh mang dáng vẻ như hiện nay. Năm 2007, Bộ Văn hóa- Thông tin đã cấp bằng chứng nhận chùa Trà Phương là di tích văn hóa kiến trúc cấp quốc gia.


Chính điện ẩn sau vòm lá nhãn cổ thụ

Kiến trúc chùa bố cục theo lối chữ đinh, gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung. Các cột kèo, hoành phi, bệ thờ gỗ đều chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng trải hàng trăm năm vẫn sáng rực, dường thi gan cùng tuế nguyệt. Trên phật điện là hàng chục pho tượng cổ Phật tam thế và các vị La hán. Phía bên phải và bên trái tiền đường, giữa khói hương trầm mặc, hai pho tượng vua Mạc Đăng Dung và hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tạc bằng đá xanh tuy không lớn lắm nhưng được giới nghiên cứu đánh giá như tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp hiếm hoi còn sót lại từ thời Mạc. Dân nơi đây truyền nhau rằng bà thiêng lắm, người có lòng thành cầu khấn bà thường rất linh nghiệm. Thắp hương xong nơi phật điện, bạn đừng quên thăm khu nhà văn bia - lăng mộ các vị sư tổ ngay bên trái lối vào, cổ kính và uy nghi, nơi đây dựng 2 tấm bia nhắc đến quá trình xây dựng, tu tạo, hưng công chùa suốt từ thời Lý đến thời Mạc và sau này, ghi nhận công đức những vị tiền nhân đã đóng góp tu bổ chùa, công ơn của các vị sư tổ truyền đạo. Dưới bóng những cây đại cổ thụ hàng trăm tuổi là đôi sấu đá ngay trước thềm nhà văn bia được bàn tay nghệ nhân tài hoa xưa tạo dáng theo kiểu tượng tròn, tạc bằng đá xanh, đậm nét điêu khắc thế kỷ 16, dù dãi dầu thời gian, mưa nắng nhưng vẫn cực kỳ sắc sảo, sinh động.
Chùa làng hồn nước, ngày nay chùa Trà Phương không chỉ là điểm đến của phật tử tứ xứ mà còn là nơi níu chân khách thập phương tìm viếng cảnh chùa, với niềm tin rằng giữa chốn thiền môn nghìn tuổi tâm hồn sẽ được gột rửa trở nên thanh thản nhẹ nhõm hơn.

Cổng chùa pha lẫn nét cổ kính và hiện đại

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011

Lao vào ngõ cụt

Nhân vụ kỹ sư Lê Văn Tạch tố cáo sai phạm của bọn Toyota VN (mà cứ dính tí VN vào là hỏng, lạ thế) lại nhớ đến người đương thời Đỗ Việt Khoa của trường THPT Vân Tảo, Hà Tây cũ. Ông thượng thư bộ học N.T.Nhân sau phút nông nổi yêu thương đã bỏ rơi không thương tiếc thầy Khoa, nay thầy như kẻ lạc loài. Ông Nhân sau đó lên phó thủ tướng, lờ thầy Khoa luôn, sợ dính vào thầy như sợ hủi. Liệu KS Tạch có chịu chung số phận không, hả bác bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng? Người Nhật giờ họ nói không sa thải anh Tạch bởi họ là người Nhật, nhưng liệu anh Tạch có yên ổn làm ăn. Ông bộ trưởng bộ làm ăn có dám chỉ đạo cấp dưới nhận "kẻ phá đám" về nếu anh Tạch phải ra đi không, hay lại thêm Việt Khoa nữa trong chuỗi anh hùng-nạn nhân.

Đừng để những người thẳng thắn, chống tham nhũng, tiêu cực lao vào ngõ cụt, các bố ạ.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2011

Chút lan man trên đất thiêng triều Mạc

Trong chính sử nhiều thời từ sau Lê trung hưng, kể cả vô tình lẫn cố ý người ta đã xổ toẹt triều Mạc, nếu có nhắc thì cũng gán ngay cho nó cái tên “ngụy triều” chẳng hay ho gì. Học trò bao thế hệ cứ ra rả “nước ta trải Đinh - Lê - Lý - Trần - Lê - Nguyễn” chứ mấy ai biết rằng nhà Mạc (và cả nhà Hồ, nhà Tây Sơn nữa) là phần không thể thiếu của lịch sử nước Nam.



1. Nghe đứa cháu rủ rê, lại còn miêu tả tỉ mỉ những tòa ngang dãy dọc của khu tưởng niệm các vua nhà Mạc mới khánh thành nên tôi cũng tò mò háo hức lắm. Thực ra nơi ấy với tôi cũng chả xa lạ gì, từ làng tôi đến làng Cổ Trai theo đường chim bay chỉ vài cây số, ngoằn ngoèo huyện lộ hơn 15 phút chạy xe là cùng. Hồi nhỏ đám đánh dậm làng tôi cả mấy chục đứa kéo quân xuống tận Cổ Trai kiếm tôm cá, quần thảo nhẵn cả vùng hạ lưu sông Đa Độ. Rồi lại nhớ cái đận giữa năm 1967 đang mùa gặt, biên đội Mig 17 của ta mật phục ở sân bay Kiến An đón lõng bọn giặc F107 Mỹ ngay trên bầu trời quê tôi, thịt gọn của chúng 2 chiếc, một rơi ngoài biển một cắm đầu xuống làng Cổ Trai, thằng giặc lái nhảy dù bị nông dân dùng liềm, đòn càn bắt sống, thằng kia chết cháy được địa phương chôn cất tử tế. Tôi từng ghé xem nấm mộ gã Mỹ chôn rìa làng, sau đó còn lặn lội ra giữa đồng lúa nước ngập đến đầu gối hì hục cả buổi trưa đục được một mớ đuya-ra xác tàu bay thần sấm về chia cho bọn trẻ con làm lược. Khi ấy từng nghe loáng thoáng ai đó bảo cuộc đất này thiêng lắm có đức ngài phù hộ, bằng cớ là bọn tàu bay rớt ngay cung điện ngài đấy thôi, sau này mình mới hiểu, à ra họ nói về đức Thái tổ Mạc, về vùng đất phát tích một vương triều.
Sử liệu như đã nói ở trên luôn tỏ ra ghét bỏ triều Mạc nhưng bóc tách từ những dòng hiếm hoi xô lệch thì thấy ghi rằng Thái tổ Mạc Đăng Dung xuất thân dân chài, khỏe mạnh giỏi võ, ứng thí tại trường Giảng Võ ở Thăng Long đỗ Đô lực sĩ, làm quan đến chức Đô chỉ huy sứ, được phong tước Hầu. Năm 1527 nhân triều đình thối nát, xã hội loạn lạc, ông phế truất nhà Lê lập ra triều Mạc, chỉ ngồi ngôi vua có 3 năm rồi nhường cho con, lui về làm Thái thượng hoàng. Nhà Mạc tồn tại qua 5 đời với 65 năm, ví như nhát cắt lịch sử vậy, dù dày dù mỏng nhưng đời sau chẳng nên chối bỏ, huống hồ cha con ông cháu Mạc Đăng Dung đã để lại không ít dấu ấn tích cực trong một chặng đường, một thời đại đầy biến động của dân tộc. Để tìm hiểu thêm, tôi ghé nhà từ đường họ Mạc ngay thôn Cổ Trai, thật không may các cụ bô lão đi vắng cả nhưng qua chuyện trò với những hậu duệ chả biết đời thứ mấy chục của Mạc tổ thì biết thêm con cháu tộc Mạc hiện giờ đông lắm, đa dạng lắm. Theo các cụ truyền lại, để tránh quan quân chúa Trịnh truy sát gắt gao, ngoài nhóm hoàng thân quốc thích Mạc Kính Cung rút lên Cao Bằng theo sự mách bảo của cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm, người họ Mạc tứ tán khắp nơi, thay tên đổi họ, mai danh ẩn tích. Nay trên cả nước có khoảng 50 dòng họ khác nhau vốn gốc họ Mạc sau đận chạy trốn ấy, liệt kê ra thấy đủ cả các họ Phan, Thái, Hoàng, Phạm, Bùi, Vũ, Ma, Nguyễn… rải khắp Thanh Hóa, Nam Định, Nghệ An, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Nam, Sài Gòn, Cao Bằng… Nhớ hồi học đại học, bọn trai chúng tôi rất ngưỡng mộ, còn đám con gái thì mê tít một anh vào trước chúng tôi 3 khóa, học giỏi đẹp giai, thời sinh viên đã có thơ có truyện đăng báo văn nghệ trung ương, ngay cái tên Thái Kế Toại của anh nghe cũng là lạ, ấn tượng. Anh ra trường về lại ngành công an lon đến đại tá, và mãi sau tôi mới biết thì ra họ Thái của anh cũng là hậu duệ nhà Mạc. Nhiều người họ Phạm, họ Hoàng, họ Phan khá nổi tiếng mà tôi gặp sau này trò chuyện chán cũng mới tường tận họ gốc Mạc tộc.




2. Nói đến nhà Mạc không thể không nhắc tới Dương Kinh. Gần 500 năm trước, Dương Kinh xuất hiện với tầm vóc dù không đồ sộ bằng Thăng Long nhưng cũng đủ để thiên hạ ngóng về. Các sử gia của Đại Việt sử ký toàn thư hoặc Đại Việt thông sử dẫu chẳng ưa “ngụy Mạc” vẫn có những dòng nhắc đến kinh đô thứ hai triều đại này bằng sự ngưỡng mộ, nuối tiếc. Lâu đài cung điện thành quách một vương triều đã từng nguy nga phủ bóng lên vùng cửa biển phên dậu phía đông. Vật đổi sao dời, hưng phế là điều khó tránh, tuy nhiên các thế lực phong kiến nước ta thường dẫm vào vết xe tai hại, triều sau cứ phá sạch sanh nhưng gì do triều trước dựng lên, thật đáng tiếc. Nhiều cuốn cổ sử ghi rõ chuyện tướng nhà Lê là Thái úy Trịnh Tùng sau khi phá được thành Thăng Long đã sai quân lính đốt phá lầu son gác tía, san phẳng hào lũy, năm 1592 kéo tiếp về Dương Kinh tàn phá sạch sành sanh, thiêu hủy cung điện, chặt đốn cây cối, đào bới lăng tẩm, biến cả vùng đất thang mộc của nhà Mạc ra bình địa. Qua dấu vết tìm được ở Cổ Trai và phụ cận, những nền móng nhà cửa, đường sá khuất lấp trong đất, các nhà khoa học hầu hết chung nhận định về tầm vóc đồ sộ của Dương Kinh một thời. Giờ Hải Phòng cũng có quận đặt tên Dương Kinh, hình như để hồi tưởng về cái thuở vàng son ấy.
Được khánh thành hồi cuối tháng 9.2010, khu di tích giờ đã vỡ vạc vóc dáng tạo điểm nhấn du lịch tâm linh cho vùng châu thổ ven biển vốn chỉ quen nghề trồng trọt, chài lưới. Trên khu đất hơn 10 ha mà các nhà khảo cổ, nhà sử học kỳ công nghiên cứu, xác định là nền điện Tường Quang nơi đức Thái tổ Mạc Đăng Dung và mấy thế hệ vua kế tiếp từng ngự ngày xưa, tòa chính điện và các công trình phụ trợ tả vu, hữu vu, nhà bia… hắt dáng lên trời xanh giữa bao la đồng lúa, xa xa là dòng sông Đa Độ uốn khúc, vòng ra chút nữa là cửa sông Văn Úc. Kể cũng khâm phục cho sự cố gắng, đồng tâm nhiệt thành của con cháu tộc Mạc đang rải rác cả nước, tất nhiên không thể không ghi nhận công tích của chính quyến các cấp, khi một quần thể khu tưởng niệm hoành tráng công phu hình thành chỉ trong chưa tới 1 năm. Đứa cháu tôi cứ luôn miệng xuýt xoa, trầm trồ. Nhìn rảo một vòng, từ cổng chính vào tuốt bên trong cơ man những phiến đá xanh được chạm khắc tinh xảo, từ bờ tường vây quanh, chân cột, bậc tam cấp đến những con rồng uốn khúc mạnh mẽ mà uyển chuyển trước chính điện. Cô hướng dẫn viên Phạm Thị Hương hình như cũng là hậu duệ Mạc tộc tự hào khoe rằng tất cả nhà cửa sân sướng nơi đây đều tái hiện kiến trúc và mỹ thuật thời Lê - Mạc, theo quy cách truyền thống mà nay vẫn còn lưu lại ở nhiều di tích có từ thế kỷ 16 trên đất Hải Phòng cũng như nhiều nơi khác. Đá xanh thì chuyển tuốt tận Thanh Hóa ra, còn gỗ tất tật gỗ lim nhập từ Nam Phi, thợ mộc cũng phải tuyển những người giỏi nhất vùng làng nghề mộc nổi tiếng trong mạn Vĩnh Bảo. Cái sự công phu đó quả thật có thể chứng minh ngay trước mắt tôi. Chính điện rộng gần 400m2, 4 mái 7 gian 6 hàng cột, đầu đao dáng rồng vươn cao vút. Nội tòa chính điện sáng bừng bởi những chạm khắc sơn son thiếp vàng, cảm giác uy nghiêm mà huyền bí. Tượng đức Thái tổ nhà Mạc ngự chính giữa, quây quần bên là các con cháu gồm những đời vua kế tiếp, đều được giát bằng vàng thật, nét tạc sinh động lạ thường. Tôi lại mường tượng cảnh hồi xửa hồi xưa các ngài cùng tụ về Dương Kinh cha con vua tôi sôi nổi luận bàn chính sự trị quốc an dân. Chỉ có điều làm tôi sinh chút lăn tăn là sao không thấy thờ bà Thái hậu trong cõi tâm linh này. Cũng có đôi chút riêng tư bởi làng Trà Phương quê tôi, thuộc xã Thụy Hương, tổng Nghi Dương cũ (huyện Kiến Thụy ngày nay) chính là quê bà Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ vua Mạc Đăng Dung. Người dân nơi đây bao đời nay vẫn truyền tụng câu “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa”, và chẳng biết có phải được bà ban ân huệ không mà con gái làng tôi đẹp hơn những vùng khác. Trà Phương từng là nơi đóng phủ lỵ Kiến Thụy, nhà cửa san sát sầm uất lắm, cây cối xanh um, trên bến dưới thuyền phong cảnh tuyệt đẹp. Bức tường thành đất đồ sộ giờ gần như bị san phẳng, nếu để ý lắm mới thấy dấu tích một quá khứ vàng son, nhưng những dấu ấn khác về thời Mạc chưa hẳn bị mai một hết. Sử cũ còn lưu rằng bà Thái hậu Ngọc Toàn từng cho xây dựng khá nhiều công trình đình chùa miếu mạo ở quê mình và các vùng gần đó, giống như dạng đô thị vệ tinh cho vương phủ Mạc triều ở Cổ Trai. Hồi tôi còn nhỏ đầu những năm 60 thì đình làng Trà Phương bị trưng dụng làm trường học, tuy vậy kiến trúc vẫn giữ y nguyên. Tôi đồ rằng nếu người ta không thiển cận phá nó đi để lấy gỗ đá… xây trại chăn nuôi, làm nhà hợp tác thì có lẽ cả xứ Hải Phòng lẫn vùng đồng bằng duyên hải này nay chả có cái đình nào qua mặt nó cả về quy mô, tầm vóc. Đình rộng mênh mông, mái cao cong vút được đỡ bởi mấy chục chiếc cột gỗ lim lên nước nâu bóng, chiếc nào chiếc nấy cả vòng tay người lớn ôm cũng chỉ hết hơn nửa. Kè quanh tường là hành lang đá xanh, mỗi tảng ngang dọc cỡ 0,8 x 1,5m, nhẵn như gương, mùa hè ngả lưng mát rười rượi. Hậu cung đình là dãy nhà ngang, nơi thờ bà Thái hậu Ngọc Toàn, sau khi đình bị phá tượng bà được đưa về thờ tại chùa Trà. Hồi năm 1955 Hải Phòng là điểm tập kết 300 ngày của quân đội Pháp trước khi rút hoàn toàn khỏi VN, đình kề sát nơi chúng đóng quân, lạ là chúng chẳng hề phá phách gì, thậm chí còn khoan thêm cái giếng máy, bơm nước cho cả xóm dùng. Sinh thời thày tôi cứ phàn nàn rằng bọn Tây thực dân nó chả phá, vào tay HTX chẳng mấy chốc lại tan hoang. Hiện giờ chùa Trà Phương (còn có tên Thiên Phúc tự) tuổi ngót nghét nghìn năm, khi Thái tổ Mạc lên ngôi thì được bà Thái hậu bỏ tiền công đức trùng tu, nay chùa vẫn thờ bà và đức vua. Ngoài tượng cổ gỗ quý, chùa còn hiện vật vô giá là 2 bức tượng đá cả nhà vua và hoàng hậu đầu triều Mạc được tạc hồi giữa thế kỷ 16, ngự trên ngai thờ trong khói hương thường nhật.
Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu như ai đến khu di tích ngoài niềm thành kính cũng hé ra chút tò mò tìm hỏi xem thanh đại long đao của đức tiên tổ. Tôi cũng từng nghe những huyền thoại về bảo đao nên tò mò chả kém. Cô Hương bèn dẫn tôi ra phía sau ngai thờ Thái tổ Mạc Đăng Dung, trong tủ kính kia là thanh đao quý, dù đã bị nám đen, rỉ sét sứt mẻ nhiều chỗ nhưng vẫn toát lên vẻ uy dũng vốn có của thứ binh khí trong tay bậc đại hùng. Tôi đọc vội mấy con số: dài 2,42m, nặng 25,6kg và hình dung ra rằng chủ nhân nó ít nhất cũng phải đường đường một đấng anh hào. Người làm sao đao làm vậy. Ngước ra đằng trước trộm ngắm diện mạo phương phi nhà vua, tôi chắc đao này từng cùng ngài xông pha chiến trận lập bao công trạng, mà công tích lớn nhất đời ngài là mở ra một triều đại mới khi đế chế cũ đã suy tàn, xã hội đang cực kỳ hỗn loạn. Lưu lạc suốt mấy thế kỷ, chìm lấp sâu trong đất bùn cỏ dại, nay đao quý về lại với chủ nhân, dường như duyên trời định, hầu góp thêm chút hào quang cho một triều đại đã chịu quá nhiều thiệt thòi, đánh giá bất công, nay được minh định lại. Có lẽ tôi cần phải cám ơn lần nữa cái cô hướng dẫn xinh đẹp tên Hương kia lúc tôi đang săm soi ngắm nghía quả chuông đồ sộ trên giá ngay bên trái chính điện. Đã đành từng nghe giới thiệu quả đại hồng chung này được ban quản lý khu di tích vào tận xứ Huế nổi tiếng về đúc đồng mời cho được nghệ nhân tài hoa Nguyễn Văn Sính ra trực tiếp chế tác tại chỗ, rồi chỉ riêng tiền chi cho chuông đã hơn 400 triệu đồng… nhưng chi tiết sau đây mới quả thật thú vị. Hương bảo lúc đầu các cụ trong Hội đồng Mạc tộc yêu cầu ông Sinh đúc sao cho chuông nặng đúng 1 tấn rưỡi, vậy mà gọt giũa trau chuốt xong, nghệ nhân siêu hạng đành xin lỗi các cụ vì thành phẩm nặng những 1.527 ký, muốn nhẹ hơn cũng chả còn chỗ nào mà tỉa bỏ bớt được nữa. Sự thể đã rồi biết làm sao, nhưng chợt ai đó phát hiện ra số cân nặng của hồng chung lại trùng với chính năm lên ngôi 1527 của đức ngài, năm mở ra triều Mạc. Thoáng chút phân vân: có phải là sự tình cờ không nhỉ?
Cuối giêng 2011
N.T