Lẩn mẩn giở đủ loại từ điển, cả thuần Việt lẫn Hán Việt, thì thấy từ “tượng đài” có nghĩa: Một khối gồm tượng (tượng) và chân đế (đài) ở nơi công cộng, nhằm biểu trưng, ca ngợi, ghi nhận một điều gì đó, người nào đó.
Nói sơ sơ chút. Tượng, bức tượng không chỉ tạc người mà có thể cả con ngựa, con chó, con cá, con cóc, cây tre… Xưa nơi đình đền thường có tượng con chó đá. Tỉnh An Giang ở miệt sông Cửu Long sau khi phất lên thoát nghèo nhờ con cá tra đã dựng hẳn tượng cá rất hoành tráng. Nhiều nhất vẫn là tượng người. Trong chùa cơ man tượng. Chùa Tây Phương ở huyện Thạch Thất (tỉnh Hà Tây trước kia) ngoài những tượng phật, bồ tát còn rất nổi tiếng với bộ tượng 18 vị la hán (thập bát tổ) cực kỳ sinh động. Thi sĩ Huy Cận ngậm ngùi tả có ý chê trách “các vị ngồi đây trong lặng yên/mà nghe giông bão nổ trăm miền”, chợt nghĩ giờ mà thi sĩ sống lại chắc phải tả mỏi tay bởi xứ này đang hàng triệu la hán ngồi yên mặc kệ bão giông.