Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Chuyện khẩu hiệu (kỳ 5)

Như đã nói ở những phần trước, giai đoạn nào trong thời cách mạng vô sản cũng vậy, sử dụng khẩu hiệu được coi là sách lược, là nghệ thuật, là đỉnh cao của cuộc tuyên truyền, vận động quần chúng. Những khẩu hiệu về cụ Hồ mà chế độ đề ra đã khiến đông đảo nhân dân hăng hái đi theo cụ, học tập cụ, làm như lời cụ dạy. Chỉ riêng câu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” do cụ phát ngôn được tôn thành khẩu hiệu đã lôi cuốn được hàng chục triệu người xả thân, không tiếc máu xương cho cuộc chiến tranh giành độc lập.

Sau khi “Người” qua đời năm 1969, dưới sự lãnh đạo của đảng, nhất là ban tuyên giáo, đã ra đời thêm những câu khẩu hiệu nữa về cụ Hồ, khiến cộng đồng xã hội luôn có cảm giác cụ mất nhưng vẫn như còn, cụ luôn bên cạnh mọi người. Lúc đầu là câu “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Câu này hồi cuối năm 1969 và những năm nửa đầu thập niên 1970, đi bất cứ đâu cũng bắt gặp. Hồi ấy chưa có lăng cụ, nên chính quyền và dân chúng tưởng nhớ đến cụ bằng khẩu hiệu. Cứ nhìn vào câu khẩu hiệu ấy là tự dưng có cảm giác “Bác vẫn trên cao vẫy gọi mình”.

Câu nữa về cụ Hồ cũng nổi tiếng không kém, được đưa ra vào năm 1990 khi chế độ khơi dậy phong trào học tập tấm gương cụ. Năm này kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ, nhưng cũng thời điểm đội ngũ cán bộ nẩy sinh nhiều hư hỏng, thoái hóa, không còn xứng đáng là người vừa hồng vừa chuyên như cụ từng căn dặn nữa. Câu khẩu hiệu “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” từng xuất hiện hồi thập niên 1980 nay được đổi thành “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Không dàn trải sống, chiến đấu, lao động… nữa, giờ chỉ là học tập và làm theo thôi. Mà cũng không học, không theo nhiều thứ, chỉ đạo đức thôi. Những người cầm đầu bộ máy cai trị đã thấy lỗ hổng nguy hiểm và cũng là mối nguy cực kỳ tai hại: sự tha hóa của cán bộ về đạo đức. Tài mấy đi chăng nữa, không có đức thì cũng vứt. Chế độ tồn hay vong cũng ở chỗ này. May còn biểu tượng cụ Hồ, lấy ra làm tấm gương để học. Chỉ có điều vài chục năm trước, sự học ấy còn có ý nghĩa, hiệu quả, chứ càng ngày cán bộ càng hỏng, học chẳng vào, chẳng mấy tác dụng. Điều thấy rõ nhất là trung ương có cả ban chỉ đạo việc học theo gương cụ, tới thời điểm này vẫn tổ chức học hăng say, nhưng chưa bao giờ cán bộ tham nhũng, đổ đốn, tha hóa đạo đức như bây giờ. Những vụ như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Ngô Văn Tuấn… ngày càng nhiều. Cụ cũng không cứu nổi.

Cộng sản là lực lượng chống phong kiến, đả Khổng Tử (biểu tượng của chế độ phong kiến) tợn nhất nhưng chính họ lại đi vào vết mòn của Khổng, chủ trương lấy lễ để cai trị và xây dựng con người, xem thường luật pháp. Không lo soi sáng pháp chế, không lấy luật pháp làm sự nghiêm minh, xây dựng kỷ cương, dùng người tài giỏi… thì dù có phát động đội ngũ học tấm gương đạo đức của cụ Hồ suốt đời cũng chỉ tạo ra những tầng lớp, thế hệ lãnh đạo (gọi chung là cán bộ, đảng viên) đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật, rốt cuộc cũng chỉ là đồ bỏ đi, dân nước chẳng trông đợi được gì. (còn tiếp)

Nguyễn Thông

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Chuyện khẩu hiệu (kỳ 4)

Khi nước ta chưa phổ biến internet, chưa có mạng xã hội, lùi hơn một chút nữa là chưa có tivi, thì tuyên truyền bằng khẩu hiệu có lẽ chỉ chịu đứng sau đài phát thanh. 

Đài do nhà nước nắm giữ, cai quản (tới giờ vẫn thế, vẫn độc quyền), cứ 5 giờ rưỡi sáng, cái loa kim trên tường ọ ẹ, khởi đầu bằng chương trình tập thể dục “động tác thở, một hai ba bốn, năm sáu bảy tám, hai hai ba bốn, năm sáu bảy tám…”; tới động tác điều hòa là xong. Đúng 6 giờ, sau tín hiệu báo bằng 5 tiếng tút và 1 tiếng tít kéo dài thì trỗi lên nhạc Diệt phát xít, rồi “đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” giọng trầm ấm của phát thanh viên Việt Khoa. Cứ thế, kéo tới tận tối mịt, đài nhà nước cứ rỉ rả rót vào tai dân chúng đủ mọi chủ trương, đường lối, chính sách, mệnh lệnh, ca ngợi ta “đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”, phe ta đang ào ào bão táp cách mạng, phe đế quốc đang hung hăng cùng đường giãy chết… Các cán bộ thỉnh thoảng lại đi từng nhà nhắc nhở “Nghe đài đọc báo của ta/Đừng nghe đài địch bàn ra tán vào/Tin đài tin báo của ta/Đừng nghe tin địch ba hoa nói càn”, còn kêu đám thanh niên viết cả 4 câu thơ tuyệt ngôn ấy lên tường để đồng bào giác ngộ “ta bước tới chỉ một đường cách mạng”.

Ấy, đài đã làm nhiệm vụ tuyên truyền ghê gớm thế, nhưng hỗ trợ cho nó còn có biết bao nhiêu khẩu hiệu. Ở chừng mực nào đó, khẩu hiệu đánh vào lòng người hiệu quả hơn cả đài báo, nhất là khi điều kiện vật chất nghèo đói, thiếu thốn, loa đài không tới được mọi nơi, chứ nói gì báo phải mua bằng tiền. Còn khẩu hiệu, chỗ nào cũng đến được, ngự được, ngay cả trên tường chuồng lợn, bờ giếng, thân cây to, trên sườn núi. Chỗ nào có “sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân” thì chỗ ấy có khẩu hiệu.

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Kể lại chuyện xưa nhân một chuyện mới

PHẠM QUANG LONG

Hai hôm nay trên mạng xã hội dày đặc tin về chương trình biểu diễn của đoàn Nghệ thuật Nội Mông ở Nhà hát Lớn vào tối 19/1/2018, đúng vào ngày 44 năm trước Trung Quốc nổ súng xâm lược Hoàng Sa của chúng ta. Rất nhiều căm phẫn. Rất nhiều lo lắng, bực bội. Sáng nay, qua FB của anh Xuân Đức thấy buổi biểu diễn vì lý do kỹ thuật đã bị hoãn. Thở phào vì ít ra cái điều tệ hại ấy đã không diễn ra vào cái ngày nó không được phép này.

Nhân chuyện ấy, nhớ lại hai chuyện:

Chuyện thứ nhất: trong "Sống mãi với Thủ đô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có kể chuyện trên thành Cửa Bắc có một lỗ thủng do đại bác của tàu chiến Pháp khi xâm lược Hà Nội lần 1 bắn vào. Người Hà Nội mỗi khi đi qua nơi này đều thấy nhục và căm giận quân xâm lược. Một hôm tất cả những người đi qua thành Cửa Bắc đều ngạc nhiên vì không còn thấy vết thủng nữa. Có ai đó đã dùng gạch, vữa xoá đi vết thủng đó rồi. Nhưng hôm sau thì cái lỗ ấy lại như cũ. Có ai đó lại dỡ chỗ vá ra, cho nó hiện hình như cũ. Người lấp vết thủng, chắc là một công dân tử tế của HN đêm đến lại mang gạch, vữa lấp đầy lỗ thủng. Trước khi rút, ông còn để lại tờ giấy viết đại ý: lỗ thủng này là dấu vết ô nhục. Tôi đã lấp đi. Xin vị nào nghĩ đến nỗi nhục này, đừng moi lên nữa. Nhưng hôm sau đi qua lại thấy người nào đã moi hết chỗ đã lấp, anh ta giận lắm. Đêm xuống, anh ta lại mang gạch vữa leo lên định lấp kín vết đạn thì thấy ở đó có tờ giấy viết: ông có lòng tự trọng, không muốn thấy nỗi nhục chúng ta đang chịu là phải. Nhưng ông tưởng lấp đi thì không nhục nữa ư? Phải để đó cho mọi người thấy nỗi nhục này mà nghĩ cách rửa nhục. Ông đồng tình với tôi thì đừng làm cái chuyện giấu nhục nữa. Ngẫm thấy người kia đúng, anh ta rút lui và cái lỗ thủng ấy còn đến bây giờ.

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Giành công, chối tội

Viết điều dưới đây, tôi sực nhớ câu thơ của nhà thơ Việt Phương, có ý là "Những gì tốt đẹp là thuộc về tao, những gì xấu xa thì thuộc về mày".

Điều này cần phải nói ra bởi tòa đã ép ông Thăng quá đáng. Sau khi ông Thăng khai rằng việc đầu tư nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 làm theo chủ trương của Bộ Chính trị, theo Kết luận số 41 của cơ quan siêu quyền lực tối cao này, vị đại diện Viện kiểm sát liền phản bác rằng Bộ Chính trị không hề chỉ đạo như thế, Kết luận 41 chỉ định hướng phát triển ngành dầu khí nước ta, chứ không hề nhắc gì cụ thể tới nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, đó là do ông Thăng tự ý làm.

Nói thế mà nói được. Bộ Chính trị đưa ra đường lối, phương hướng, chứ có bao giờ đi vào cụ thể ABCD... làm cái nọ cái kia. Thăng đã làm theo chủ trương, dẫn dắt của Bộ Chính trị, tất nhiên Thăng có cái quá đà, lệch chuẩn, sai, nhưng Bộ Chính trị không thể xoa tay vô trách nhiệm thế được. Viện kiểm sát nó sợ uy quyền, nó nịnh lãnh đạo là chuyện của nó, còn Bộ Chính trị thì phải đàng hoàng, thẳng thắn nhận cái sai của mình, không thể cố tình lánh mặt, làm lơ. Thăng có tội của Thăng, phải gánh hình phạt, còn Bộ Chính trị chả nhẽ có công?

Xứ này lâu nay có lệ lạ. Nếu đạt thành công, không có vấn đề gì sai sót, thì vội vơ đó là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể của Bộ Chính trị, của các cá nhân ABC... Vụ dầu khí cũng vậy, làm tốt thì các quan trên lại chả nhào ra giành giật hết công lao về mình, chứ ông Thăng cũng chả tới phần. Khốn nạn là ở chỗ ấy.

Nguyễn Thông

Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Chuyện ma

Đã dặn lòng là mình chả nên có ý kiến gì, dẫu sao thì hồi xưa mình cũng từng có cảm tình với con người hành động ấy. Thực ra thì cũng định khuyên, rằng sự đời đã trót thế rồi, thân làm thân chịu, nhất là không phải không có cái sai, thế thì hãy cứng rắn lên, hiểu luật nhân quả, đừng sụt sùi khóc lóc, than thở nọ kia, làm ma này ma nọ. Ma cũng là người, trước khi làm ma thì đã làm người, ai cũng phải luân hồi vào vòng ấy.

Rồi sực nhớ, hồi bé thường được nghe chuyện ma. Trong óc trẻ thơ, ma dường như có thật, thế giới ma tồn tại cạnh thế giới người sống. Đó là cõi âm, phảng phất cùng cõi dương. Ngày để cho người, còn đêm dành cho ma.

Quê tôi (làng Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) những năm 60-70 chưa có điện, cứ sau tầm gà lên chuồng là đã tối mịt. Ấy là lúc giao thời giữa hai thế giới người - ma, cõi dương - cõi âm. Một cuộc chuyển giao tự giác. Người lui vào trong nhà, thắp đèn lên để tiếp tục cuộc sinh hoạt cho tới khi mệt mỏi, đi ngủ, trả lại không gian mênh mông bên ngoài cho ma quỷ, cho linh hồn, cho các vong.

Tới bây giờ, sống hơn nửa đời người (ấy, cứ theo lối công thức trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày cho một kiếp người), tôi vẫn không hiểu sao hồi ấy người nhớn hay kể chuyện ma đến thế, ma có nhiều đến thế. Sau cứ tìm lời giải dần, nào là do vừa qua cuộc chiến tranh chống Pháp, mới hòa bình được vài năm lại tiếp cuộc chiến đấu với Mỹ, người chết hơi nhiều; do đời sống nghèo khổ, u tối, màn đêm bao bọc, thôn làng cứ sau khi mặt trời lặn là rơi vào tối tăm, lạnh lẽo, vắng tiếng người; cũng còn do người nhớn hay dọa ma trẻ con để chúng nó ở nhà học bài, đừng đàn đúm chơi bời lêu lổng… Có ma hay không, tôi không dám chắc, chỉ biên ra đây điều mình biết.

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018

Chuyện khẩu hiệu (kỳ 3)

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại ở miền Bắc, riêng tỉnh Hải Phòng quê tôi (thời ấy chỉ là tỉnh) còn phải chờ thêm 300 ngày nữa đợi những lính Pháp cuối cùng rút hết mới thực sự chấm dứt chiến tranh. Lúc ấy tôi mới được 1 tháng tuổi, lớn lên cùng với quê Phòng giải phóng của tôi. Những điều biên ra đây cũng như trong 2 bài trước đều là những gì “mắt thấy tai nghe”, chứng kiến tận mắt, chả hề bịa đặt. Những câu khẩu hiệu tôi kể chính tôi đọc trên những bức tường, trên bia thông tin, nay tường - bia đã đổ rồi, bị phá rồi, nhưng chúng còn in trong đầu.

Hồi cả miền Bắc thành lập hợp tác xã nông nghiệp, chả biết từ đâu, do ông Tố Hữu hay cơ quan tuyên giáo đề xuất, nơi đâu cũng vậy, khắp mọi thôn làng, trên mọi bức tường thôn quê, đập vào mắt mọi người câu khẩu hiệu “Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”. Nông dân có thể không biết chữ, nhưng cứ nhìn mãi câu này cũng đọc được vanh vách. Tôi đồ rằng có nhẽ nó bắt nguồn từ thơ của ông Tố Hữu, ông này ca ngợi hợp tác khiếp lắm, “dân có ruộng dập dìu hợp tác/lúa mượt đồng ấm áp làng quê/chiêm mùa cờ đỏ ven đê/sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn/màu áo mới nâu non nắng chói/mái trường tươi roi rói ngói son/đã nghe nước chảy lên non/đã nghe đất chuyển thành con sông dài/đã nghe gió ngày mai thổi lại/đã nghe hồn thời đại bay cao/núi rừng có điện thay sao/nông thôn có máy làm trâu thay người/đời hết kẻ sống lười ăn bám/đời của ai dũng cảm hy sinh/những người lao động quang vinh/chúng ta làm chủ đời mình từ đây”. Đại loại cứ rỉ rả như thế, mật ngọt chết ruồi, lừa rất siêu, nông dân say “chết” như rạ.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Chuyện khẩu hiệu (kỳ 2)

Đọc xong bài 1, không ít bạn bảo tôi sao chưa thấy anh (bác) đưa ra câu khẩu hiệu cụ thể nào, nói phải có sách, mách có chứng chứ. Vâng ạ, chính tôi cũng chủ ý dành những kỳ sau cho nhiều câu khẩu hiệu. Có những câu nổi tiếng một thời, nhắc tới nó là hình dung ra ngay được một chặng đường lịch sử, một khung cảnh xã hội.

Phải nói rằng thời chiến tranh xuất hiện nhiều khẩu hiệu nhất. Ấy là tôi đang nói ở miền Bắc, do những người cộng sản nắm quyền, chứ từ vĩ tuyến 17 trở vào, suốt 21 năm (1954-1975) rất ít nghe nói tới khẩu hiệu. Dường như khẩu hiệu là sự độc quyền, việc sử dụng khẩu hiệu là sở trường của phe cách mạng, phe xã hội chủ nghĩa. Đọc những bản tổng kết lịch sử cách mạng do họ soạn ra, trong phần nguyên nhân thắng lợi hoặc phần bài học lịch sử, luôn có gạch đầu dòng nói rằng họ đã có sách lược đúng đắn về khẩu hiệu, việc đề ra những khẩu hiệu thích hợp, linh hoạt thay đổi khẩu hiệu khi tình hình biến chuyển, phát huy được sức mạnh khẩu hiệu để “cổ vũ toàn dân toàn quân thực hiện những nhiệm vụ cách mạng”… Với người cộng sản, khẩu hiệu cũng quan trọng như lá cờ trận, xe tăng, đại bác, súng AK, thậm chí như những binh đoàn.

Trong đời tôi, nhất là hồi tuổi thơ và tuổi thanh niên, có những câu khẩu hiệu lọt vào mắt, in vào trí não, bởi đi đâu cũng gặp, khi ngủ cũng chập chờn thấy nó. Nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất là 2 câu: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và “Vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”. Đó là khẩu hiệu tầm quốc gia, giống như thứ cương lĩnh chỉ đạo cộng đồng, như kèn trận thôi thúc giục giã. Khẩu hiệu vừa là mục đích, phương châm, vừa là động lực, và cũng là sự ràng buộc, bắt buộc. Ai tách ra khỏi định hướng ấy, sẽ bị coi là “có vấn đề”, là chống đối, phản động. Chính vì vậy, cũng dễ hiểu vì sao sức người sức của trong thời chiến tranh được huy động tối đa, rốt ráo, chặt chẽ như ta đã biết.