Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chùa Trà Phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chùa Trà Phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

Chân tu

Tôi mặc dù vô thần (thế hệ tôi bị đào tạo thành người vô thần) không theo tôn giáo nào nhưng tôi rất tôn trọng các tôn giáo và những người có đạo. 

Cụ thể, tôi muốn nói về đạo Phật. Thày bu tôi đều tin ở nhà chùa, tu dưỡng hành xử theo tinh thần Phật giáo. Làng tôi có chùa Trà Phương (tên chữ là Thiên Phúc tự), thày tôi vẫn thường đàm đạo với Thượng tọa Thích Quảng Mẫn (sau này cụ đạt bực Hòa thượng, nổi tiếng là nhà sư uyên bác, tấm lòng quảng đại) hoặc đại đức Thích Thanh Vân (sau này cũng lên Hòa thượng), hai vị trụ trì của chùa. Mà chẳng phải chỉ người lớn kính trọng hai bậc chân tu ấy, đám trẻ con trong làng cũng rất nể trọng hai nhà sư chùa làng. Mặc dù nhà chùa nhận sự cúng dường, thành tâm đóng góp của đông đảo khách thập phương, phật tử khắp vùng duyên hải Bắc Bộ, vật chất chả thiếu thốn gì, nhưng suốt bao năm tôi chỉ thấy hai cụ đồ đệ của Phật Thích Ca ăn mặc rất giản dị, quần áo nâu sồng, ngay cả những khi lễ Phật đản hoặc lễ tết, cúng rằm, hai cụ cũng vẫn nâu sồng, chỉ nghiêm cẩn, gọn gàng hơn thôi. 

Các cụ vẫn tự xắn quần cày ruộng, nhà chùa có ruộng riêng, nuôi hẳn con trâu mộng chuyên để cày bừa ruộng chùa. Cụ Mẫn thường dạy "nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực" (một ngày mà không làm, thì một ngày không có ăn). Tôi từng chơi và học với hai chú tiểu là Minh tồ và Phúc, có lúc vào chùa trúng lúc các nhà sư trai giới, thấy bữa ăn cũng rất đạm bạc.

Trong ký ức tôi, đó là những bậc chân tu, đắc đạo (nhất là cụ Mẫn), nắm bắt được tinh thần của đạo Phật, hóa giải được những buồn vui sướng khổ ở đời.

Mấy hôm nay, nhìn cảnh lễ hội chùa này chùa nọ, thấy những nhà sư xúng xính quần này áo kia, diện ngất trời, ai cũng có cái béo tốt hồng hào của người ham ẩm thực, làm lễ cũng điệu đàng phô dáng, cái trống cái chuông cũng tô vẽ xanh đỏ tím vàng, tôi lại sực nhớ, nghĩ về những vị sư của chùa làng. Đành rằng thời thế làm thay đổi mọi thứ, cả đạo Phật cũng không thoát khỏi bị biến dạng này nọ, nhưng tôi cứ tiếc những tinh túy của đạo Phật ngày xưa.

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Chuông quý chùa Trà Phương có còn?

NGUYỄN CÔNG KHA
Các lão làng kể chuông chùa Trà Phương (xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, Hải Phòng) cực quý đúc từ thời nhà Mạc. Sử cũ ghi rằng tiếng chuông vang xa cả chục dặm. Chả biết có đúng thế không nhưng nhà tôi cách chùa theo đường chim bay khoảng 300 m về phía đông nam, cứ khoảng vào giờ Dậu là tiếng chuông chùa ngân vang, vừa trong vắt vừa ấm áp đã thành kỷ niệm khó quên. Có những hôm theo bố mẹ đi làm trên đồng Hương cách chùa hơn 1 cây số vẫn nghe tiếng chuông chiều ngân nga, càng xa tiếng ngân càng vọng càng hay, khó diễn đạt thành lời.

Năm 1969 tôi học lớp 4/10 cùng với chú tiểu chùa Trà, nên hay trốn việc nhà ra học nhóm cùng tiểu. Nhiều hôm vào giờ Dậu tiểu rủ lên chùa chính thỉnh chuông, giúp tiểu châm hương. Tôi vẫn nhớ khi đó phải vươn người mới đánh vào núm chuông, tiếng chuông ngân nga khó tả.

Đầu thế kỷ 21 có dư luận rằng chuông hiện treo ở chùa Trà không phải chuông quý cũ mà là chuông khác, bởi tiếng không vang, không vọng, không ngân nga, chỉ cách vài trăm mét đã không nghe được gì. Hình như người ta đã đổi chuông, mà đổi lúc nào chưa ai rõ.

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

Hãy khẩn cấp cứu chùa cổ Trà Phương di tích quốc gia trước khi bị xóa sổ

Tôi viết bài này đã gần 3 tuần, báo TN đăng số hôm nay 22.9, nhưng vì diện tích chật hẹp nên bỏ bớt nhiều. Vì vậy nhà cháu xin đăng toàn văn để mọi người lưu ý, cùng góp tiếng nói bảo vệ ngôi chùa cổ.


1. Đó là chùa Trà Phương, tên chữ là Thiên Phúc tự, tại thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, TP.Hải Phòng.

Theo sử sách ghi chép, chùa được xây dựng từ thời nhà Lý, do dựng trên một gò đất vắng vẻ, cây cối rậm rạp, cách xa chốn quần cư nên ban sơ có tên chùa Bà Đanh. Điều này được chứng minh rất rõ qua những di vật còn sót lại, trong đó có 3 chân cột bằng đá xanh tảng vuông vức, mỗi cạnh khoảng 60 cm, điêu khắc hoa sen mang phong cách đặc trưng của kiến trúc-điêu khắc thời Lý, và một vế đối chữ Hán còn lưu trong chùa “Lý triều khai sáng danh lam cựu” (Triều Lý đã khai mở danh lam này). Năm 2010 tôi về viếng chùa Trà Phương vẫn nhìn thấy những tảng đá khắc hoa sen cực kỳ quý giá ấy nhưng bị nhà chùa vứt bỏ lăn lóc ngoài vườn, chỉ lo nhỡ có thằng trộm nào đánh xe bò đến khênh đi thì mất toi báu vật.


Năm 1527 xã hội loạn lạc, triều đình suy vong, Mạc Đăng Dung phế truất nhà Lê lập ra nhà Mạc. Sau khi lên ngôi, vua ban chiếu cho phép trùng tu lại chùa Bà Đanh, nơi từng cứu mạng ngài trong một lần bị truy sát thuở hàn vi. Và một lẽ khác nữa bởi Trà Phương là quê hương của bà Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ vua Mạc Đăng Dung. Dân gian lưu truyền “Cổ Trai đế vương, Trà Hương công chúa” (thời nhà Nguyễn do phạm húy nên Hương bị đổi thành Phương), làng Cổ Trai quê Mạc Đăng Dung cách làng Trà khoảng 3 cây số đường chim bay. Kể từ đó chùa có tên mới do vua ban thành Thiên Phúc tự, không chỉ trùng tu mà còn mở rộng, xây thêm nhiều hợp phần mới. Trên tấm bia đá “Tu tạo Bà Đanh tự” được khắc vào đời Mạc Mậu Hợp, Thuần Phúc sơ niên 1562 ghi rõ đây là đợt trùng tu rất quy mô, khiến chùa Trà Phương thành trung tâm Phật giáo lớn vùng duyên hải, góp phần quan trọng việc chấn hưng và phát triển đạo Phật mấy tỉnh xứ Đông. Sau khi nhà Lê trung hưng, đánh đổ nhà Mạc, tướng Trịnh Tùng nhà Lê đã sai quân lính phá hủy tàn khốc những công trình kiến trúc ghi dấu ấn triều cũ trên đất Dương Kinh, chùa Trà Phương cũng không tránh khỏi nạn binh đao trả thù. Suốt gần 4 thế kỷ nữa, Thiên Phúc tự ngày càng đổ nát, mãi đến năm 1936  thời Nguyễn chùa mới được tu bổ xây dựng lại, với những công trình chính gồm tòa điện phật-tam bảo 5 gian 2 chái kèm hậu cung, nhà tổ, nhà khách, nhà bia, cổng chùa… trên khuôn viên rộng hơn 6 ha. Hiện nhà chùa còn lưu giữ nhiều văn vật vô giá, đặc sắc về điêu khắc, kiến trúc, như 2 bức tượng đá Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, đôi sấu đá, các tấm bi ký đều tạc từ thế kỷ 16, chân đá tảng hoa sen từ thời nhà Lý, các kiến trúc đậm dấu ấn phong cách thời Mạc, Nguyễn. Năm 2007, chùa Trà Phương được Bộ Văn hóa-thông tin trao bằng xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Chùa Trà Phương ngày nay vừa là một di tích lịch sử-văn hóa, vừa đóng vai trò một bảo tàng nghệ thuật thời Mạc ít nơi nào có được.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Chùa làng nghìn tuổi

Các cụ đi lễ chùa ngày xuân


Ở vùng đồng bằng Bắc bộ, hầu như nơi đâu ta cũng thấy thấp thoáng mái chùa. Mỗi ngôi chùa là một mảnh hồn quê.

Sư cụ trụ trì chùa Trà Phương, hòa thượng Thích Quảng Mẫn đã ngoại 90 mà dáng vẻ nhanh nhẹn lắm. Với trí tuệ minh mẫn, kiến thức uyên thâm, cụ được tôn như pho từ điển sống về đạo Phật, về muôn vẻ cuộc sinh tồn vùng duyên hải Bắc bộ này. Bữa chùa làm lễ giỗ các vị sư tổ truyền đạo (22 tháng giêng hằng năm), cụ bận quá nhiều việc nên khó gặp, vả lại phật pháp hữu duyên, thôi đành chờ dịp khác, nhưng những lần tôi được hầu chuyện cụ xưa kia thì đến giờ còn nhớ.

Sen đá thời Lý nay đã ngoài nghìn tuổi

Nói không ngoa, vùng đồng bằng Bắc bộ hầu như làng nào xã nào cũng có ít nhất một ngôi chùa, thậm chí có xã những mấy chùa, nhang khói quanh năm. Tuy nhiên giữa vùng quê ngan ngát xanh lúa xanh cây như làng Trà Phương (xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, Hải Phòng) thì ngôi chùa làng nghìn tuổi đã trở thành niềm tự hào của bao thế hệ. Theo hòa thượng Thích Quảng Mẫn và các nhà nghiên cứu phật giáo cũng như lịch sử kiến trúc, chùa được xây từ thời nhà Lý, khoảng đầu thế kỷ 11 (1010 - 1020), buổi ban sơ có tên chùa Bà Đanh, tọa trên gò đất cao cây cối um tùm, hoang vắng, chỉ cách núi Chè ở phía đông chưa đầy cây số. Ngược dòng thời gian, lại hình dung ra cái cảnh quấn quít đạo đời như trong câu thơ của cụ Tam nguyên Yên Đổ về chùa Đọi “chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/sư cụ nằm chung với khói mây”. Vết tích cổ nhất của Bà Đanh tự là 3 chân cột bằng đá tảng xanh, mỗi cái nặng ngót nghét vài trăm ký, chạm khắc hoa sen rất tinh xảo thể hiện rõ phong cách nghệ thuật kiến trúc tôn giáo thời Lý. Chỉ tiếc rằng chùa nay đang trong đợt sửa chữa, trùng tu, 3 vật chứng vô giá trải 10 thế kỷ ấy bị để lăn lóc ngoài vườn, nói dại miệng lỡ có kẻ nào hiểu được giá trị của nó mà rinh đi thì thật nguy. Thấy tôi buột miệng tỏ nỗi lo lắng ấy, ông Ngô Trọng Thắng, một người chăm làm công quả cho chùa trấn an rằng của nhà Phật thiêng lắm, chả ai dám động vào đâu. Tuy vậy tôi cứ bán tín bán nghi, chưa dứt băn khoăn bởi hồi những năm 90 bọn trộm từng lẻn vào đây lấy mất mấy pho tượng quý, nào đã tìm ra.

Khu nhà bia-lăng mộ các vị tổ truyền đạo với những cây đại hàng trăm tuổi


Sau cuộc tồn tại dâu bể mấy trăm năm, ngôi chùa làng đã trở mình vào thời nhà Mạc khi Mạc Đăng Dung lên ngôi (1527). Chuyện rằng vị thái tổ nhà Mạc thuở hàn vi nhờ ẩn nấp trong chùa mà thoát chết nên khi công thành danh toại ngài đã cho dựng lại chùa, đổi tên thành Thiên Phúc Tự. Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất dẫn đến sự hưng công này là bà hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn quê gốc làng Trà. Dân gian có câu “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa” (vua Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai, chỉ cách Trà Phương vài dặm) nên việc bà vợ vua không tiếc tiền bỏ ra xây chùa quê mình cũng chả có gì khó hiểu. Những dòng chữ trên tấm bia “Tu tạo Bà Đanh tự” khắc năm 1562 thời Mạc Mậu Hợp còn ghi rõ điều ấy. Theo văn bia, chùa được chuyển về vị trí mới cách nền cũ (nay nơi này là trường THCS Thụy Hương, lâu lâu mấy thầy trò lại đào xới, phát hiện nhiều di vật cổ trong khuôn viên trường) khoảng 200m, với nhiều tòa ngang dãy dọc hoành tráng, trở thành trung tâm phật giáo xứ Đông (vùng Hải Dương, Hải Phòng bây giờ). Sử sách còn ca ngợi tiếng chuông chùa Thiên Phúc vang xa đến cả trăm dặm, quốc sư từng về đây thuyết pháp, giảng kinh, ngày rằm ngày lễ thiện nam tín nữ đông như trảy hội. Khi nhà Mạc đổ, quan quân Lê - Trịnh đã tàn phá nặng nề nhiều công trình kiến trúc mang dấu ấn triều đại trước, trong đó có chùa Trà Phương. Số phận ngôi chùa long đong giữa bao lớp mưa dập sóng vùi, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được bà Ngô Thị Dĩnh người làng có chồng làm giám đốc đài thiên văn Phủ Liễn cúng tiền tu bổ, chùa tái sinh mang dáng vẻ như hiện nay. Năm 2007, Bộ Văn hóa- Thông tin đã cấp bằng chứng nhận chùa Trà Phương là di tích văn hóa kiến trúc cấp quốc gia.


Chính điện ẩn sau vòm lá nhãn cổ thụ

Kiến trúc chùa bố cục theo lối chữ đinh, gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung. Các cột kèo, hoành phi, bệ thờ gỗ đều chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng trải hàng trăm năm vẫn sáng rực, dường thi gan cùng tuế nguyệt. Trên phật điện là hàng chục pho tượng cổ Phật tam thế và các vị La hán. Phía bên phải và bên trái tiền đường, giữa khói hương trầm mặc, hai pho tượng vua Mạc Đăng Dung và hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tạc bằng đá xanh tuy không lớn lắm nhưng được giới nghiên cứu đánh giá như tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp hiếm hoi còn sót lại từ thời Mạc. Dân nơi đây truyền nhau rằng bà thiêng lắm, người có lòng thành cầu khấn bà thường rất linh nghiệm. Thắp hương xong nơi phật điện, bạn đừng quên thăm khu nhà văn bia - lăng mộ các vị sư tổ ngay bên trái lối vào, cổ kính và uy nghi, nơi đây dựng 2 tấm bia nhắc đến quá trình xây dựng, tu tạo, hưng công chùa suốt từ thời Lý đến thời Mạc và sau này, ghi nhận công đức những vị tiền nhân đã đóng góp tu bổ chùa, công ơn của các vị sư tổ truyền đạo. Dưới bóng những cây đại cổ thụ hàng trăm tuổi là đôi sấu đá ngay trước thềm nhà văn bia được bàn tay nghệ nhân tài hoa xưa tạo dáng theo kiểu tượng tròn, tạc bằng đá xanh, đậm nét điêu khắc thế kỷ 16, dù dãi dầu thời gian, mưa nắng nhưng vẫn cực kỳ sắc sảo, sinh động.
Chùa làng hồn nước, ngày nay chùa Trà Phương không chỉ là điểm đến của phật tử tứ xứ mà còn là nơi níu chân khách thập phương tìm viếng cảnh chùa, với niềm tin rằng giữa chốn thiền môn nghìn tuổi tâm hồn sẽ được gột rửa trở nên thanh thản nhẹ nhõm hơn.

Cổng chùa pha lẫn nét cổ kính và hiện đại