Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn khóa 17. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khóa 17. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

Lên đồng gặp bạn

BÁ TÂN

Mụ Sánh đã có loạt bài nói về “ thân thế, sự nghiệp “ K 17 khoa Ngữ Văn, đại học tổng hợp Hà Nội. Một số sao trong lớp được mụ “ tỉa “ khá ấn tượng. Số đông trong lớp cho đến nay vẫn cứ nhởn nhơ trên dương gian, miệng luôn kêu khổ nhưng không chịu chết. Trong lớp chúng tôi có một số người đã về bên kia thế giới, đó là nơi cần đến, không thể không đến. Sẽ là thiếu công bằng nếu hồi tưởng K 17 mà không nói đến những người bạn quá cố. Tôi viết bài này là để trả lại sự công bằng ấy.

Tranh thủ dịp Nô-en 2011, tôi lên đồng tìm gặp các bạn đã về cõi tiên. Không phải cứ muốn lên đồng là lên. Chỉ có những người sống sạch, ăn sạch, làm sạch, nói sạch thì mới hội đủ tiêu chuẩn lên đồng. Tôi có thừa tiêu chuẩn ấy cho nên, những lúc cần, lên đồng hơi bị dễ. Không làm nghề, thỉnh thoảng vẫn chơi cho hay nhưng đây là lần đầu tôi lên dồng tìm gặp bạn bè.

Lần này tôi lên đồng với chủ đích : gặp các bạn trong lớp đã mất, đến đó tìm hiểu thực tế để rồi khi về dương gian kể lại cho mọi người cùng nghe. Chuyến lên đồng lần này phải nói là khá thành công, đạt được ước nguyện mĩ mãn.

Tính đến 2011, danh sách quá cố của lớp chúng tôi vừa trọn con số 9. Bạn bè tôi ăn ở hiền lành mới có được con số đẹp và thiêng. Con số 10 sẽ rơi vào ai. Nhiều người đã xung phong.Vinh dự ấy thuộc về ai thì còn phải xem xét.Chết đâu phải dễ, chừng nào còn phải sống thì chưa được chết. Chết chưa phải là hết. Thường ngày nghe nói vậy nhưng sau dịp lên đồng lần này, tôi mới khẳng định điều đó hoàn toàn đúng. Sau mấy ngày giao lưu với bạn bè ở cõi tiên, tôi càng thấm thía điều mà ông cha đã nói : Cuộc đời là bể khổ .

Nguyễn Quốc Vương là người có tuổi cao nhất trong số các bạn đã về cõi tiên. Phạm Văn Sỹ là em út. Tiếp theo Vương đến lượt Tưởng, sau đó là anh Thanh, anh Xuân, Tuyến, Chiến, anh Sang, anh Nguyên, mới đây nhất là anh Sỹ. Ngày mất khác nhau, nơi mất khác nhau nhưng đến với cõi tiên lại gặp nhau một chỗ sum vầy đoàn tụ. Tại sao người đầu tiên ra đi lại là Quốc Vương. Đây là chuyện thú vị, không phải đau buồn. Câu chuyện này chỉ riêng mình tôi biết. Đừng hồi hộp, cứ chờ, tôi sẽ tỉ tê chuyện này vào dịp khác.

Chẳng hiểu vì lí do gì, cho đến nay, K 17 chúng tôi chưa có mệ đàn bà nào từ giã cõi trần. Cuộc đời là bể khổ, có lẽ là vì thế, trời bắt các mệ còn phải khổ thêm nhiều năm lúc đó mới tha. Vừa ra trường là vội vàng làm vợ, thậm chí làm một cách cẩu thả. Kế đó là làm mẹ. Bây giờ đặt lên vai gánh nặng làm bà. Vất và khổ sở là thế nhưng các mệ không chịu ra đi, cứ ham sống cho lăm để rồi kêu than như vịt chạy đồng. Các mệ chưa một lần chết cho nên không biết thế nào là sướng thế nào là khổ.Chết mới là sướng. Còn sống thì còn phải è cổ mà gánh các thứ khổ đau. Vừa thương vừa đáng trách các mệ. Nơi thiêng thì không tìm về. Nơi bể khổ thì trằn ra để mà sống. Con người là sinh linh khó hiểu. Tự nhận là động vật bậc cao ( cao nhất trong các loài ) nhưng nhiều khi con người không biết đến mình, thậm chí tự huyễn hoặc mình. Không ai làm khổ con người bằng chính con người. Đến khi xuống mồ, con người mới chấm hết mọi việc, kể cả công và tội. Công thì dễ quên, tội nhớ dai dẳng lắm. Chờ đến lúc về cõi tiên, lúc đó con người mới thoát được tội.

Ở đó, nơi cõi tiên, tính tuổi kể từ lúc tắt thở trên dương gian. Không phải làm giấy khai sinh, không cần đăng kí hộ khẩu, chả cần chứng minh thư. Cuộc sống ở đây đơn giản lắm nhưng cực kì nề nếp, quanh năm thuận hòa…. Tận nơi mắt thấy, tai nghe tôi cứ ao ước nơi mình đang sống đến bao giờ mới được như thế.

Nơi cõi tiên có nhiều cách xưng hô nhưng tuyệt nhiên không có từ đồng chí. Ở cõi trần cũng có chốn như vậy. Tại các làng quê, quanh năm chẳng nghe gọi nhau bằng đồng chí nhưng người ta sống chân thành, đôn hậu, trái tim không có khoảng đen…

Tuổi cao, sức yếu. Đó là quy luật của dương gian. Ở cõi tiên, nơi bạn tôi đang quy tụ, tuổi tăng dần lên nhưng sức không giảm. Ở đó là cõi vĩnh hằng, không có già yếu và không có sự chết. Những ngày phiêu diêu nơi cõi tiên, bạn bè đưa đi “ thực tế “ nhiều nơi. Không có chuyện tắc đường . Chẳng nơi nào nói đến lạm phát.Tôi quen mồm nói ra tiêu cực và tham nhũng , tất cả lắc đầu không hiểu. Hóa ra nơi đó không có khái niệm tiêu cực và tham nhũng. Vương, Tuyến cùng một số bạn vốn là nhà báo. Sinh thời trên dương gian các bạn là dũng sĩ chống tiêu cực . Từ khi về cõi tiên, các bạn quên hẳn chuyện tiêu cực, ở đó không có thì làm sao mà biết.

Khi thờ cúng người đã mất, người ta cầu mong cho yên giấc ngàn thu. Câu đó chỉ đúng một nửa, quả đúng là ngàn thu. Còn yên giấc thì không phải. Bằng chứng là lần gặp vừa rồi, tôi thấy các bạn ở cõi tiên vẫn ngày ngày hoạt động. Ở đây có sự khác lạ với trần gian. Sống ở cõi trần, mọi người chỉ làm cho mình, cho người thân quen, chỉ có các vĩ nhân mới làm cho mọi người ( thời nay hình như không còn người có đẳng cấp ấy ) . Nơi cõi tiên hoàn toàn ngược lại, không làm cho mình, tất cả chỉ vì người khác, kể cả cho những người đang sống. Thế cho nên, tại nhiều đền chùa miếu mạo, người cõi trần thắp hương nghi ngút chen chúc cầu xin cõi âm đủ thứ. Ở cõi tiên chờ người xin để cho, cho vô tư, cho thánh thiện. Ở đó tuyệt nhiên không có chuyện mua bán-xin cho. Thành tâm, ăn ở phúc đức thì cõi âm mới cho. Tâm địa độc ác, không giúp người mà chỉ hại người. Những kẻ như thế, chổng mông xin cả ngày cũng chẳng được. Người trần gian tham lắm, xin đử thứ, xin cả những thứ thần thánh không có hoặc có cũng không dám cho. Còn ở cõi tiên, chẳng xin xỏ gì cả nhưng những thứ cần có đều có. Người chết nẳm trong lăng mộ. Lăng mộ chỉ là nơi để người sống ngắm nhìn. Người về cõi tiên phiêu diêu đầu trời, cuối bể, từ nơi xa xăm nhất đến nơi gần gũi nhất. Người từ cõi âm tìm về cõi dương nhiều hơn là người đang sống tìm đến người đã mất. Ở cõi tiên, người ta vô tư, không tính toán như là chốn trần gian. Từ khi về cõi tiên, trán mọi người phẳng lịm, bóng mượt. Nơi dương gian, đố tìm ra một người trán không có nếp nhăn. Cứ nhìn các cháu thời nay, chỉ riêng việc học thêm, mới hơn 10 tuổi mà trán nhăn nheo như các cụ.

Sau mấy ngày chu du với bạn bè nơi cõi tiên, chúng tôi chia tay nhau bin rịn lưu luyến. Lúc ra đi khói hương nghi ngút. Hôm trở về cũng nghi ngút khói hương. Cõi tiên với chốn trần gian chỉ cách nhau một làn hương mờ ảo. Khi đã chạm chân vào cõi trần, tôi vẫn nghe bạn bè từ cõi tiên nhắc nhở : Làm điều thiện bao nhiêu cũng chưa đủ, dính vào một chút điều ác cũng là thừa. Bây giờ tôi đã tĩnh tâm và chờ đến ngày tận số để từ giã cõi trần ung dung về cõi tiên với bạn bè-nơi vĩnh hằng danh cho tất cả.Hẹn gặp nhau ở đó, điểm dừng cuối cùng, không một ai không đến.

Noel 2011

Bá Tân



Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Ôi, bạn Ninh

THANH ĐẠM

…Lê Thị Ninh là cô gái xinh đẹp, đoan trang đến mức trông hơi bí ẩn, lạnh lùng. Bọn con trai nhiều anh thích, nhưng lại ngài ngại..., vì thế suốt 5 năm sinh viên, Ninh xinh đẹp mà chẳng có lấy một mối tình vắt vai.

Sau khi tốt nghiệp đại học ra trường, Ninh đi làm được vài năm. Vừa trải qua một hai mối tình, đến lúc chuẩn bị lên xe hoa thì bỗng nhiên ngã bệnh. Bệnh tâm thần. Có thời, Ninh còn bỏ nhà đi lang thang. Gia cảnh nhà Ninh cũng thật buồn (cảnh nhà kiểu: con anh, con tôi, con chúng ta). Ninh chỉ có một người anh trai để nhờ cậy, mà anh lại quá nghèo. Bạn bè trong lớp có mấy lần đến bệnh viện tâm thần thăm Ninh. Ninh tuy tâm thần, nhưng vẫn nhớ hết, từng người một... như chẳng hề tâm thần tí nào.


Bẵng đi mười mấy năm, mất liên lạc. Ninh không còn ở trại tâm thần nữa. Anh trai Ninh thì lại chuyển nhà đi chỗ khác. Mỗi lần gặp nhau, chúng mình lại hỏi nhau, xem có ai biết tin tức gì về Ninh. Không ai biết! Mọi người bảo: Có lẽ Ninh chết rồi!


Tháng 6.2011, Đạm, Hà, Hoa quyết tâm đi tìm Ninh. Ba bà già rong ruổi trên hai cái xe máy. Đường ở mồm mà ra. Tin tức cũng ở mồm mà ra. Sau một chặng đường hơn 80 km không nghỉ, cuối cùng chúng mình cũng tìm được Ninh. Ninh nằm ở bệnh viện tâm thần Thường Tín.


Ninh đó! Bằng xương, bằng thịt. Nhưng không phải cô gái xinh đẹp ngày xưa, mà là một bà lão, mái đầu bạc cạo tém,liên tục nhai nhai cái gì đó trong mồm và luôn mồm rên ư ử... Chúng mình hỏi: Ninh có biết ai đến thăm Ninh không? Ninh bảo: biết chứ! Mẹ Đạm này! Dì Hoa này! Con Mèo con này! Và Ninh cười, cười rất tươi. Còn ba đứa chúng mình thì ôm lấy Ninh, nức nở! Trông Ninh không đến nỗi tiều tuỵ lắm; mặc dù vẫn nhớ hết mọi người nhưng vẫn rõ là người ngây ngây của bệnh tâm thần. Ninh thèm, thèm đủ thứ. Chúng mình đem bánh chưng, giò, bánh cho Ninh ăn và chia cho các bệnh nhân đang xúm đông xung quanh. Ninh bảo: Lần sau, các bạn đến thăm thì mang cho mình thuốc lá nhé! Mình nhạt mồm lắm. Toàn phải đi nhặt mẩu thuốc thừa để hút. Rồi chúng mình cũng phải tạm biệt Ninh ra về. Chặng đường đi không thấy dài, nà chặng đường về mới dài làm sao!


Chúng mình thông báo tin tức của Ninh đến các bạn lớp Văn K17. Lập tức, chỉ trong hai tuần, các bạn gửi đến hơn 20 triệu đồng ủng hộ bạn Ninh. Không chỉ các bạn ở Hà Nội, mà ở khắp nơi, tận Sài Gòn, Đà Nẵng, Nghệ An... cũng gửi. Gọi là một chút tấm lòng! Giúp anh trai Ninh chăm sóc bạn Ninh, “bố Ninh” của gia đình chúng mình ngày ấy (hồi ở KTX bọn mình cứ gọi Ninh bằng bố).


Vừa rồi họp lớp kỷ niệm 35 năm ngày ra trường, chúng mình thật vui. Gặp mặt ở Hà Nội, rồi lại còn đưa nhau lên Thanh Thủy, Phú Thọ để tắm nước khoáng nóng, đốt lửa trại, ngủ nhà sàn, và hưởng thụ ... đặc sản cười. Cười vui là thế! Họp lớp qua cả tháng rồi mà đứa nào đứa nấy vẫn còn thổn thức, chưa yên!
Cười vui thế thôi, nhưng mỗi khi nghĩ đến bạn Ninh và các bạn trong lớp đã phải trải qua nhiều nỗi bất hạnh, thiệt thòi... thì lòng chúng mình lại thấy làm sao ấy.
Cái gì... cay cay trong mắt! Cái gì... mằn mặn trên môi!

T.Đ

(Ghi chú của Thông Cào: Đây là một phần trong bài của bạn Nguyễn Thanh Đạm mà mình tự tiện trích ra đoạn viết về Ninh. Ninh tức Lê Thị Ninh, bạn gái cùng lớp với chúng mình hồi đại học. Có một chi tiết mình xin được bổ sung: anh Bùi Trọng Cường hồi ấy rất yêu Ninh, nhưng chả hiểu sao lại không đến được với nhau. Điều này có nhẽ phải hỏi lại anh Cường).

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

THÔNG BÁO (dành riêng cho các bạn khóa 17 Ngữ văn, Tổng hợp HN)

Các bạn lớp Văn khóa 17 thân mến

Ngày 26 và 27.11 vừa qua, Hội khóa 17, Khoa Ngữ văn, ĐH Tổng hợp Hà Nội đã được tổ chức rất trang trọng, cảm động và đầy ấn tượng với sự tham dự của gần 50 bạn bao gồm 3 lớp Văn, Hán Nôm, Ngôn ngữ. Hội khóa 17 cũng vinh dự được đón tiếp các thầy cô: Hà Minh Đức, Lê Chí Quế, Bùi Văn Lung, Ngô Anh Thơ. Các thầy cô và các bạn tham dự cuộc gặp mặt này đều vui vẻ, hạnh phúc, có ấn tượng tốt đẹp về tình bạn, tình thầy trò và đều mong muốn gặp lại. Ban tổ chức Hội khóa 17 chân thành cảm ơn sự có mặt và đóng góp tận tình của các bạn, đặc biệt là các bạn ở xa.

Các bạn thân mến

Trong cuộc gặp mặt này, các bạn tham dự đều nhất trí cao làm cuốn kỷ yếu của lớp Văn. Bạn Nguyễn Thị Bé đã gửi đến các bạn đề cương và tiến độ cuốn sách. Dự kiến ngày 2. 9. 2012, chúng ta phải có cuốn kỷ yếu này trong tay để tổ chức cuộc gặp mặt lớp Văn vào đầu tháng 11.2012 tại Quảng Bình hoặc Huế. Chúng tôi cho rằng, đây là việc làm rất cần thiết, không chỉ thể hiện tình cảm, suy nghĩ của sinh viên Văn khoa nói chung và khóa 17 nói riêng mà còn là món quà quý giá, một kỷ niệm đẹp về thời sinh viên.

Vì vậy, Ban Biên tập tha thiết mong các bạn hãy viết bài và gửi về cho chúng tôi càng sớm càng tốt để cuốn kỷ yếu hoàn thành đúng kế hoạch.

Bài gửi về:

Ban tổ chức biên soạn :

1. Nguyễn Sĩ Đại, TBT Tạp chí Doanh nhân toàn cầu, 73 Lý Nam Đế, Hà Nội, ĐT : 0988399808. Email : nguyensidai@gmail.com

2. Trần Thị Sánh, Trưởng ban Ban Doanh nghiệp - Doanh nhân, báo Đất Việt, 108 Trường Chinh, quận Đống Đa, Hà Nội, ĐT : 0903230005.

Email : sanhtuyen2001@yahoo.com

3. Nguyễn Thị Bé, NXB Giáo dục Việt Nam, 187 Giảng Võ, Hà Nội, ĐT : 0913270447. Email : behuong.nxbgd@gmail.com

Rất cảm ơn các bạn và hẹn gặp lại vào tháng 11.2012 với cuốn kỷ yếu trên tay.

Ngày 15 tháng 12 năm 2011

TM Ban Biên tập

Trần Thị Sánh

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Đặc sản cười của lớp ta

Từ chiều hôm 25 đến hết 27.11 vừa qua, các ông bà nội ngoại lớp văn khóa 17 khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội đã làm cuộc tụ tập đông người không xin phép chính quyền. Họ phớt lờ quy định sắt của nhà nước bởi họ chỉ cốt gặp nhau để cười, tán phét, ôn lại chuyện xưa sau 35 năm ra trường, chia tay nhau đi tứ phía. Mình ở tận Sè Goòng không ra được nhưng qua điện đàm với thầy cô, bạn bè cũng nắm được một số thông tin, đang viết dở, chưa xong vì mấy bữa ni bệnh tật đổ đốn. May mà có ông bạn Bá Tân chữa cháy cho.

Nguyễn Bá Tân là tay có "số má" của lớp văn. Hiện y làm báo ở báo Đại Đoàn Kết, hàm sĩ quan (nhưng mình chả dại gì khai ra đâu). Y và thằng Ba (Xuân) mà ở đâu thì ở đó bọn con gái cứ xoắn xuýt lại, bò lăn bò càng mà cười, phơi bung cả rốn. Mình cứ nghĩ, y là sự hội tụ những nét đặc sắc nhất của chú Tễu, trạng Quỳnh, lý Toét xã Xệ vào con người Bá Tân, thậm chí cả tí ti Xuân Tóc Đỏ, nhưng rất văn hóa.
Sau đây là một vài ghi nhận của y về cuộc tụ tập ấy. Mong nhận được thêm những ghi nhận của các bạn khác, à quên, những ông bà nội ngoại khác lớp ta.

Cuộc tụ tập năm 2006, hội quân tại nhà khách của báo Tiền Phong, theo thứ tự từ trái sang, đứng trước ngồi sau: Nguyễn Bá Tân, Lê Quốc Lập, Trần Triều Nguyệt, Ma Duy Giang; Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thanh Hương, Cao Kim Phương, Lê Thanh Nga.



Đặc sản cười của lớp ta


BÁ TÂN

Tôi có thói quen gọi những lớp đã học bằng cái tên lớp ta. Từ 1972 trở về trước, tôi có những “lớp ta” thời học phổ thông. Những năm học ở đại học tổng hợp có “lớp ta” là khoa ngữ văn, khóa 17. Sau đó tôi còn có thêm 2 lần “lớp ta” khi học đại học báo chí (khóa 4, trường tuyên huấn trung ương I) và lớp cử nhân chính trị. Lớp gối lên lớp, kỷ niệm giàu lên theo năm tháng được làm học trò. Lớp học thì nhiều nhưng sâu nặng nhất vẫn là lớp ngữ văn, khóa 17, đại học tổng hợp Hà Nội. Lúc gặp nhau cũng như khi trò chuyện qua điện thoại, hễ nhắc đến K17 khoa ngữ văn tôi luôn gọi bằng cái tên lớp ta.

Lớp ta có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu cách “khai thác” giá trị trên nhiều lĩnh vực. Riêng tôi, cách đây khá nhiều năm, phát hiện ra đặc sản cười của lớp ta. Đơn lẻ từng người thì không thấy. Chỉ cần một nhóm gặp nhau, nhất là những lần hội lớp, đặc sản cười của lớp ta lên cao đến mức như là…chỉ số lạm phát 2011. Lạm phát (CPI) của Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới chứ đâu phải là vừa. Các bạn thấy chưa, đặc sản cười của lớp ta đạt tới đẳng cấp tốp đầu thế giới.

Trong 2 ngày 26, 27/11/2011, lớp ta gặp nhau tại Hà Nội để “ôn nghèo, khoe sướng” nhân kỷ niệm lần thứ 35 ngày ra trường. Trong 2 ngày đó, nhu cầu vật chất (ăn, uống, ngủ…) không thay được nhu cầu cười của lớp ta. Chưa kịp bắt tay đã cười. Thấy nhau từ xa đã cười. Cười trong bữa ăn. Cười trước khi ngủ. Tỉnh dậy sau giấc ngủ lại cười. Ngâm mình trong hồ nước khoáng vẫn cười. Cười liên khúc từ lúc lên xe cho đến khi xuống xe… Trên đời này, không chỉ Việt Nam mà kể cả thế giới, tìm đâu cho ra một tập thể giàu tiếng cười như là lớp ta. Tôi xin khẳng định: lớp ta là “tỷ phú” về cười. Tỷ phú tiền bạc bây giờ nhiều lắm, họ giàu vật chất nhưng nhiều khi vẫn thèm tiếng cười. Tỷ phú về cười thì duy nhất chỉ có lớp ta. Tỷ phú tiền bạc tiêu dùng mãi cũng hết. Tỷ phú về cười thì ngược lại, càng dùng càng giàu thêm. Đây là một phát hiện vĩ đại của tôi và của cả lớp ta.

Tại sao lại gọi là nàng thơ. Công bố điếu văn tại buổi lễ bảo vệ luận án tiến sĩ. Gọi ấy của vợ bằng đồng chí. Đạm và Độ có chung tên gọi. Huy Cờ và Xuân Bối là 2 anh em. Triệu năm sau chưa được như... Kể cho nhau nghe những chuyện như thế, đố ai mà không cười. Giá như thế giới tổ chức cuộc thi cười, lớp ta nên cử đại diện dự thi. Không cần tra cứu trên mạng hoặc tìm kiếm trong các thư viện, cứ đưa những chuyện lớp ta kể cho nhau nghe thì ban giám khảo cuộc thi sẽ vỡ bụng vì cười. Nếu thế giới tổ chức cuộc thi ấy, tôi cam đoan 100% lớp ta đoạt giải đặc biết. Nghe những chuyện của lớp ta, đến người sắp chết cũng phải bật cười. Cười rồi mới chết, nụ cười ấm áp tình người theo linh hồn vào cõi vĩnh hằng. Chỉ lớp ta mới có “đặc sản” vô giá ấy.

Lớp ta có hai trong một: vừa thích cười vừa tạo ra “tài sản” cười. Đó là cái nhân văn đặc biệt của lớp ta. Không chỉ đơn thuần đón nhận tiếng cười, lớp ta còn “cung cấp”tiếng cười cho thiên hạ. Trên đời này không hiếm những kẻ tham lam, chỉ nhận mà không cho. Lớp ta thì ngược lại, sẵn sang “khuyến mại” tiếng cười ở mọi nơi, mọi lúc. Số đông trong lớp đã cận kề tuổi 60, một số anh chị đã vượt qua lục thập. Đã làm ông làm bà mà còn cười như con trẻ, sự sướng ấy thuộc loại đặc sản hiếm có. Cuộc đời có quy luật của nó: tuổi cao (thì) sức yếu. Hình như lớp ta có quy luật riêng, rất đặc thù: tuổi cao, sức khỏe giảm sút nhưng năng lực cười lại khỏe hơn. Đó không phải là thứ trời cho, dù có bị trời đánh tôi cũng xin bảo lưu ý kiến này. Đặc sản cười của lớp ta do mỗi chúng ta góp lại mà thành. Đành rằng có người nhiều, người ít. Người ít phải nỗ lực nhiều hơn. Người đóng góp nhiều không được dừng lại. Nếu ai cần hỗ trợ, vì lợi ích chung của lớp, tôi, vâng cá nhân tôi, sẵn sàng trợ giúp kể cả lý thuyết và thực hành. Riêng tôi,tự nhận một cách khiêm tốn, phần đóng góp của mình đã được lớp ta ghi nhận. Thế là sướng lắm rồi. Được bạn bè thừa nhận còn khó hơn được cấp trên khen ngợi.

Dân gian đồn rằng: một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ. Cứ theo chỉ số ấy mà suy, lớp ta trao cho nhau và biếu tặng xã hội hàng triệu triệu thang thuốc bổ. Phải chăng vì thế mà mọi người trong lớp ta khỏe hơn lên sau mỗi lần gặp mặt. Nhiều người còn được vợ (hoặc chồng) thỉnh thoảng thúc giục tổ chức họp lớp để cho sức khỏe tăng lên. Tiếng cười của lớp ta thật là kỳ diệu. Muôn muôn năm tiếng cười của lớp ta.

B.T

Còn đây là ảnh của lớp, nhưng chụp hồi năm 2006, kỷ niệm 30 ngày ra trường, tất nhiên lớp đông nên số các cụ trong ảnh chỉ là một phần của cuộc tụ bạ bữa ấy thôi.