Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

Vòng tay của bác Kwan (Đỗ Trung Quân)

Đỗ Trung Quân và Mai Thanh Hải tại quán bờ kè Trường Sa (ảnh: Mai Thanh Hải)

Gần trưa, Hải (Mai Thanh Hải) gọi bảo anh ơi em mới ở miền tây về, chiều gặp nhé, khuya là em ra rồi. Mình đang có chút việc gấp không đến ngay được nhưng hứa với hắn thế nào cũng phải nhìn thấy nhau một phát, hò hẹn trao đổi mãi qua mạng miếc, chán chết, phải bằng xương bằng thịt mới thích.

Hải cùng quê Hải Phòng với mình, hắn Kiến An mình Kiến Thụy cách nhau chưa đầy chục cây số, hắn kém tuổi nhưng nhiều cái mình phải gọi bằng… cụ, thật thế. Chỉ riêng hai chân như đôi cánh, nay đây mai đó, vừa hiện chỗ này đã vù chỗ khác, thu tất cả vào tầm mắt, nhanh nhạy phát hiện ra bao điều mà người thường hằng ngày tận mục sờ sờ vẫn không nhận ra, viết những dòng nóng hổi, tâm huyết, đọc vô cùng xúc động. Chỉ riêng khoản ảnh hắn cũng là hạng cao thủ rồi, ai không tin cứ mở blog Mai Thanh Hải mà xem sẽ thấy mình chả ngoa chút nào. Hắn đi đâu cũng kè kè lụ khụ cả đống máy ảnh lớn nhỏ, laptop, 3 gờ 4 gờ gì đó, nhìn mà hãi. Cứ đi cứ đi, dừng đâu là nhà, ngã đâu là giường, quan hệ rộng rãi, quen biết đủ các “danh nhân”, giỏi thật. Thế mới biết, chả cần nhìn lên, chỉ nhìn ngang thôi mình đã thấy mình chưa bằng ai cả.

Hải là tay blogger trứ danh, trang nhật ký của hắn mỗi ngày nhận khoảng vạn rưởi lượt người ghé xem, chỉ từ tháng 4 đến nay đã hơn 2 triệu lượt, có thua kém chắc chỉ chịu sau các bậc đấng cao thủ đại lão như bọ Lập, Xuân Diện, Đào Tuấn đđk… là cùng. Nói ra điều này, chắc một số tờ báo hoặc trang thông tin điện tử phải xấu hổ khi cứ lẹt đà lẹt đẹt tìm mãi lối đi mà chả thu hút được ai.

Gớm cho món đặc sản “kẹt xe” đất Sài Gòn. Chỉ hơn chục cây số mà nó xơi tái mình hơn nửa tiếng đồng hồ. Hải bảo đang ngồi với các đại lão Huy Đức, Đỗ Trung Quân, anh đến nhé, trên quán bờ kè đường Trường Sa ấy. Mình không thông thuộc khu đó nên lao thẳng về phía quận 1, chỗ cầu Thị Nghè, vòng và vòng vèo. Bác Quân gọi điện bảo Thông ơi phải về cầu sắt Trần Khánh Dư cơ, cứ thấy cái nhà hàng đỏ đỏ là trúng. Lúc mình tới nơi thì bác Osin có việc bận đi rồi, cả bác Kwan nữa nhưng bác Kwan dặn chút sẽ quay lại. Ngồi chơi với Hải, Phong... bao nhiêu là chuyện vui, nhất là nghe Hải kể về chuyến ngao du miền tây vừa rồi, mình phục quá. Thỉnh thoảng bác Kwan điện về, chờ nhé chờ nhé.

Hơn 7 rưỡi, “người chiến sĩ ấy” tới. Nhẹ như gió thoảng. Mình chưa kịp xoay người chào làn gió mà mình xếp vào hàng đấng bậc kia thì tóc và râu đã kề sát, một vòng tay giang rộng, choàng ra, ôm siết lấy mình. Trong cái cơ thể gầy gò mà quắc thước tỏa ra luồng hơi ấm, thân tình làm sao. Mình cũng ôm chặt Kwan, thậm chí còn nhấc bác lên, thoáng nghĩ trong cơ thể mới nhìn cứ tưởng ọp ẹp này sao lại rắn chắc và ấm áp làm vậy (nếu ai chưa tin, cứ nắm thử bàn tay bác Kwan nhà ta xem). Bác Kwan bảo đọc Thông, thấy sự hiền lành chỉn chu lộ ra chất kẻ sĩ, Thông ạ, chỉ chừng ấy thôi đã đáng quý lắm rồi.

Điều mà mình nghe truyền khẩu quả không sai, cứ Kwan ở đâu là nơi đó khí thế hẳn lên. Bọ Lập cũng từng nhận xét vậy hay sao ấy. Kwan đưa cho Hải chiếc túi nhỏ, giục bảo mở ra mở ra. Cái khăn rằn đặc sệt quà Nam bộ làm Hải sướng rơn, cảm động, hết khoác khăn vào cổ lại ướm quấn lên đầu, kiểu nào cũng đẹp. Bác Kwan xúi nếu có bộ đồ đen nữa thì nhất, nhất đấy. Quay sang mình, Kwan dặn này cuối tháng sẽ ra mắt album giọng ca Bích Liên – Quang Lý đấy, thế nào cũng đến nhé. Chả là biết mình đang định viết một bài về ca sĩ Bích Liên, bác Kwan cho rằng đó là những giọng hát cực kỳ, họ chưa được danh hiệu NSND chỉ bởi họ có lòng tự trọng không muốn làm đơn làm từ xin xỏ nọ kia thôi. Kwan bảo đấy mới là những nghệ sĩ đích thực.

Thực ra không phải lần đầu mình trò chuyện cùng Kwan, cả Osin, bọ Lập cũng vậy, bởi các vị ấy có những dạo thường xuyên ghé cơ quan mình. Riêng Kwan có thể coi thuộc diện những người đầu tiên của tờ báo mà mình đang phục vụ, quen gọi bằng mấy chữ “đổ móng xây nền”. Kwan tung tăng như kẻ lữ hành tôn thờ tự do, không chịu sự gò bó, trải hết Thanh Niên, Tuổi Trẻ, SG Tiếp Thị nhưng cái phần bản chất tự do đích thực của con người không chịu bị trói buộc này lúc nào cũng cứ lồ lộ một cách tự nhiên. Người ta biết nhiều về bài Quê hương của Kwan, thực tình mình không đề cao bài ấy lắm nhưng càng ngày càng để ý đến tác giả, khi Kwan ngồi ghế giám khảo một cuộc thi trên truyền hình tỏ rõ thái độ dứt khoát, rõ ràng về điều này người này, điều khác người khác mà không ngại bị chê bai, càng quý hơn khi bác viết chi li nóng hổi bài tường thuật cuộc đấu khẩu kịch liệt xảy ra ngày 5.6 giữa một bên là các vị nhân sĩ trí thức (mà bác cùng tham gia) với bên kia là ông Ba Đua, bà Quyết Tâm cùng bộ sậu phản biểu tình. Mấy ngày sau những cái tên Nguyễn Đình Đầu, Lê Hiếu Đằng, Đỗ Trung Quân… luôn xuất hiện trong các cuộc luận bàn với sự kính nể, khâm phục dành cho các vị ấy. Mình cũng nghe loáng thoáng người ta làm khó dễ cho bác Kwan, nhất là sau khi bác viết bài Có hai ông Ba Đua, nhưng nay cứ xem cái cung cách vui vẻ thế này thì chợt hiểu chả gì làm thay đổi được con người trước sau như một của Kwan.

Tuy bác Kwan cùng tuổi nhưng mình hiểu trên đời có thứ luật bất thành văn, không thể cứ lấy tuổi ra mà đòi được cư xử công bằng. Dù Kwan cực kỳ thân thiện, nhưng với mình, vẫn cứ phải cung kính mời bác ấy lên ngồi chiếu trên.

Thế mới phải đạo.

9.11.2011

Nguyễn Thông

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Lần đầu tiên xuất bản: ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN- ĐỆ LỤC KỶ PHỤ BIÊN

Bài này đã đăng trên báo Thanh Niên chủ nhật 6.11.2011, tuy nhiên mình thích dùng cái tít này hơn, vả lại bản gốc dưới đây còn giữ lại vài chi tiết lúc chưa bị "gọt chân cho vừa giày".




Đầu tháng 11, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, bộ chính sử của triều Nguyễn viết về hai phế đế Thành Thái, Duy Tân đã được xuất bản. Đây là một sự kiện học thuật đáng chú ý không chỉ với học giới trong nước mà cả các nhà Việt Nam học nước ngoài.

1. Công đầu trong việc đưa bộ sách này đến người đọc phải kể tới nhà nghiên cứu-dịch giả Cao Tự Thanh cùng cộng sự. Giữa thời buổi người người nhà nhà nhào ra làm kinh tế thì việc họ bỏ công sức và thời gian để phiên dịch sử liệu có vẻ như lạc lõng. Nhưng công việc tỉ mẩn ấy không phải ai muốn đều có thể làm và gặt hái kết quả, phải chăng đây là cái duyên (hay nghiệp) của một hàn nho.

Người ta phải đánh vật với chữ nho, còn hắn cứ như cuộc dạo chơi vậy


Sau hai lần xuất bản (lần đầu với bản in 38 tập, NXB Sử học - Khoa học - Khoa học xã hội, từ 1962 – 1978; lần thứ hai với bản in 10 tập, NXB Giáo dục, 2007), bản dịch Đại Nam thực lục của Viện Sử học đến nay vẫn chưa trọn vẹn. Còn 2 bộ Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên viết về hai đời Thành Thái, Duy Tân và Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ viết về đời Khải Định do nhóm Phạm Quỳnh biên soạn xong khoảng 1941 - 1942 với bản viết tay được lưu giữ ở Trường Viễn Đông bác cổ Pháp tại Paris vẫn ẩn mình. Dù rằng từ năm 2003, bản sao ảnh của hai bộ sử quý hiếm ấy đã được đưa về VN, nhưng đến nay với bản dịch tiếng Việt của Cao Tự Thanh, người đọc mới được đọc bộ Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên. Hỏi nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh về quá trình thực hiện bộ sách, ông bảo “Trước Tết âm lịch Tân Mão, khoảng tháng 1.2011 tôi nhận được trọn vẹn bản sao ảnh bộ Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên từ trường Viễn Đông bác cổ Pháp ở Paris gửi về, do Hà Nội chuyển vào, đến đầu tháng 7 thì hoàn tất bản thảo. Kể như mất 6 tháng, trong đó 3 tháng dịch, 3 tháng chỉnh sửa, viết lời giới thiệu, tổ chức làm Sách dẫn và Phụ lục. Nói là tổ chức vì Sách dẫn và Phụ lục do hai người khác làm, tôi chỉ đưa ra yêu cầu, kiểm tra và điều chỉnh kết quả thôi”. Nghe ông Thanh nói, tôi giật mình. Tốc độ “thi công” đáng sợ ấy ít nhiều cho thấy năng lực làm việc và cách thức làm người của nhà nghiên cứu suốt đời chăm bẵm di sản dân tộc.

2. Thấy tôi băn khoăn về cái bìa sách, vì so với những lần xuất bản trước, tên sách của bộ sử lần này khác hẳn, dịch giả giải thích: “Đơn giản thôi. Trong lịch sử VN, triều Nguyễn khác nhiều triều đại trước là từng có tổ tiên cai trị một nửa đất nước trước khi họ xác lập được bộ máy cầm quyền trên cả nước. Chính vì vậy nhiều sử sách của họ viết về thời Đàng Trong thường có tên gọi Tiền biên, chẳng hạn Đại Nam liệt truyện Tiền biên, Đại Nam anh nhã Tiền biên. Bộ Đại Nam thực lục cũng thế, phần chép về các chúa Nguyễn Đàng Trong được gọi là Tiền biên, phần về các vua nhà Nguyễn là Chính biên. Phần Chính biên này lại được chia thành nhiều kỷ, ví dụ bộ chép về đời Nguyễn Ánh-Gia Long là Đại Nam thực lục Chính biên Đệ nhất kỷ, về đời Minh Mạng là Đại Nam thực lục Chính biên Đệ nhị kỷ… Nói ngắn gọn, Đại Nam thực lục là một bộ sách mang tính hệ liệt, chỉ giống nhau ở cái tên chung chứ thật ra là nhiều tác phẩm khác nhau, do nhiều nhóm tác giả khác nhau biên soạn và hoàn thành trong nhiều thời điểm khác nhau, phải dịch đúng tên chính thức và đầy đủ của từng tác phẩm. Bìa sách bản in năm 2007 chỉ là Đại Nam Thực lục rất dễ làm người đọc nhầm lẫn”.

Người bạn cùng đi tôi sở học võ vẽ vài đường Hán Nôm liền thắc mắc, y thưa Cao tiên sinh, tại sao chữ “thực” Hán tự trong quyển này khác với trong bản in của NXB Giáo dục. Hàn nho Cao Tự Thanh liền lý giải cặn kẽ: “Tất cả các bản in Đại Nam thực lục chữ Hán từ Tiền biên tới Chính biên Đệ lục kỷ của triều Nguyễn đều khắc tên sách với chữ thực (miên trên thị dưới). Đó là lối viết không chính thức, thực ra phải là chữ thực (miên trên quán dưới) như bản in năm 2007 (NXB Giáo dục) mới đúng lối quan phương. Nhưng triều Nguyễn có lý do của họ. Năm 1841 vua Thiệu Trị ban hành chỉ dụ về 51 chữ quốc húy, trong đó chữ thứ 50 là chữ “thực” miên trên quán dưới. Chữ này không phải chữ trọng húy, vẫn được dùng nhưng khi viết phải viết theo dạng khác, khi đọc phải đọc ra âm khác. Trước kia nhiều người đọc nó thành “thật”, “thiệt” chính vì vậy. Bộ Tiền biên mở đầu Đại Nam Thực lục được khắc in năm 1844, tức lúc chỉ dụ ấy đã có hiệu lực pháp lý, Quốc sử quán triều Nguyễn dùng chữ “thực” miên trên thị dưới là tuân thủ quy định đương thời. Tóm lại đây là một vấn đề chính tả nhưng hàm chứa thái độ chính trị và quan điểm văn hóa. Cũng như hiện nay nếu tôi viết “hà nội là thủ đô của việt nam” thì sai chính tả đã đành, nhưng nhiều người sẽ không chỉ coi đó là chuyện chính tả đâu. Người khác in chữ “thực” miên trên quán dưới thì tùy họ, tôi cũng không cần kiêng húy nhưng làm nghề Hán Nôm, phiên dịch sử liệu thì một chi tiết văn bản nhỏ cũng phải tìm hiểu để có thể hiểu đúng tác phẩm, hiểu đúng lịch sử”.

Nghe ông Cao Tự Thanh thủ thỉ, chúng tôi giật mình bởi thứ quy định khắt khe mà giản dị ấy đâu chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu Hán Nôm.

Đọc lướt những điều ghi chép trong bộ sử, chúng tôi gặp nhiều chi tiết bất ngờ như Yên Bái vốn có tên chính thức là Yên Phái, chuyện quân Pháp đào mộ Phan Đình Phùng là nhằm khám nghiệm tử thi xem đúng là bàn tay phải có 6 ngón không, vụ tham ô của Đào Tấn…, tôi đùa bảo rằng dịch giả và nhà xuất bản đã cung cấp một mặt hàng chắc chắn là ăn khách. Ông Thanh trầm ngâm ăn khách hay không phụ thuộc vào nhu cầu xã hội, vào chất lượng sản phẩm và trình độ tiêu dùng, cứ để người đọc đánh giá là tốt nhất.

Ghi chú: Giá bìa khá cao, những 400.000đ/cuốn, nhưng sách bán chạy. Chúc mừng cho ông bạn và nền sử học nước nhà.


Dịch giả Cao Tự Thanh sinh năm 1955, sinh viên ngành Hán Nôm bậc đại học hệ chính quy khóa đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, tốt nghiệp Trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1977; từng thụ giáo nhiều học giả nổi tiếng như Cao Xuân Huy, Đỗ Ngọc Toại, Nguyễn Tài Cẩn… Ông đã biên soạn hàng chục công trình về văn học cổ, văn hóa và lịch sử VN, dịch rất nhiều tác phẩm cổ điển và hiện đại Trung Quốc. Giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài đánh giá ông là một trong những chuyên gia Hán Nôm hàng đầu ở Việt Nam hiện nay, ngoài ra Đại học Quốc gia Đài Bắc (Đài Loan) cũng đưa tên ông vào chương trình nghiên cứu Các nhà Trung Quốc học thế giới.

Có thể tham khảo về hàn nho trong bài cách đây chưa lâu của mình, đường dẫn http://thongcao55.blogspot.com/2009/09/ngai-cao-tu-thanh.html.


11.2011

Nguyễn Thông

Bài mới của Bọ Lập: Chọc tức dân

Nhời dẫn: Bài này, Bọ Lập bảo là bà Doan chọc tức dân, còn mình thì lại cho rằng Bọ Lập chọc tức bà Doan. Mà bà là ai, đương kim phó chủ tịch nước nhá.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, chọc bà phó chủ tịch nước thì cũng chả xi-nhê gì, bởi cái chức đó ở xứ ta, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Riêng mình thì nghĩ là nó thừa, hữu danh vô thực, đã có lần mình đề nghị bỏ hẳn cái chức lễ tân chuyên đi dự hội nghị, tổng kết, trao huân chương, cắt băng động thổ, khánh thành, nói mấy lời vu vơ... này cho nhân sự nhà nước gọn nhẹ, đỡ tốn.


CHỌC TỨC DÂN
Nguyễn Quang Lập

Mình vốn cảm tình với bà Doan, Nguyễn Thị Doan, khi ba gọi ông Đỗ Văn Đương là nghị sĩ rau muống nhân ông Đương khẳng định lạm phát nước ta không cao nhất khu vực, bằng chứng là “một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục. “ Nói thiệt lâu nay không để ý đến bà là ai, làm gì, đến khi đó mới biết bà là phó chủ tịch nước.

Cứ tưởng bà Doan cũng mới mẻ , tư duy sáng sủa, cũng mừng. Chẳng ngờ hôm qua đọc bài “Vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới” của bà đăng trên báo Nhân dân mới ngả ngửa người ra là mình đã nhầm. Vào đầu thế kỷ 21, khi mà hệ thống xã hội chủ nghĩa đã tan ra hơn ba chục năm mà ba Doan vẫn nói thế này: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các Nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản…

Chả biết bà Doan hiểu dân chủ nghĩa là như thế nào. Nếu dân chủ theo nghĩa tự do đạp mặt người biểu tình, tự do đánh chết người không đội mũ bảo hiểm, tự do mãi lộ, tự do tham nhũng, tự do phá rừng cướp đất, tự do mua quyền bán chức… thì bà Doan nói đúng, nếu không thì bà sai bét, bà chẳng hiểu gì về dân chủ cả.

Nếu dân chủ vạn lần hơn, tại sao ông Đỗ Văn Đương, cái người mà bà bảo là nghị sĩ rau muống, nói thế này: “Cử tri cho rằng chúng ta có cả rừng luật nhưng thực tế có khi lại phải giải quyết bằng luật rừng. Một bộ phận coi khinh pháp luật, không sợ pháp luật”? Ông Đương nói câu này tại Quốc hội và được nhiều người tán đồng, báo chí cũng lên tiếng ủng hộ. Một xã hội có cả một rừng luật lại chỉ giải quyết bằng luật rừng là xã hội dân chủ gấp vạn lần a , ối bà Doan ôi! Bây giờ thì chính ông Đỗ Văn Đương lại phải gọi bà là nghị sĩ rau muống đấy, thưa bà.

Thà rằng bà nói chúng ta cần cố gắng vạn lần để có dân chủ thực sự, thì dù đó chỉ là lời nói suông dân cũng không nổi khùng như cái điều bà vừa khẳng định, nói thật nhé, nó rất chi là trơ trẽn.

Rất nhiều người, trong đó có mình, thoạt kì thủy rất yêu chế độ, nhưng rồi tình yêu ấy mất dần đi, teo dần đi, biến thành sự nổi giận, cũng chỉ vì những người bảo vệ chế độ kiểu bà Doan.

N.Q.L

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Ngược đời

Chuông nằm cho kẻ tựa lưng

Ở một xứ đầy rẫy chuyện ngược đời, nhố nhăng, tỉ dụ chuyện đề nghị quốc hội cho soạn thảo luật Nhà văn, chuyện càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng hoành hành, càng hô hào giáo dục là quốc sách thì giáo dục thậm nát bét, quản lý vàng càng chặt thì giá càng cao chênh lệch giá thế giới càng nhiều, ít học lại làm cao, ngu si hưởng thái bình... sực nhớ lại một bài học thuộc lòng trong sách giáo khoa hồi mình học lớp 4. Trộm nghĩ xưa nay chả khác gì mấy, chỉ có điều thời sau nặng hơn thời trước. Thơ rằng:

Bước sang tháng sáu giá chân
Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi
Con chuột kéo cày lồi lồi
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong
Vườn ruộng thì thả rau rong
Ao sâu vãi cải lấy ngồng làm dưa
Một đàn con bò đi tắm sớm trưa
Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương
Voi kia nằm ở gậm giường
Cóc kia đánh giặc bốn phương nhọc nhằn
Chuồn kia thấy cám liền ăn
Lợn kia thấy cám cằn nhằn bay qua

Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
Con gà mâm rượu nuốt người lao đao
Lươn nằm cho trúm bò vào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống bắt chuột trong bồ
Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu
Chim chích cắn cổ diều hâu
Gà con tha quạ biết đâu mà tìm

Chú thích của tớ:
-Giá: lạnh
-Bức: nóng
-Cong: Cái cóng, cái chum bằng sành để đựng thóc, gạo
-Trúm: Dụng cụ để bắt lươn

7.11.2011
Nguyễn Thông

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

Những bài hát của một thời (11): Về đây với đường tàu

Lần này sực nhớ đến nhạc sĩ Lưu Cầu, ca sĩ Bích Liên, và bài Về đây với đường tàu.

Mình sẽ có một bài riêng về chị Bích Liên. Nghe nói chị vào Sài Gòn đã lâu nhưng mình chưa hỏi được ngọn nguồn nên không biết "con sơn ca" nổi tiếng một thời nay đậu chỗ nào. Ai biết xin chỉ giùm. Nghe chị cất tiếng, sao thấy yêu cuộc đời đến thế. Chị Bích Liên ơi, em yêu chị lắm. Và em nghĩ chắc các bạn cùng thế hệ em cũng thế.

Nhạc sĩ Lưu Cầu (theo mình) nổi tiếng chưa đến cỡ các cụ Hoàng Vân, Huy Du, Nguyễn Đức Toàn... nhưng thế hệ mình chả mấy đứa không biết ông, không thuộc bài hát của ông. Những bài mà mình rất thích, như Miền Nam ơi, chúng tôi đã sẵn sàng, Miền nam nhớ mãi ơn người, Bài ca đất nước anh hùng, nhưng thích nhất là Về đây với đường tàu (viết năm 1967). Bài này nhiều ca sĩ thể hiện, tuy nhiên chị Bích Liên số 1. Cũng cần nói thêm, gắn với giọng hát tuyệt vời của sơn ca Bích Liên là tiếng dương cầm tuyệt vời không hề thua kém của nghệ sĩ Hoàng My, hầu như bài nào cũng cặp song trùng đỉnh cao ấy. Chả có gì lạ, pianist Hoàng My là ông xã của chị Liên. (Mình tiện đây gửi thêm bài Biết ơn chị Võ Thị Sáu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn để mọi người thưởng thức thêm tài nghệ tuyệt vời của cặp nghệ sĩ đàn-hát này).

Lâu rồi mình không đi tàu lửa. Chả phải do giàu sang dư dả tiền bạc gì mà vì bấn bíu với cuộc mưu sinh nên ít vào Nam ra Bắc, may ra năm một lần về thăm mẹ già ở quê thì đặt trước chiếc vé giá rẻ của thằng Jetstar về cho nhanh, tiết kiệm thời gian, được ngồi lâu bên mẹ. Nhưng tuyến đường sắt xuyên Việt hơn nghìn bảy trăm cây số thì đã in vào tâm óc mất rồi.

Mình vào Nam chuyến đầu tiên tháng 4.1977 đi đường biển, tàu thủy Thống Nhất, vì bến quê Hải Phòng vừa gần vừa tiện. Rồi sau đó lúc thì đường biển, lúc đường sắt, năm nào cũng ra vào vào ra. Đi tàu lửa từ thời nó bò xuyên Việt hết những 72 tiếng, chen chúc cùng đủ mọi hạng người, chất đầy hàng hóa, gà lợn. Ghế gỗ cứng, toa nào toa nấy luôn chật ních, đón khách dọc đường như xe buýt, người đi tàu đến ga nào tiện bữa thì ăn ở ga ấy hoặc mua lên ăn qua quýt cho xong. Mỗi hành trình là cả cuộc trải nghiệm gian lao khổ ải, học thêm từ cuộc sống biết bao điều. Lạ là, những vùng tàu đi qua đều để lại những ấn tượng vô cùng sâu đậm, yêu thương. Nói với tâm hồn trong trẻo, rất tình thực, mỗi chuyến đi thêm yêu đất nước mình. Mình có cái tật hay nhớ kèm địa lý, vùng này vùng nọ với bạn bè, chả hạn tàu qua Nam Định thì thầm bảo đây quê thằng Bích thằng Tửu cái Đạm, qua Ninh Bình cái Hương, qua Thanh Hóa anh Sang anh Lập thằng Ba cái Bé, qua Nghệ Tĩnh thì cái Hà thằng Đại anh Bối, vào Quảng Bình có cái Nam anh Chiến, Quảng Trị quê thằng Chương anh Thuận... Tự dưng cảm thấy đường ngắn hẳn, dường như bạn bè cùng theo chia sẻ vất vả với mình.

Bài này đến nay tuổi thọ có dư 40 năm, chất trẻ trung sôi nổi thì vĩnh viễn không theo thời gian, cứ trẻ mãi trẻ mãi. Bạn thấy không, một đề tài chả có gì đặc biệt, càng không phải là hấp dẫn, vậy mà qua nét nhạc và giọng hát của những tài năng đích thực, của tâm hồn giàu cảm xúc, đã trở nên hấp dẫn lạ thường.

Xin cám ơn nhà sưu tầm zanhanoi.

6.11.2011
Nguyễn Thông

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

Quốc sử do ai chép?

Thắng cảnh Hoa Lư, Ninh Bình (ảnh: N.Thông)


Đừng vội bảo rằng lắm chuyện. Xin đừng vặn rằng không do người viết sử biên soạn ra, viết ra thì còn ai? Nếu vậy đã đi một nhẽ.

Chả là Hội khoa học lịch sử Việt Nam vừa kỷ niệm 45 năm thành lập. Lễ to ra phết, ở nhà hát lớn thủ đô, có cả chủ tịch nước tham dự. Tại buổi lễ trọng, vị đứng đầu nền sử học nước nhà hiện nay, giáo sư Phan Huy Lê nói rằng một trong những việc lớn của các nhà sử học sắp tới là soạn ra bộ quốc sử, chí ít cũng 25 tập.

Ông giáo sư Lê bộc lộ chút băn khoăn, các vương triều ngày trước, triều nào cũng có bộ quốc sử, gần đây nhất là triều Nguyễn với bộ Đại Nam thực lục (một phần quan trọng của bộ này là Đại Nam thực lục chính biên Đệ lục kỷ phụ biên chép về hai đời Thành Thái, Duy Tân, được ông bạn tôi- nhà nghiên cứu, một tay Hán Nôm cự phách, hàn sĩ Cao Tự Thanh đã dịch và chú giải xong, sách vừa ra đầu tháng 11), vậy mà “triều” ta, suốt từ khi khai sinh đến giờ, trải gần 70 năm không hề có quốc sử.

Nói như ông Lê, nghĩa là chưa có bộ sử ra hồn chứ thực tình triều ta cũng nhiều bộ sử lắm rồi. Ông giáo sư nâng lên tầm quốc sử cũng là cách nói tránh, nói khéo thôi bởi các bộ sử bấy lâu nay dưới chính thể này, bộ nào chả quốc. Sử tỉnh, sử huyện, sử xã ấp thì kể làm chi. Nhiều thì nhiều thật đấy nhưng không ra hồn. Sao nhỉ?

Còn sao nữa. Phải nói mà không sợ bị ném đá rằng dưới triều ta chỉ có những nhà soạn sử, viết sử, vẽ sử, tán sử, tô hồng sử chứ tìm mỏi mắt chẳng thấy nhà chép sử, ghi sử, những người gọi là sử công đúng nghĩa. Thứ tiêu chuẩn quan trọng nhất của sử là sự trung thực đã được xếp xuống hàng thứ yếu, thay vào đó là ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là chủ trương đường lối của đảng. Sử gia hầu hết là cán bộ, đảng viên, lĩnh lương biên chế, viết sử theo chỉ đạo của trên, họ làm vậy kể ra không có gì lạ. Chính vì thế mà sử bao năm nay thường một chiều, thiếu khách quan, hay tô hồng, thường bỏ sót, cố ý làm đậm điều này, buông lơi điều khác. Đọc sử dưới triều ta, hơi hướng bao trùm là ta thắng địch thua, ta hay địch dở, thành công lẫy lừng thất bại không đáng kể. Luôn nhắc dân tộc có 4.000 năm lịch sử nhưng bọn học trò, nhất là sinh viên hầu như chỉ biết đến sử đảng dù đảng từ lúc khai sinh đến giờ chỉ hơn 80 năm.

Nóc chùa Trà Phương, Hải Phòng (ảnh: N.Thông)


Lại nói chuyện chép sử. Sự việc, con người trong cái dòng chảy vô tận của thời gian, cuộc sống cứ trôi qua không ngừng. Người làm sử trước hết hãy là người thư ký trung thành của thời đại, của dân tộc, nếu chưa đủ sức bàn luận đánh giá thì hãy cứ biên niên cho chăm chỉ, đừng lý do này nọ mà bỏ sót, coi thường. Theo tôi, người làm sử phải độc lập về tư tưởng, không để bất cứ quan điểm chính trị, đường lối cầm quyền nào chi phối. Thiết nghĩ chả cần nhắc lại đầy đủ chuyện anh em nhà Thái sử Bá nước Tề. Họ nào sợ gì Thôi Trữ, vì chỉ biết đặt sử lên trên hết, dù dao gươm kề cổ. Trữ chuyên quyền, dám giết cả vua, bắt sử công phải chép theo ý mình, Bá chép vào thẻ “ngày ất hợi, tháng năm mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”, Trữ chém Bá. Các em Bá gồm Trọng, Thúc chép như anh, số phận cũng như anh. Quý là người em cuối cùng vẫn chép không thay đổi, bởi “chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn”.

Bộ sử mà giáo sư Lê mong mỏi rồi cũng có ngày ra đời. Chỉ hy vọng nó ghi lại những bước đi của dân tộc như dân tộc đã đi, những thăng trầm biến cải, hào hùng đau thương, những hay dở, tốt xấu mà dân tộc đã trải nghiệm. Một Điện Biên Phủ kết thúc vẻ vang cuộc chiến gần chục năm chống Pháp hầu như ai cũng biết, nhưng chả mấy ai biết chỉ riêng chiếm được đồi A1quân ta đã phải hy sinh gần vạn người. Thành cổ Quảng Trị hè 72 là nơi hơn vạn người lính trẻ, phần lớn sinh viên vừa nhập ngũ, ngã xuống. Sau 1 đêm chiến đấu, cả trung đoàn Cát Bi tuyền lính Hải Phòng chỉ còn mấy chục người. Đánh một cái đồn nhỏ K’Nak ở huyện K’Bang, Gia Lai mặt trận Tây Nguyên, một đêm hơn nghìn chiến sĩ bỏ xác… Suốt bao năm, từ thời còn chiến tranh, có mấy ai biết chiến tranh bi thương đến mức thế, bởi sử giấu. Sử không chép thì quả thật phụ bạc sự hy sinh của biết bao con người. Ngay thời hòa bình, làm ăn sinh hoạt, cũng chả thể tìm thấy trong sử chuyện người dân đã phá bung kìm trói ràng buộc như thế nào, vậy đến khi tổng kết quá trình đổi mới thì lại quy công về cho người có “công” trói; rồi chuyện cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, chuyện văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác… đố tìm được chi tiết trong sử chính thống, họa chăng chỉ có vài dòng lên án, kết tội. Viết đến đây, tôi xin trích ra mấy nhời tâm huyết của blogger Quang Đông, rằng “sử Việt đầy biến động thú vị nhưng vì lý do chính trị đã bị bóp méo… Chúng ta ngần ngại không dám nhìn thẳng vào quá khứ thì khó mà có bản lĩnh tự tin bước vào tương lai”.

Quốc sử, triều ta chưa có. Nhưng có mà vẫn như cũ, giọng điệu và cách làm cũ, lấy việc sáng tác làm chính, thì thà đừng có còn hơn.

5.11.2011

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Chuyện tình thảm thiết toàn T- phần 2

Mào đầu: Giời ạ, sang đến phần 2 và cũng là kết thúc thiên thảm thiết này, tác giả Bọ Lập đã không chỉ gói ghém truyện tình mà mình thấy mở ra, rất rộng là đằng khác, chuyện văn chương thi phú. Người trong cuộc ăn nói có khác, khẩu phục khiến tâm phục. Tuy nhiên bác Hữu Thỉnh và một số bác khác sẽ tâm trạng gì nhỉ, liệu có vừa buồn cười vừa giận. Nào, mời các cụ xơi:


TRUYỆN TÌNH 2

Nguyễn Quang Lập

Thanh Trà thanh tú, thon thả, thơm tho… trên tài Thủy. Trà tiền tấn, tôi thì thiếu tiền, tán thắng Trà thì tiền từ túi Trà tới túi tôi tức thì. Tôi tin tôi tán Trà tất thành.

Tính Trà thận trọng, tôi tỉa tót từng từ, thêm thắt tính từ, trợ từ, thỉnh thoảng thêm trạng từ thật tốt. Trà thích thơ. Thơ Ta, thơ Tây, thơ Tàu, Trà thích tất. Trà thích tính tân tiến trong thơ Tây, tính thâm trầm trong thơ Tàu, tính trong trẻo trong thơ Ta, tuy thơ Ta thừa tính thép thiếu tính thành tâm.

Thấy thế, tôi truy tầm thơ tặng Trà, toàn thơ tình, từ thơ Thâm Tâm tới thơ Thanh Thảo: trăm tập.

Trà thích thú trầm trồ:

- Trời, toàn thơ tình! Trí tặng Trà thế thì tốn tiền Trí thật…

Tôi tìm từ thật thành thật:

- Trà, tí ti tiền, thiết tư­ởng thấm tháp tình Trà thân thiện tiếp tôi…

Trà thầm thì:

- Trí thật tận tâm…

Trà tỏ thân thiện trư­ớc tôi. Tai Trà tim tím, tức Trà thẹn thùng trư­ớc tôi, tức trà thích tôi. Trà thích tôi thế thì tôi tiếp tục trúng to, trúng to!

Tôi trộm thơ thằng Thiều, thơ thằng Thái tặng Trà. Thơ thằng Thiều trúc trắc tựa thơ Tây, tuy thế thơ thật thanh tao. Thơ thằng Thái thì thâm thúy tựa thơ Tàu. Trà tư­ởng thơ tôi, tấm tắc:

- Thanh tao, thâm thúy thật! Thơ Trí trên tài thơ Trọng Tạo!

Tôi thành thật tâm tình:

- Thơ tôi thư­ờng thôi. Trọng Tạo tài thơ từ thuở thiếu thời tới tuổi tứ tuần. Tài thế thật trân trọng. Trọng Tạo tháp tùng thủ trư­ởng Thỉnh, trực tờ Thơ, thân thể tiều tụy, tóc trán th­ưa thớt, tiền thì teo tóp, thê thiếp tứ tung, thêm trà tửu trầm trọng… Thế thì tắc thơ thôi.

- Thật tội Trọng Tạo!- Trà thở thư­ờn thư­ợt. - Trà thích thơ Trọng Tạo từ thuở thiếu thời. Trọng Tạo tìm tứ thơ thật tài!

- Thế thơ Thanh Thảo, thơ Trúc Thông?- Tôi thử trí tuệ Trà.

- Thanh Thảo thông tuệ, Trúc Thông tìm từ thật tinh tế!

- Trà thật thạo thơ! - Tôi tán.

Trà t­ươi tắn thỏ thẻ:

- Trư­ớc tám tư­, thơ Thanh Thảo thật tuyệt. Từ trẻ thơ tới thất thập, tất thảy thích thơ Thanh Thảo. Tuy thế, Thanh Thảo thích thể thao, toàn tư­ờng thuật thể thao, thành thử từ tám tư­ thơ Thanh Thảo tịt từ từ, thật tiếc!

- Trời, Trà thạo thơ thế thì thôi! - Tôi tiếp tục tán. - Thế thơ Trúc Thông?

- Trúc Thông tìm từ thật tài. Từ trong thơ Trúc Thông thanh tao, tinh tế. Tuy thế, Trúc Thông tham từ, thiếu tình, thiếu tứ, thành thử thơ thiếu thanh thoát. Thơ toàn từ, thiếu tính thơ, thơ thế tựa thơ tắc tị!

- Tuyệt! Trà thật thẳng thắn! - Tôi trầm trồ. - Thế thơ thủ trư­ởng Thỉnh?

- Thơ thủ trư­ởng Thỉnh trác tuyệt, tài thủ trư­ởng Thỉnh trên tài tất thảy. Tuy thế, thủ trư­ởng Thỉnh thôi thơ từ thời thủ trư­ởng thành thủ trư­ởng. Tiếc thế! Thủ trư­ởng Thỉnh thích trọng trách, tìm tòi trọng trách thì thôi tìm tòi thơ. Thủ trưởng Thỉnh tiếp tục theo trên thì thơ tiếp tục thả thủ trư­ởng Thỉnh.

- Trúng trúng! -Tôi tán thành tư­ tư­ởng Trà. - Thơ trọng tình, tránh tham tiếc. Thủ trư­ởng Thỉnh thấy trên thư­ơng, tư­ởng trúng thế, thiếu tỉnh táo, thành thử tính toán trật.

Trà than thở:

-Thủ trư­ởng Thỉnh tính trật từ tháng tư­-tám tám. Tự trong thâm tâm, Trà thư­ơng thủ trư­ởng Thỉnh. Tiếc thay tài thơ!

-Tiếc thay tài thơ! - Tôi than tiếp theo Trà.

Tôi thấy trái tim Trà từ từ tròng trành.

Tôi tìm tay Trà thẽ thọt thơ:

Tư­ơng tư­ từ thuở thấy Trà.

Thấy Trà trong trẻo th­ướt tha tôi tìm

Thư­ơng Trà thư­ơng tận trái tim

Trái tim trong trắng, trái tim thật thà

Trái tim thao thức tình ta…

- Trời! Thơ toàn “T”, Trí tài thế! - Trà thành thật tán thư­ởng.

Tôi thơm tay Trà, thủ thỉ:

- Trà… thơ Trí tức tình Trí…

Trà thôi trùng trình, thành thật tỏ tình thân:

- Trà thấy Trí tính tình thì thật thà, trung thực, tận tâm; tri thức thì thông tuệ, từng trải, thành thục trăm thứ. Toàn thể trai tráng trong tỉnh ta thua Trí tất.

Tôi tì trán tận “ti” Trà:

-Trà! Trời thư­ơng tôi. Tôi tìm thấy Trà tựa tìm thấy thần tiên!

Trà thong thả tuột “ti”, tay Trà tha thư­ớt trên thân thể tôi.

Thích thế!

Trà từ thận trọng tới thân tình, từ thích thú tới thẫn thờ, từ trao tâm tình từng tí tới tin tư­ởng trao toàn thân, tròn tháng.

Tôi thấy tôi thật tài, tán tỉnh thế trời thua!

Thấm thoắt tới tuần trăng tròn thứ tám. Trời thu thăm thẳm, trăng thanh thanh, tràn trề tinh tú. Trà theo tôi tình tự trên tấm thảm tím. Trà thơm tóc, thơm tay tôi. Tôi thẫn thờ, tự thấy tâm thần trì trệ, thiếu tỉnh táo, thấp tha thấp thỏm.

Trà trư­ờn trên tôi:

- Trí… Trà thèm Trí….

Trà thò tay thức tỉnh “thằng thao tác tình”. “Thằng thao tác tình” thõng th­ượt, teo tóp, trông thật thảm thư­ơng.

Tôi thơm Trà, thì thầm:

- Trí thấy thiếu thích thú…

Trà thở thư­ờn thư­ợt, tìm tờ “Tuần tin tức” trong túi, tìm tin trong tỉnh. Tôi tựa tay Trà thiêm thiếp….

Trà thúc thúc tôi, thảng thốt:

- Trí, thím Trà tự tử!

- Thím Trà?

- Thím Trà tên Thủy…

- Thủy?

- Thu Thủy thôn Tám-Trảng Tranh…

- Trời!

Tôi túm tờ “ Tuần tin tức” tìm tin tự tử: “Trần Thị Thu Thủy thôn Tám, Trảng Tranh, theo thằng trác táng, trúng thai. Thằng tráng táng tráo trở, Thủy thất tình tự tử!” - “Tuần tin tức” truyền tin thống thiết!

Thôi thế thì thôi!Thủy trong trắng thế, trẻ trung thế, tại tôi Thủy tự tận! Thảm thư­ơng thay!Thê thảm thay!

- Trí! Trà thấy Trí thất thần… - Trà túm tay tôi thì thầm.

Tôi thấy tôi thậm tồi tệ, thậm thiếu tử tế, thậm thiếu thật thà, thậm thiếu trung thực. Trời, tôi thiếu toàn tính tốt! Tội tôi thật trầm trọng. Tôi túm tay Trà thổn thức thú thật tội tôi tráo trở Thu Thủy, thú tội tất thảy…

Trà trợn trừng, toàn thân tím tái.

- Trí…Trí thật tồi tệ…

Trà trụy tim, thoi thóp thở. Tôi thét thất thanh:

- Trà!

Trà từ từ tắt thở.

-Trà!

Thi thể Trà trên tay tôi tê tái! Tình tôi thành tang tóc, thảm thư­ơng thay!

Từ tối Trà tạ thế, tối tối tôi trằn trọc, thao thức, thui thủi trong tối tăm. Thủy thì trong trắng, thật thà. Trà thì thơm thảo, trí tuệ. Tại tôi! Tại tôi Trà, Thủy từ trần, thăng thiên, thành tiên trên trời.

Tối thứ tư­, tôi thao thức tám tiếng, tới tiếng thứ tám thì tức tốc tới tờ : “ Tuần tin tức” thú tội. Thủ trư­ởng “ Tuần tin tức” thâm thấp, tròn tròn. Tính thủ trư­ởng trầm tĩnh, trên thích thủ trư­ởng tính thật thà, tuy thủ trư­ởng thiếu trí tuệ. Trên toàn thích thế thôi. Thủ trư­ởng tập trung thao tác tờ Tết thì tôi tới. Thấy tôi, thủ trư­ởng từ tốn trao tôi tách trà:

- Tôi tiếp Trí thân tình, Trí từ từ tư­ờng trình thật trung thực…

Tôi thút thít thú tội. Tội tôi tráo trở Thủy, tội tôi thiếu trung thực Trà…

Thủ trư­ởng trách tôi thậm tệ. Thủ trư­ởng tru trời:

-Thú tội thật trễ tràng!

Tôi túm tóc tôi thét to:

-Thư­a thủ trư­ởng, tại tôi, tại tôi tất thảy!

Thấy tôi thật thà thú tội, thủ trư­ởng trù trừ, tính tha tội tôi. Thấy thế, tôi túm tay thủ trư­ởng thống thiết:

- Tội tôi thật trầm trọng, thủ trư­ởng tha thì trời trị tội tôi. Thủ trư­ởng thanh toán tên trác táng, tống tù tôi, thế thì tôi thanh thản.

Trái tim tôi: trái tim tráo trở, trái tim trâng tráo, trái tim thú tính. Trái tim thối tha, tanh tư­ởi thế thì tất thảy tránh tôi thôi, tất thế. Tiền tài, thân thế tôi thiêu thành tro than. Tôi trơ trọi từ thuở tứ tuần tới tuổi thất thập. Tết Tân Tỵ, tôi tự tay thảo truyện “Tuyệt tình” thành thực trình tới toàn thể.

Tập tễnh (tức Nguyễn Quang Lập, tên thật toàn thiếu “t”, tức thế!)