Nói đến khẩu hiệu mà quên nhắc tới đảng là một sai lầm. Không những đảng chủ trương phải sử dụng khẩu hiệu mọi lúc mọi nơi, phát huy sức mạnh của khẩu hiệu, coi khẩu hiệu là một trong những nguyên nhân góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng, mà chính đảng còn là đối tượng hàng đầu của khẩu hiệu. Tất nhiên khẩu hiệu của đảng có nội dung về chính bản thân đảng thì chỉ tập trung vào sự ca ngợi, tung hô. Những gì hay nhất, đẹp nhất, từ ngữ ấn tượng nhất đều được sử dụng trong những câu khẩu hiệu về đảng.
Từ trước tới nay, câu khẩu hiệu về đảng nổi tiếng nhất là câu có phần đuôi “quang vinh muôn năm”. Phải viết như vậy bởi phần đầu bị đổi thay theo từng giai đoạn, từng thời kỳ, theo tên gọi khác nhau của đảng. Khi tôi còn nhỏ, đi đâu cũng thấy câu “Đảng lao động Việt Nam muôn năm”, sau chả biết có vị nào hay chữ đã thêm từ “quang vinh” vào nên thành câu hoàn chỉnh “Đảng lao động Việt Nam quang vinh muôn năm”. Rồi đến khi đảng đổi tên, khẩu hiệu đổi theo, thành “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”, câu ấy còn sống khỏe tới giờ. Khi nào đảng đổi tên thì lại tính tiếp.
Gần như có một quy định bắt buộc (tôi nghĩ thế thôi bởi không dính gì tới đảng) là mọi hội trường đều phải treo câu khẩu hiệu này ngay nơi trang trọng nhất, thường là trên đỉnh sân khấu. Chưa bao giờ tôi thấy cái hội trường nào ở xứ ta vắng câu khẩu hiệu trứ danh này. Phải khen cho ai đã đặt ra quy định ấy bởi hội trường là nơi tập trung đông người nhất, cứ treo lên đó sẽ mưa dầm thấm lâu, không hô cũng thầm phải hô bởi mắt không thể không nhìn.
Tôi biết trường hợp người quen làm cán bộ cỡ vừa vừa, tổ chức đám cưới cho con, mượn được cái hội trường cơ quan. Thì lúc đời sống còn khó khăn, thuê nhà hàng hoặc trung tâm tiệc cưới khá tốn kém nên được hội trường như vậy là ngon quá rồi. Đám cưới vui vẻ, cô dâu chú rể chụp ảnh tíu tít. Chỉ có điều anh thợ chớp ảnh không được dặn dò trước nên những tấm ảnh quan trọng nhất của lễ cưới, nhất là lúc quan viên hai họ đứng trên sân khấu, rồi cô dâu chủ rể cắt bánh, rót rượu làm lễ… đều có dòng chữ khẩu hiệu “muôn năm” kia. Chú rể là đứa thanh niên kiểu mới, thấy ảnh như vậy thì cứ cằn nhằn, bảo đám cưới chứ có phải lễ kết nạp đảng đâu mà lôi khẩu hiệu vào. Cũng không trách ông thợ ảnh được bởi ai bảo không quán triệt trước. Chẳng nhẽ làm đám cưới lại. Nhiều năm sau, thỉnh thoảng tôi gặp lại nó, hỏi đùa ảnh cưới của mày còn không hở cháu, nó cười nhăn, cháu bỏ cả rồi, may mà vợ cháu nó cũng thông cảm.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện khẩu hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện khẩu hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018
Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018
Chuyện khẩu hiệu (kỳ 5)
Như đã nói ở những phần trước, giai đoạn nào trong thời cách mạng vô sản cũng vậy, sử dụng khẩu hiệu được coi là sách lược, là nghệ thuật, là đỉnh cao của cuộc tuyên truyền, vận động quần chúng. Những khẩu hiệu về cụ Hồ mà chế độ đề ra đã khiến đông đảo nhân dân hăng hái đi theo cụ, học tập cụ, làm như lời cụ dạy. Chỉ riêng câu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” do cụ phát ngôn được tôn thành khẩu hiệu đã lôi cuốn được hàng chục triệu người xả thân, không tiếc máu xương cho cuộc chiến tranh giành độc lập.
Sau khi “Người” qua đời năm 1969, dưới sự lãnh đạo của đảng, nhất là ban tuyên giáo, đã ra đời thêm những câu khẩu hiệu nữa về cụ Hồ, khiến cộng đồng xã hội luôn có cảm giác cụ mất nhưng vẫn như còn, cụ luôn bên cạnh mọi người. Lúc đầu là câu “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Câu này hồi cuối năm 1969 và những năm nửa đầu thập niên 1970, đi bất cứ đâu cũng bắt gặp. Hồi ấy chưa có lăng cụ, nên chính quyền và dân chúng tưởng nhớ đến cụ bằng khẩu hiệu. Cứ nhìn vào câu khẩu hiệu ấy là tự dưng có cảm giác “Bác vẫn trên cao vẫy gọi mình”.
Câu nữa về cụ Hồ cũng nổi tiếng không kém, được đưa ra vào năm 1990 khi chế độ khơi dậy phong trào học tập tấm gương cụ. Năm này kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ, nhưng cũng thời điểm đội ngũ cán bộ nẩy sinh nhiều hư hỏng, thoái hóa, không còn xứng đáng là người vừa hồng vừa chuyên như cụ từng căn dặn nữa. Câu khẩu hiệu “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” từng xuất hiện hồi thập niên 1980 nay được đổi thành “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Không dàn trải sống, chiến đấu, lao động… nữa, giờ chỉ là học tập và làm theo thôi. Mà cũng không học, không theo nhiều thứ, chỉ đạo đức thôi. Những người cầm đầu bộ máy cai trị đã thấy lỗ hổng nguy hiểm và cũng là mối nguy cực kỳ tai hại: sự tha hóa của cán bộ về đạo đức. Tài mấy đi chăng nữa, không có đức thì cũng vứt. Chế độ tồn hay vong cũng ở chỗ này. May còn biểu tượng cụ Hồ, lấy ra làm tấm gương để học. Chỉ có điều vài chục năm trước, sự học ấy còn có ý nghĩa, hiệu quả, chứ càng ngày cán bộ càng hỏng, học chẳng vào, chẳng mấy tác dụng. Điều thấy rõ nhất là trung ương có cả ban chỉ đạo việc học theo gương cụ, tới thời điểm này vẫn tổ chức học hăng say, nhưng chưa bao giờ cán bộ tham nhũng, đổ đốn, tha hóa đạo đức như bây giờ. Những vụ như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Ngô Văn Tuấn… ngày càng nhiều. Cụ cũng không cứu nổi.
Cộng sản là lực lượng chống phong kiến, đả Khổng Tử (biểu tượng của chế độ phong kiến) tợn nhất nhưng chính họ lại đi vào vết mòn của Khổng, chủ trương lấy lễ để cai trị và xây dựng con người, xem thường luật pháp. Không lo soi sáng pháp chế, không lấy luật pháp làm sự nghiêm minh, xây dựng kỷ cương, dùng người tài giỏi… thì dù có phát động đội ngũ học tấm gương đạo đức của cụ Hồ suốt đời cũng chỉ tạo ra những tầng lớp, thế hệ lãnh đạo (gọi chung là cán bộ, đảng viên) đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật, rốt cuộc cũng chỉ là đồ bỏ đi, dân nước chẳng trông đợi được gì. (còn tiếp)
Nguyễn Thông
Sau khi “Người” qua đời năm 1969, dưới sự lãnh đạo của đảng, nhất là ban tuyên giáo, đã ra đời thêm những câu khẩu hiệu nữa về cụ Hồ, khiến cộng đồng xã hội luôn có cảm giác cụ mất nhưng vẫn như còn, cụ luôn bên cạnh mọi người. Lúc đầu là câu “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Câu này hồi cuối năm 1969 và những năm nửa đầu thập niên 1970, đi bất cứ đâu cũng bắt gặp. Hồi ấy chưa có lăng cụ, nên chính quyền và dân chúng tưởng nhớ đến cụ bằng khẩu hiệu. Cứ nhìn vào câu khẩu hiệu ấy là tự dưng có cảm giác “Bác vẫn trên cao vẫy gọi mình”.
Câu nữa về cụ Hồ cũng nổi tiếng không kém, được đưa ra vào năm 1990 khi chế độ khơi dậy phong trào học tập tấm gương cụ. Năm này kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ, nhưng cũng thời điểm đội ngũ cán bộ nẩy sinh nhiều hư hỏng, thoái hóa, không còn xứng đáng là người vừa hồng vừa chuyên như cụ từng căn dặn nữa. Câu khẩu hiệu “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” từng xuất hiện hồi thập niên 1980 nay được đổi thành “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Không dàn trải sống, chiến đấu, lao động… nữa, giờ chỉ là học tập và làm theo thôi. Mà cũng không học, không theo nhiều thứ, chỉ đạo đức thôi. Những người cầm đầu bộ máy cai trị đã thấy lỗ hổng nguy hiểm và cũng là mối nguy cực kỳ tai hại: sự tha hóa của cán bộ về đạo đức. Tài mấy đi chăng nữa, không có đức thì cũng vứt. Chế độ tồn hay vong cũng ở chỗ này. May còn biểu tượng cụ Hồ, lấy ra làm tấm gương để học. Chỉ có điều vài chục năm trước, sự học ấy còn có ý nghĩa, hiệu quả, chứ càng ngày cán bộ càng hỏng, học chẳng vào, chẳng mấy tác dụng. Điều thấy rõ nhất là trung ương có cả ban chỉ đạo việc học theo gương cụ, tới thời điểm này vẫn tổ chức học hăng say, nhưng chưa bao giờ cán bộ tham nhũng, đổ đốn, tha hóa đạo đức như bây giờ. Những vụ như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Ngô Văn Tuấn… ngày càng nhiều. Cụ cũng không cứu nổi.
Cộng sản là lực lượng chống phong kiến, đả Khổng Tử (biểu tượng của chế độ phong kiến) tợn nhất nhưng chính họ lại đi vào vết mòn của Khổng, chủ trương lấy lễ để cai trị và xây dựng con người, xem thường luật pháp. Không lo soi sáng pháp chế, không lấy luật pháp làm sự nghiêm minh, xây dựng kỷ cương, dùng người tài giỏi… thì dù có phát động đội ngũ học tấm gương đạo đức của cụ Hồ suốt đời cũng chỉ tạo ra những tầng lớp, thế hệ lãnh đạo (gọi chung là cán bộ, đảng viên) đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật, rốt cuộc cũng chỉ là đồ bỏ đi, dân nước chẳng trông đợi được gì. (còn tiếp)
Nguyễn Thông
Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018
Chuyện khẩu hiệu (kỳ 4)
Khi nước ta chưa phổ biến internet, chưa có mạng xã hội, lùi hơn một chút nữa là chưa có tivi, thì tuyên truyền bằng khẩu hiệu có lẽ chỉ chịu đứng sau đài phát thanh.
Đài do nhà nước nắm giữ, cai quản (tới giờ vẫn thế, vẫn độc quyền), cứ 5 giờ rưỡi sáng, cái loa kim trên tường ọ ẹ, khởi đầu bằng chương trình tập thể dục “động tác thở, một hai ba bốn, năm sáu bảy tám, hai hai ba bốn, năm sáu bảy tám…”; tới động tác điều hòa là xong. Đúng 6 giờ, sau tín hiệu báo bằng 5 tiếng tút và 1 tiếng tít kéo dài thì trỗi lên nhạc Diệt phát xít, rồi “đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” giọng trầm ấm của phát thanh viên Việt Khoa. Cứ thế, kéo tới tận tối mịt, đài nhà nước cứ rỉ rả rót vào tai dân chúng đủ mọi chủ trương, đường lối, chính sách, mệnh lệnh, ca ngợi ta “đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”, phe ta đang ào ào bão táp cách mạng, phe đế quốc đang hung hăng cùng đường giãy chết… Các cán bộ thỉnh thoảng lại đi từng nhà nhắc nhở “Nghe đài đọc báo của ta/Đừng nghe đài địch bàn ra tán vào/Tin đài tin báo của ta/Đừng nghe tin địch ba hoa nói càn”, còn kêu đám thanh niên viết cả 4 câu thơ tuyệt ngôn ấy lên tường để đồng bào giác ngộ “ta bước tới chỉ một đường cách mạng”.
Ấy, đài đã làm nhiệm vụ tuyên truyền ghê gớm thế, nhưng hỗ trợ cho nó còn có biết bao nhiêu khẩu hiệu. Ở chừng mực nào đó, khẩu hiệu đánh vào lòng người hiệu quả hơn cả đài báo, nhất là khi điều kiện vật chất nghèo đói, thiếu thốn, loa đài không tới được mọi nơi, chứ nói gì báo phải mua bằng tiền. Còn khẩu hiệu, chỗ nào cũng đến được, ngự được, ngay cả trên tường chuồng lợn, bờ giếng, thân cây to, trên sườn núi. Chỗ nào có “sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân” thì chỗ ấy có khẩu hiệu.
Đài do nhà nước nắm giữ, cai quản (tới giờ vẫn thế, vẫn độc quyền), cứ 5 giờ rưỡi sáng, cái loa kim trên tường ọ ẹ, khởi đầu bằng chương trình tập thể dục “động tác thở, một hai ba bốn, năm sáu bảy tám, hai hai ba bốn, năm sáu bảy tám…”; tới động tác điều hòa là xong. Đúng 6 giờ, sau tín hiệu báo bằng 5 tiếng tút và 1 tiếng tít kéo dài thì trỗi lên nhạc Diệt phát xít, rồi “đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” giọng trầm ấm của phát thanh viên Việt Khoa. Cứ thế, kéo tới tận tối mịt, đài nhà nước cứ rỉ rả rót vào tai dân chúng đủ mọi chủ trương, đường lối, chính sách, mệnh lệnh, ca ngợi ta “đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”, phe ta đang ào ào bão táp cách mạng, phe đế quốc đang hung hăng cùng đường giãy chết… Các cán bộ thỉnh thoảng lại đi từng nhà nhắc nhở “Nghe đài đọc báo của ta/Đừng nghe đài địch bàn ra tán vào/Tin đài tin báo của ta/Đừng nghe tin địch ba hoa nói càn”, còn kêu đám thanh niên viết cả 4 câu thơ tuyệt ngôn ấy lên tường để đồng bào giác ngộ “ta bước tới chỉ một đường cách mạng”.
Ấy, đài đã làm nhiệm vụ tuyên truyền ghê gớm thế, nhưng hỗ trợ cho nó còn có biết bao nhiêu khẩu hiệu. Ở chừng mực nào đó, khẩu hiệu đánh vào lòng người hiệu quả hơn cả đài báo, nhất là khi điều kiện vật chất nghèo đói, thiếu thốn, loa đài không tới được mọi nơi, chứ nói gì báo phải mua bằng tiền. Còn khẩu hiệu, chỗ nào cũng đến được, ngự được, ngay cả trên tường chuồng lợn, bờ giếng, thân cây to, trên sườn núi. Chỗ nào có “sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân” thì chỗ ấy có khẩu hiệu.
Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018
Chuyện khẩu hiệu (kỳ 3)
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại ở miền Bắc, riêng tỉnh Hải Phòng quê tôi (thời ấy chỉ là tỉnh) còn phải chờ thêm 300 ngày nữa đợi những lính Pháp cuối cùng rút hết mới thực sự chấm dứt chiến tranh. Lúc ấy tôi mới được 1 tháng tuổi, lớn lên cùng với quê Phòng giải phóng của tôi. Những điều biên ra đây cũng như trong 2 bài trước đều là những gì “mắt thấy tai nghe”, chứng kiến tận mắt, chả hề bịa đặt. Những câu khẩu hiệu tôi kể chính tôi đọc trên những bức tường, trên bia thông tin, nay tường - bia đã đổ rồi, bị phá rồi, nhưng chúng còn in trong đầu.
Hồi cả miền Bắc thành lập hợp tác xã nông nghiệp, chả biết từ đâu, do ông Tố Hữu hay cơ quan tuyên giáo đề xuất, nơi đâu cũng vậy, khắp mọi thôn làng, trên mọi bức tường thôn quê, đập vào mắt mọi người câu khẩu hiệu “Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”. Nông dân có thể không biết chữ, nhưng cứ nhìn mãi câu này cũng đọc được vanh vách. Tôi đồ rằng có nhẽ nó bắt nguồn từ thơ của ông Tố Hữu, ông này ca ngợi hợp tác khiếp lắm, “dân có ruộng dập dìu hợp tác/lúa mượt đồng ấm áp làng quê/chiêm mùa cờ đỏ ven đê/sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn/màu áo mới nâu non nắng chói/mái trường tươi roi rói ngói son/đã nghe nước chảy lên non/đã nghe đất chuyển thành con sông dài/đã nghe gió ngày mai thổi lại/đã nghe hồn thời đại bay cao/núi rừng có điện thay sao/nông thôn có máy làm trâu thay người/đời hết kẻ sống lười ăn bám/đời của ai dũng cảm hy sinh/những người lao động quang vinh/chúng ta làm chủ đời mình từ đây”. Đại loại cứ rỉ rả như thế, mật ngọt chết ruồi, lừa rất siêu, nông dân say “chết” như rạ.
Hồi cả miền Bắc thành lập hợp tác xã nông nghiệp, chả biết từ đâu, do ông Tố Hữu hay cơ quan tuyên giáo đề xuất, nơi đâu cũng vậy, khắp mọi thôn làng, trên mọi bức tường thôn quê, đập vào mắt mọi người câu khẩu hiệu “Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”. Nông dân có thể không biết chữ, nhưng cứ nhìn mãi câu này cũng đọc được vanh vách. Tôi đồ rằng có nhẽ nó bắt nguồn từ thơ của ông Tố Hữu, ông này ca ngợi hợp tác khiếp lắm, “dân có ruộng dập dìu hợp tác/lúa mượt đồng ấm áp làng quê/chiêm mùa cờ đỏ ven đê/sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn/màu áo mới nâu non nắng chói/mái trường tươi roi rói ngói son/đã nghe nước chảy lên non/đã nghe đất chuyển thành con sông dài/đã nghe gió ngày mai thổi lại/đã nghe hồn thời đại bay cao/núi rừng có điện thay sao/nông thôn có máy làm trâu thay người/đời hết kẻ sống lười ăn bám/đời của ai dũng cảm hy sinh/những người lao động quang vinh/chúng ta làm chủ đời mình từ đây”. Đại loại cứ rỉ rả như thế, mật ngọt chết ruồi, lừa rất siêu, nông dân say “chết” như rạ.
Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018
Chuyện khẩu hiệu (kỳ 2)
Đọc xong bài 1, không ít bạn bảo tôi sao chưa thấy anh (bác) đưa ra câu khẩu hiệu cụ thể nào, nói phải có sách, mách có chứng chứ. Vâng ạ, chính tôi cũng chủ ý dành những kỳ sau cho nhiều câu khẩu hiệu. Có những câu nổi tiếng một thời, nhắc tới nó là hình dung ra ngay được một chặng đường lịch sử, một khung cảnh xã hội.
Phải nói rằng thời chiến tranh xuất hiện nhiều khẩu hiệu nhất. Ấy là tôi đang nói ở miền Bắc, do những người cộng sản nắm quyền, chứ từ vĩ tuyến 17 trở vào, suốt 21 năm (1954-1975) rất ít nghe nói tới khẩu hiệu. Dường như khẩu hiệu là sự độc quyền, việc sử dụng khẩu hiệu là sở trường của phe cách mạng, phe xã hội chủ nghĩa. Đọc những bản tổng kết lịch sử cách mạng do họ soạn ra, trong phần nguyên nhân thắng lợi hoặc phần bài học lịch sử, luôn có gạch đầu dòng nói rằng họ đã có sách lược đúng đắn về khẩu hiệu, việc đề ra những khẩu hiệu thích hợp, linh hoạt thay đổi khẩu hiệu khi tình hình biến chuyển, phát huy được sức mạnh khẩu hiệu để “cổ vũ toàn dân toàn quân thực hiện những nhiệm vụ cách mạng”… Với người cộng sản, khẩu hiệu cũng quan trọng như lá cờ trận, xe tăng, đại bác, súng AK, thậm chí như những binh đoàn.
Trong đời tôi, nhất là hồi tuổi thơ và tuổi thanh niên, có những câu khẩu hiệu lọt vào mắt, in vào trí não, bởi đi đâu cũng gặp, khi ngủ cũng chập chờn thấy nó. Nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất là 2 câu: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và “Vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”. Đó là khẩu hiệu tầm quốc gia, giống như thứ cương lĩnh chỉ đạo cộng đồng, như kèn trận thôi thúc giục giã. Khẩu hiệu vừa là mục đích, phương châm, vừa là động lực, và cũng là sự ràng buộc, bắt buộc. Ai tách ra khỏi định hướng ấy, sẽ bị coi là “có vấn đề”, là chống đối, phản động. Chính vì vậy, cũng dễ hiểu vì sao sức người sức của trong thời chiến tranh được huy động tối đa, rốt ráo, chặt chẽ như ta đã biết.
Phải nói rằng thời chiến tranh xuất hiện nhiều khẩu hiệu nhất. Ấy là tôi đang nói ở miền Bắc, do những người cộng sản nắm quyền, chứ từ vĩ tuyến 17 trở vào, suốt 21 năm (1954-1975) rất ít nghe nói tới khẩu hiệu. Dường như khẩu hiệu là sự độc quyền, việc sử dụng khẩu hiệu là sở trường của phe cách mạng, phe xã hội chủ nghĩa. Đọc những bản tổng kết lịch sử cách mạng do họ soạn ra, trong phần nguyên nhân thắng lợi hoặc phần bài học lịch sử, luôn có gạch đầu dòng nói rằng họ đã có sách lược đúng đắn về khẩu hiệu, việc đề ra những khẩu hiệu thích hợp, linh hoạt thay đổi khẩu hiệu khi tình hình biến chuyển, phát huy được sức mạnh khẩu hiệu để “cổ vũ toàn dân toàn quân thực hiện những nhiệm vụ cách mạng”… Với người cộng sản, khẩu hiệu cũng quan trọng như lá cờ trận, xe tăng, đại bác, súng AK, thậm chí như những binh đoàn.
Trong đời tôi, nhất là hồi tuổi thơ và tuổi thanh niên, có những câu khẩu hiệu lọt vào mắt, in vào trí não, bởi đi đâu cũng gặp, khi ngủ cũng chập chờn thấy nó. Nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất là 2 câu: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và “Vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”. Đó là khẩu hiệu tầm quốc gia, giống như thứ cương lĩnh chỉ đạo cộng đồng, như kèn trận thôi thúc giục giã. Khẩu hiệu vừa là mục đích, phương châm, vừa là động lực, và cũng là sự ràng buộc, bắt buộc. Ai tách ra khỏi định hướng ấy, sẽ bị coi là “có vấn đề”, là chống đối, phản động. Chính vì vậy, cũng dễ hiểu vì sao sức người sức của trong thời chiến tranh được huy động tối đa, rốt ráo, chặt chẽ như ta đã biết.
Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018
Chuyện khẩu hiệu
Phải nói ngay rằng bây giờ khẩu hiệu đã bớt đi rất nhiều so với mươi năm trở về trước. Dạo ấy, cứ ra khỏi nhà là gặp khẩu hiệu, chứ không phải gặp anh hùng (làm gì còn anh hùng mà gặp).
Một anh lớn hơn tôi vài tuổi, đi Tây đi Mỹ xoành xoạch như đi chợ, không chỗ nào trên thế giới mà anh không tới, thậm chí còn bảo nếu sức khỏe tốt sẽ đi Bắc cực hoặc Nam cực một chuyến cho đã, anh bảo rằng xứ mình là vua khẩu hiệu. Bọn Tây bọn Mỹ nó ít treo khẩu hiệu lắm, chỉ có những doanh nghiệp lớn thì thỉnh thoảng dùng, chứ chính quyền nó không thích thứ này. Đi xuyên bang cả ngàn cây số, nhà cửa phố xá của nó san sát, cấm thấy cái khẩu hiệu nào. Tôi cười nói với bác ấy, tại Mỹ nó đếch có ban tuyên giáo, đếch có bộ 4T, đứa nào giăng mắc kẻ khẩu hiệu ra đường, dân nó tẩn bỏ mẹ.
Xứ ta thì khác. Khẩu hiệu là đặc sản, là nét độc đáo, là sự áp dụng chủ nghĩa Mác sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam. Cứ thử hình dung, một ngày nào đó sáng ngủ dậy thấy vắng bặt hẳn khẩu hiệu, lò mò đi khắp nơi không tìm ra câu khẩu hiệu nào, lại chả phát điên. Nhưng cán bộ, nhà chức việc điên thôi, chứ dân lại chẳng hò reo ăn mừng, tôi chớ kể.
Một anh lớn hơn tôi vài tuổi, đi Tây đi Mỹ xoành xoạch như đi chợ, không chỗ nào trên thế giới mà anh không tới, thậm chí còn bảo nếu sức khỏe tốt sẽ đi Bắc cực hoặc Nam cực một chuyến cho đã, anh bảo rằng xứ mình là vua khẩu hiệu. Bọn Tây bọn Mỹ nó ít treo khẩu hiệu lắm, chỉ có những doanh nghiệp lớn thì thỉnh thoảng dùng, chứ chính quyền nó không thích thứ này. Đi xuyên bang cả ngàn cây số, nhà cửa phố xá của nó san sát, cấm thấy cái khẩu hiệu nào. Tôi cười nói với bác ấy, tại Mỹ nó đếch có ban tuyên giáo, đếch có bộ 4T, đứa nào giăng mắc kẻ khẩu hiệu ra đường, dân nó tẩn bỏ mẹ.
Xứ ta thì khác. Khẩu hiệu là đặc sản, là nét độc đáo, là sự áp dụng chủ nghĩa Mác sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam. Cứ thử hình dung, một ngày nào đó sáng ngủ dậy thấy vắng bặt hẳn khẩu hiệu, lò mò đi khắp nơi không tìm ra câu khẩu hiệu nào, lại chả phát điên. Nhưng cán bộ, nhà chức việc điên thôi, chứ dân lại chẳng hò reo ăn mừng, tôi chớ kể.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)