Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

Chiến tranh?


Từ trưa đến giờ, cả nước xôn xao vì chuyện tàu chiến Trung Quốc ngang ngược xâm phạm biển Việt Nam, chặn tàu của Petrovietnam, cắt cáp thăm dò, coi chủ quyền Việt Nam không là cái đinh gì. Cư dân mạng đang sôi sùng sục, nhiều người đòi mở ngay hội nghị Diên Hồng. Lòng yêu nước chân chính đang bốc cao chưa từng thấy.
Tự dưng lại nhớ cái đận cách nay 47 năm, hồi tháng 5.1964. Mỹ muốn đánh Bắc Việt Nam mà chưa có cớ nên cho tàu khu trục Ma-đốc vào vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An quấy nhiễu, khiêu khích. Hải quân Việt Nam chạy ra làm vài phát ngư lôi, Ma-đốc bị thương quay về, hoàn thành nhiệm vụ. Tổng thống L.Johnson xoa tay khởi màn cuộc ném bom miền Bắc. Gần chục năm bom rơi đạn nổ, đau thương không kể xiết.
Cứ tưởng chiến tranh sẽ lùi vào dĩ vãng, nay bóng ma của nó lại sầm sập đến gần. Buồn nhất là suốt bao năm những người cầm quyền cứ lý do lý trấu ra vẻ ta đây khôn ngoan trong sự quan hệ với Trung Quốc mà không thèm đếm xỉa đến thực chất và tham vọng của nước này, không cần biết nỗi lòng người dân. Riêng tôi, tôi vẫn một mực cho rằng trước sau gì Trung Quốc cũng đánh Việt Nam, ít nhất là cũng phải chiếm hết biển Đông bởi chúng không thể nhắm mắt làm ngơ cho Việt Nam khai thác dầu khí- nguồn tài nguyên cực kỳ quan trọng mà nước nào cũng cần. Nó nín nhịn chờ thời lâu rồi, giờ nó giương móng vuốt ra cũng là điều dễ hiểu.
Hàng triệu người dân đang rất bức xúc. Không thể trông chờ vào báo chí quốc doanh. Cần có chỗ cho dân lên tiếng nói. Hiện Facebook đang bị chặn rất quyết liệt, nhất là sau sự kiện xâm lược này. Đề nghị nhà cầm quyền đừng u u mê mê nữa, chỉ đạo bộ phận an ninh mạng mở ngay Facebook cho người dân lên tiếng một cách rộng rãi, từ đó lắng nghe nguyện vọng ý chí của nhân dân.
Vụ này rõ ràng là một kiểu khiêu khích, một "sự kiện vịnh Bắc Bộ mới". Chỉ có điều chúng ta có đủ các lực lượng hải quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, không quân, vậy họ làm gì trong suốt thời gian dài như thế mặc cho bọn cướp biển cướp nước hoành hành, mặc cho chiếc tàu dân sự đơn độc chống chọi?Rất buồn.
Tàu ngầm lớp Kilo hiện đại đâu, sĩ quan sang Nga học đâu, nếu chưa về thì mau mau đưa về, kẻo đến hồi chả còn biển mà giữ nữa.
Bây giờ mà không biết dựa vào sức mạnh toàn dân thì sẽ không bao giờ nữa.
6:40 pm, Friday, 27 May 2011

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Chùa làng nghìn tuổi

Các cụ đi lễ chùa ngày xuân


Ở vùng đồng bằng Bắc bộ, hầu như nơi đâu ta cũng thấy thấp thoáng mái chùa. Mỗi ngôi chùa là một mảnh hồn quê.

Sư cụ trụ trì chùa Trà Phương, hòa thượng Thích Quảng Mẫn đã ngoại 90 mà dáng vẻ nhanh nhẹn lắm. Với trí tuệ minh mẫn, kiến thức uyên thâm, cụ được tôn như pho từ điển sống về đạo Phật, về muôn vẻ cuộc sinh tồn vùng duyên hải Bắc bộ này. Bữa chùa làm lễ giỗ các vị sư tổ truyền đạo (22 tháng giêng hằng năm), cụ bận quá nhiều việc nên khó gặp, vả lại phật pháp hữu duyên, thôi đành chờ dịp khác, nhưng những lần tôi được hầu chuyện cụ xưa kia thì đến giờ còn nhớ.

Sen đá thời Lý nay đã ngoài nghìn tuổi

Nói không ngoa, vùng đồng bằng Bắc bộ hầu như làng nào xã nào cũng có ít nhất một ngôi chùa, thậm chí có xã những mấy chùa, nhang khói quanh năm. Tuy nhiên giữa vùng quê ngan ngát xanh lúa xanh cây như làng Trà Phương (xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, Hải Phòng) thì ngôi chùa làng nghìn tuổi đã trở thành niềm tự hào của bao thế hệ. Theo hòa thượng Thích Quảng Mẫn và các nhà nghiên cứu phật giáo cũng như lịch sử kiến trúc, chùa được xây từ thời nhà Lý, khoảng đầu thế kỷ 11 (1010 - 1020), buổi ban sơ có tên chùa Bà Đanh, tọa trên gò đất cao cây cối um tùm, hoang vắng, chỉ cách núi Chè ở phía đông chưa đầy cây số. Ngược dòng thời gian, lại hình dung ra cái cảnh quấn quít đạo đời như trong câu thơ của cụ Tam nguyên Yên Đổ về chùa Đọi “chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/sư cụ nằm chung với khói mây”. Vết tích cổ nhất của Bà Đanh tự là 3 chân cột bằng đá tảng xanh, mỗi cái nặng ngót nghét vài trăm ký, chạm khắc hoa sen rất tinh xảo thể hiện rõ phong cách nghệ thuật kiến trúc tôn giáo thời Lý. Chỉ tiếc rằng chùa nay đang trong đợt sửa chữa, trùng tu, 3 vật chứng vô giá trải 10 thế kỷ ấy bị để lăn lóc ngoài vườn, nói dại miệng lỡ có kẻ nào hiểu được giá trị của nó mà rinh đi thì thật nguy. Thấy tôi buột miệng tỏ nỗi lo lắng ấy, ông Ngô Trọng Thắng, một người chăm làm công quả cho chùa trấn an rằng của nhà Phật thiêng lắm, chả ai dám động vào đâu. Tuy vậy tôi cứ bán tín bán nghi, chưa dứt băn khoăn bởi hồi những năm 90 bọn trộm từng lẻn vào đây lấy mất mấy pho tượng quý, nào đã tìm ra.

Khu nhà bia-lăng mộ các vị tổ truyền đạo với những cây đại hàng trăm tuổi


Sau cuộc tồn tại dâu bể mấy trăm năm, ngôi chùa làng đã trở mình vào thời nhà Mạc khi Mạc Đăng Dung lên ngôi (1527). Chuyện rằng vị thái tổ nhà Mạc thuở hàn vi nhờ ẩn nấp trong chùa mà thoát chết nên khi công thành danh toại ngài đã cho dựng lại chùa, đổi tên thành Thiên Phúc Tự. Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất dẫn đến sự hưng công này là bà hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn quê gốc làng Trà. Dân gian có câu “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa” (vua Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai, chỉ cách Trà Phương vài dặm) nên việc bà vợ vua không tiếc tiền bỏ ra xây chùa quê mình cũng chả có gì khó hiểu. Những dòng chữ trên tấm bia “Tu tạo Bà Đanh tự” khắc năm 1562 thời Mạc Mậu Hợp còn ghi rõ điều ấy. Theo văn bia, chùa được chuyển về vị trí mới cách nền cũ (nay nơi này là trường THCS Thụy Hương, lâu lâu mấy thầy trò lại đào xới, phát hiện nhiều di vật cổ trong khuôn viên trường) khoảng 200m, với nhiều tòa ngang dãy dọc hoành tráng, trở thành trung tâm phật giáo xứ Đông (vùng Hải Dương, Hải Phòng bây giờ). Sử sách còn ca ngợi tiếng chuông chùa Thiên Phúc vang xa đến cả trăm dặm, quốc sư từng về đây thuyết pháp, giảng kinh, ngày rằm ngày lễ thiện nam tín nữ đông như trảy hội. Khi nhà Mạc đổ, quan quân Lê - Trịnh đã tàn phá nặng nề nhiều công trình kiến trúc mang dấu ấn triều đại trước, trong đó có chùa Trà Phương. Số phận ngôi chùa long đong giữa bao lớp mưa dập sóng vùi, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được bà Ngô Thị Dĩnh người làng có chồng làm giám đốc đài thiên văn Phủ Liễn cúng tiền tu bổ, chùa tái sinh mang dáng vẻ như hiện nay. Năm 2007, Bộ Văn hóa- Thông tin đã cấp bằng chứng nhận chùa Trà Phương là di tích văn hóa kiến trúc cấp quốc gia.


Chính điện ẩn sau vòm lá nhãn cổ thụ

Kiến trúc chùa bố cục theo lối chữ đinh, gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung. Các cột kèo, hoành phi, bệ thờ gỗ đều chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng trải hàng trăm năm vẫn sáng rực, dường thi gan cùng tuế nguyệt. Trên phật điện là hàng chục pho tượng cổ Phật tam thế và các vị La hán. Phía bên phải và bên trái tiền đường, giữa khói hương trầm mặc, hai pho tượng vua Mạc Đăng Dung và hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tạc bằng đá xanh tuy không lớn lắm nhưng được giới nghiên cứu đánh giá như tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp hiếm hoi còn sót lại từ thời Mạc. Dân nơi đây truyền nhau rằng bà thiêng lắm, người có lòng thành cầu khấn bà thường rất linh nghiệm. Thắp hương xong nơi phật điện, bạn đừng quên thăm khu nhà văn bia - lăng mộ các vị sư tổ ngay bên trái lối vào, cổ kính và uy nghi, nơi đây dựng 2 tấm bia nhắc đến quá trình xây dựng, tu tạo, hưng công chùa suốt từ thời Lý đến thời Mạc và sau này, ghi nhận công đức những vị tiền nhân đã đóng góp tu bổ chùa, công ơn của các vị sư tổ truyền đạo. Dưới bóng những cây đại cổ thụ hàng trăm tuổi là đôi sấu đá ngay trước thềm nhà văn bia được bàn tay nghệ nhân tài hoa xưa tạo dáng theo kiểu tượng tròn, tạc bằng đá xanh, đậm nét điêu khắc thế kỷ 16, dù dãi dầu thời gian, mưa nắng nhưng vẫn cực kỳ sắc sảo, sinh động.
Chùa làng hồn nước, ngày nay chùa Trà Phương không chỉ là điểm đến của phật tử tứ xứ mà còn là nơi níu chân khách thập phương tìm viếng cảnh chùa, với niềm tin rằng giữa chốn thiền môn nghìn tuổi tâm hồn sẽ được gột rửa trở nên thanh thản nhẹ nhõm hơn.

Cổng chùa pha lẫn nét cổ kính và hiện đại

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011

Lao vào ngõ cụt

Nhân vụ kỹ sư Lê Văn Tạch tố cáo sai phạm của bọn Toyota VN (mà cứ dính tí VN vào là hỏng, lạ thế) lại nhớ đến người đương thời Đỗ Việt Khoa của trường THPT Vân Tảo, Hà Tây cũ. Ông thượng thư bộ học N.T.Nhân sau phút nông nổi yêu thương đã bỏ rơi không thương tiếc thầy Khoa, nay thầy như kẻ lạc loài. Ông Nhân sau đó lên phó thủ tướng, lờ thầy Khoa luôn, sợ dính vào thầy như sợ hủi. Liệu KS Tạch có chịu chung số phận không, hả bác bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng? Người Nhật giờ họ nói không sa thải anh Tạch bởi họ là người Nhật, nhưng liệu anh Tạch có yên ổn làm ăn. Ông bộ trưởng bộ làm ăn có dám chỉ đạo cấp dưới nhận "kẻ phá đám" về nếu anh Tạch phải ra đi không, hay lại thêm Việt Khoa nữa trong chuỗi anh hùng-nạn nhân.

Đừng để những người thẳng thắn, chống tham nhũng, tiêu cực lao vào ngõ cụt, các bố ạ.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2011

Chút lan man trên đất thiêng triều Mạc

Trong chính sử nhiều thời từ sau Lê trung hưng, kể cả vô tình lẫn cố ý người ta đã xổ toẹt triều Mạc, nếu có nhắc thì cũng gán ngay cho nó cái tên “ngụy triều” chẳng hay ho gì. Học trò bao thế hệ cứ ra rả “nước ta trải Đinh - Lê - Lý - Trần - Lê - Nguyễn” chứ mấy ai biết rằng nhà Mạc (và cả nhà Hồ, nhà Tây Sơn nữa) là phần không thể thiếu của lịch sử nước Nam.



1. Nghe đứa cháu rủ rê, lại còn miêu tả tỉ mỉ những tòa ngang dãy dọc của khu tưởng niệm các vua nhà Mạc mới khánh thành nên tôi cũng tò mò háo hức lắm. Thực ra nơi ấy với tôi cũng chả xa lạ gì, từ làng tôi đến làng Cổ Trai theo đường chim bay chỉ vài cây số, ngoằn ngoèo huyện lộ hơn 15 phút chạy xe là cùng. Hồi nhỏ đám đánh dậm làng tôi cả mấy chục đứa kéo quân xuống tận Cổ Trai kiếm tôm cá, quần thảo nhẵn cả vùng hạ lưu sông Đa Độ. Rồi lại nhớ cái đận giữa năm 1967 đang mùa gặt, biên đội Mig 17 của ta mật phục ở sân bay Kiến An đón lõng bọn giặc F107 Mỹ ngay trên bầu trời quê tôi, thịt gọn của chúng 2 chiếc, một rơi ngoài biển một cắm đầu xuống làng Cổ Trai, thằng giặc lái nhảy dù bị nông dân dùng liềm, đòn càn bắt sống, thằng kia chết cháy được địa phương chôn cất tử tế. Tôi từng ghé xem nấm mộ gã Mỹ chôn rìa làng, sau đó còn lặn lội ra giữa đồng lúa nước ngập đến đầu gối hì hục cả buổi trưa đục được một mớ đuya-ra xác tàu bay thần sấm về chia cho bọn trẻ con làm lược. Khi ấy từng nghe loáng thoáng ai đó bảo cuộc đất này thiêng lắm có đức ngài phù hộ, bằng cớ là bọn tàu bay rớt ngay cung điện ngài đấy thôi, sau này mình mới hiểu, à ra họ nói về đức Thái tổ Mạc, về vùng đất phát tích một vương triều.
Sử liệu như đã nói ở trên luôn tỏ ra ghét bỏ triều Mạc nhưng bóc tách từ những dòng hiếm hoi xô lệch thì thấy ghi rằng Thái tổ Mạc Đăng Dung xuất thân dân chài, khỏe mạnh giỏi võ, ứng thí tại trường Giảng Võ ở Thăng Long đỗ Đô lực sĩ, làm quan đến chức Đô chỉ huy sứ, được phong tước Hầu. Năm 1527 nhân triều đình thối nát, xã hội loạn lạc, ông phế truất nhà Lê lập ra triều Mạc, chỉ ngồi ngôi vua có 3 năm rồi nhường cho con, lui về làm Thái thượng hoàng. Nhà Mạc tồn tại qua 5 đời với 65 năm, ví như nhát cắt lịch sử vậy, dù dày dù mỏng nhưng đời sau chẳng nên chối bỏ, huống hồ cha con ông cháu Mạc Đăng Dung đã để lại không ít dấu ấn tích cực trong một chặng đường, một thời đại đầy biến động của dân tộc. Để tìm hiểu thêm, tôi ghé nhà từ đường họ Mạc ngay thôn Cổ Trai, thật không may các cụ bô lão đi vắng cả nhưng qua chuyện trò với những hậu duệ chả biết đời thứ mấy chục của Mạc tổ thì biết thêm con cháu tộc Mạc hiện giờ đông lắm, đa dạng lắm. Theo các cụ truyền lại, để tránh quan quân chúa Trịnh truy sát gắt gao, ngoài nhóm hoàng thân quốc thích Mạc Kính Cung rút lên Cao Bằng theo sự mách bảo của cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm, người họ Mạc tứ tán khắp nơi, thay tên đổi họ, mai danh ẩn tích. Nay trên cả nước có khoảng 50 dòng họ khác nhau vốn gốc họ Mạc sau đận chạy trốn ấy, liệt kê ra thấy đủ cả các họ Phan, Thái, Hoàng, Phạm, Bùi, Vũ, Ma, Nguyễn… rải khắp Thanh Hóa, Nam Định, Nghệ An, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Nam, Sài Gòn, Cao Bằng… Nhớ hồi học đại học, bọn trai chúng tôi rất ngưỡng mộ, còn đám con gái thì mê tít một anh vào trước chúng tôi 3 khóa, học giỏi đẹp giai, thời sinh viên đã có thơ có truyện đăng báo văn nghệ trung ương, ngay cái tên Thái Kế Toại của anh nghe cũng là lạ, ấn tượng. Anh ra trường về lại ngành công an lon đến đại tá, và mãi sau tôi mới biết thì ra họ Thái của anh cũng là hậu duệ nhà Mạc. Nhiều người họ Phạm, họ Hoàng, họ Phan khá nổi tiếng mà tôi gặp sau này trò chuyện chán cũng mới tường tận họ gốc Mạc tộc.




2. Nói đến nhà Mạc không thể không nhắc tới Dương Kinh. Gần 500 năm trước, Dương Kinh xuất hiện với tầm vóc dù không đồ sộ bằng Thăng Long nhưng cũng đủ để thiên hạ ngóng về. Các sử gia của Đại Việt sử ký toàn thư hoặc Đại Việt thông sử dẫu chẳng ưa “ngụy Mạc” vẫn có những dòng nhắc đến kinh đô thứ hai triều đại này bằng sự ngưỡng mộ, nuối tiếc. Lâu đài cung điện thành quách một vương triều đã từng nguy nga phủ bóng lên vùng cửa biển phên dậu phía đông. Vật đổi sao dời, hưng phế là điều khó tránh, tuy nhiên các thế lực phong kiến nước ta thường dẫm vào vết xe tai hại, triều sau cứ phá sạch sanh nhưng gì do triều trước dựng lên, thật đáng tiếc. Nhiều cuốn cổ sử ghi rõ chuyện tướng nhà Lê là Thái úy Trịnh Tùng sau khi phá được thành Thăng Long đã sai quân lính đốt phá lầu son gác tía, san phẳng hào lũy, năm 1592 kéo tiếp về Dương Kinh tàn phá sạch sành sanh, thiêu hủy cung điện, chặt đốn cây cối, đào bới lăng tẩm, biến cả vùng đất thang mộc của nhà Mạc ra bình địa. Qua dấu vết tìm được ở Cổ Trai và phụ cận, những nền móng nhà cửa, đường sá khuất lấp trong đất, các nhà khoa học hầu hết chung nhận định về tầm vóc đồ sộ của Dương Kinh một thời. Giờ Hải Phòng cũng có quận đặt tên Dương Kinh, hình như để hồi tưởng về cái thuở vàng son ấy.
Được khánh thành hồi cuối tháng 9.2010, khu di tích giờ đã vỡ vạc vóc dáng tạo điểm nhấn du lịch tâm linh cho vùng châu thổ ven biển vốn chỉ quen nghề trồng trọt, chài lưới. Trên khu đất hơn 10 ha mà các nhà khảo cổ, nhà sử học kỳ công nghiên cứu, xác định là nền điện Tường Quang nơi đức Thái tổ Mạc Đăng Dung và mấy thế hệ vua kế tiếp từng ngự ngày xưa, tòa chính điện và các công trình phụ trợ tả vu, hữu vu, nhà bia… hắt dáng lên trời xanh giữa bao la đồng lúa, xa xa là dòng sông Đa Độ uốn khúc, vòng ra chút nữa là cửa sông Văn Úc. Kể cũng khâm phục cho sự cố gắng, đồng tâm nhiệt thành của con cháu tộc Mạc đang rải rác cả nước, tất nhiên không thể không ghi nhận công tích của chính quyến các cấp, khi một quần thể khu tưởng niệm hoành tráng công phu hình thành chỉ trong chưa tới 1 năm. Đứa cháu tôi cứ luôn miệng xuýt xoa, trầm trồ. Nhìn rảo một vòng, từ cổng chính vào tuốt bên trong cơ man những phiến đá xanh được chạm khắc tinh xảo, từ bờ tường vây quanh, chân cột, bậc tam cấp đến những con rồng uốn khúc mạnh mẽ mà uyển chuyển trước chính điện. Cô hướng dẫn viên Phạm Thị Hương hình như cũng là hậu duệ Mạc tộc tự hào khoe rằng tất cả nhà cửa sân sướng nơi đây đều tái hiện kiến trúc và mỹ thuật thời Lê - Mạc, theo quy cách truyền thống mà nay vẫn còn lưu lại ở nhiều di tích có từ thế kỷ 16 trên đất Hải Phòng cũng như nhiều nơi khác. Đá xanh thì chuyển tuốt tận Thanh Hóa ra, còn gỗ tất tật gỗ lim nhập từ Nam Phi, thợ mộc cũng phải tuyển những người giỏi nhất vùng làng nghề mộc nổi tiếng trong mạn Vĩnh Bảo. Cái sự công phu đó quả thật có thể chứng minh ngay trước mắt tôi. Chính điện rộng gần 400m2, 4 mái 7 gian 6 hàng cột, đầu đao dáng rồng vươn cao vút. Nội tòa chính điện sáng bừng bởi những chạm khắc sơn son thiếp vàng, cảm giác uy nghiêm mà huyền bí. Tượng đức Thái tổ nhà Mạc ngự chính giữa, quây quần bên là các con cháu gồm những đời vua kế tiếp, đều được giát bằng vàng thật, nét tạc sinh động lạ thường. Tôi lại mường tượng cảnh hồi xửa hồi xưa các ngài cùng tụ về Dương Kinh cha con vua tôi sôi nổi luận bàn chính sự trị quốc an dân. Chỉ có điều làm tôi sinh chút lăn tăn là sao không thấy thờ bà Thái hậu trong cõi tâm linh này. Cũng có đôi chút riêng tư bởi làng Trà Phương quê tôi, thuộc xã Thụy Hương, tổng Nghi Dương cũ (huyện Kiến Thụy ngày nay) chính là quê bà Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ vua Mạc Đăng Dung. Người dân nơi đây bao đời nay vẫn truyền tụng câu “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa”, và chẳng biết có phải được bà ban ân huệ không mà con gái làng tôi đẹp hơn những vùng khác. Trà Phương từng là nơi đóng phủ lỵ Kiến Thụy, nhà cửa san sát sầm uất lắm, cây cối xanh um, trên bến dưới thuyền phong cảnh tuyệt đẹp. Bức tường thành đất đồ sộ giờ gần như bị san phẳng, nếu để ý lắm mới thấy dấu tích một quá khứ vàng son, nhưng những dấu ấn khác về thời Mạc chưa hẳn bị mai một hết. Sử cũ còn lưu rằng bà Thái hậu Ngọc Toàn từng cho xây dựng khá nhiều công trình đình chùa miếu mạo ở quê mình và các vùng gần đó, giống như dạng đô thị vệ tinh cho vương phủ Mạc triều ở Cổ Trai. Hồi tôi còn nhỏ đầu những năm 60 thì đình làng Trà Phương bị trưng dụng làm trường học, tuy vậy kiến trúc vẫn giữ y nguyên. Tôi đồ rằng nếu người ta không thiển cận phá nó đi để lấy gỗ đá… xây trại chăn nuôi, làm nhà hợp tác thì có lẽ cả xứ Hải Phòng lẫn vùng đồng bằng duyên hải này nay chả có cái đình nào qua mặt nó cả về quy mô, tầm vóc. Đình rộng mênh mông, mái cao cong vút được đỡ bởi mấy chục chiếc cột gỗ lim lên nước nâu bóng, chiếc nào chiếc nấy cả vòng tay người lớn ôm cũng chỉ hết hơn nửa. Kè quanh tường là hành lang đá xanh, mỗi tảng ngang dọc cỡ 0,8 x 1,5m, nhẵn như gương, mùa hè ngả lưng mát rười rượi. Hậu cung đình là dãy nhà ngang, nơi thờ bà Thái hậu Ngọc Toàn, sau khi đình bị phá tượng bà được đưa về thờ tại chùa Trà. Hồi năm 1955 Hải Phòng là điểm tập kết 300 ngày của quân đội Pháp trước khi rút hoàn toàn khỏi VN, đình kề sát nơi chúng đóng quân, lạ là chúng chẳng hề phá phách gì, thậm chí còn khoan thêm cái giếng máy, bơm nước cho cả xóm dùng. Sinh thời thày tôi cứ phàn nàn rằng bọn Tây thực dân nó chả phá, vào tay HTX chẳng mấy chốc lại tan hoang. Hiện giờ chùa Trà Phương (còn có tên Thiên Phúc tự) tuổi ngót nghét nghìn năm, khi Thái tổ Mạc lên ngôi thì được bà Thái hậu bỏ tiền công đức trùng tu, nay chùa vẫn thờ bà và đức vua. Ngoài tượng cổ gỗ quý, chùa còn hiện vật vô giá là 2 bức tượng đá cả nhà vua và hoàng hậu đầu triều Mạc được tạc hồi giữa thế kỷ 16, ngự trên ngai thờ trong khói hương thường nhật.
Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu như ai đến khu di tích ngoài niềm thành kính cũng hé ra chút tò mò tìm hỏi xem thanh đại long đao của đức tiên tổ. Tôi cũng từng nghe những huyền thoại về bảo đao nên tò mò chả kém. Cô Hương bèn dẫn tôi ra phía sau ngai thờ Thái tổ Mạc Đăng Dung, trong tủ kính kia là thanh đao quý, dù đã bị nám đen, rỉ sét sứt mẻ nhiều chỗ nhưng vẫn toát lên vẻ uy dũng vốn có của thứ binh khí trong tay bậc đại hùng. Tôi đọc vội mấy con số: dài 2,42m, nặng 25,6kg và hình dung ra rằng chủ nhân nó ít nhất cũng phải đường đường một đấng anh hào. Người làm sao đao làm vậy. Ngước ra đằng trước trộm ngắm diện mạo phương phi nhà vua, tôi chắc đao này từng cùng ngài xông pha chiến trận lập bao công trạng, mà công tích lớn nhất đời ngài là mở ra một triều đại mới khi đế chế cũ đã suy tàn, xã hội đang cực kỳ hỗn loạn. Lưu lạc suốt mấy thế kỷ, chìm lấp sâu trong đất bùn cỏ dại, nay đao quý về lại với chủ nhân, dường như duyên trời định, hầu góp thêm chút hào quang cho một triều đại đã chịu quá nhiều thiệt thòi, đánh giá bất công, nay được minh định lại. Có lẽ tôi cần phải cám ơn lần nữa cái cô hướng dẫn xinh đẹp tên Hương kia lúc tôi đang săm soi ngắm nghía quả chuông đồ sộ trên giá ngay bên trái chính điện. Đã đành từng nghe giới thiệu quả đại hồng chung này được ban quản lý khu di tích vào tận xứ Huế nổi tiếng về đúc đồng mời cho được nghệ nhân tài hoa Nguyễn Văn Sính ra trực tiếp chế tác tại chỗ, rồi chỉ riêng tiền chi cho chuông đã hơn 400 triệu đồng… nhưng chi tiết sau đây mới quả thật thú vị. Hương bảo lúc đầu các cụ trong Hội đồng Mạc tộc yêu cầu ông Sinh đúc sao cho chuông nặng đúng 1 tấn rưỡi, vậy mà gọt giũa trau chuốt xong, nghệ nhân siêu hạng đành xin lỗi các cụ vì thành phẩm nặng những 1.527 ký, muốn nhẹ hơn cũng chả còn chỗ nào mà tỉa bỏ bớt được nữa. Sự thể đã rồi biết làm sao, nhưng chợt ai đó phát hiện ra số cân nặng của hồng chung lại trùng với chính năm lên ngôi 1527 của đức ngài, năm mở ra triều Mạc. Thoáng chút phân vân: có phải là sự tình cờ không nhỉ?
Cuối giêng 2011
N.T

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

Về nơi phát tích vương triều Mạc

(Bài 1 viết cho báo Sài Gòn Doanh Nhân)


Những ngày vãn tết, mặc cho cái rét đầu xuân dù không đến nỗi buốt da cắt thịt nhưng cũng đủ làm ối người ngại bước khỏi nhà, vậy mà con đường về khu tưởng niệm vương triều Mạc xe cộ vẫn như mắc cửi. Lần đầu tiên trong dịp tết nguyên đán, đất cảng Hải Phòng thêm một địa chỉ hấp dẫn khách du xuân.
Đường sá thành phố cảng dạo này đã tốt hơn trước rất nhiều. Tôi phải nói vậy vì chẳng xa xôi gì, hồi năm 2006 con ngựa sắt chở tôi suýt mấy lần sụp hố, đó là chưa kể đường chật xe ô tô cứ như ép mình văng ra ngoài lề. Nay thì thênh thang. Từ nội thành Hải Phòng chạy chừng hai chục cây số tới huyện lỵ Kiến Thụy, hỏi dân thị trấn thơ mộng sơn thủy hữu tình này, ai cũng sẵn lòng chỉ cho khách phương xa lối về đất cũ nhà Mạc. Dường như họ không giấu niềm tự hào về chốn kinh đô xưa trên quê hương mình. Dương Kinh- tên gọi thuở ấy, một dạng kinh đô thứ hai sau Thăng Long, giống như triều Trần có Thiên Trường vậy, nơi để các Thái thượng hoàng nghỉ ngơi và làm việc. Một thời vàng son đã quá vãng. Tự dưng thấy giận Trịnh Tùng sau khi diệt nhà Mạc không chỉ đốt phá thành Thăng Long mà còn xua quân về Dương Kinh san phá sạch lâu đài thành quách thành bình địa. Nền cũ kinh thành nay thuộc thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy.



Được khánh thành giai đoạn 1 hồi cuối tháng 9.2010, khu di tích giờ đã vỡ vạc vóc dáng tạo điểm nhấn du lịch tâm linh cho vùng lúa ven biển chỉ quen nghề trồng trọt, chài lưới. Trên khu đất hơn 10 ha mà các nhà khảo cổ, nhà sử học kỳ công nghiên cứu, xác định là nền điện Tường Quang nơi đức Thái tổ Mạc Đăng Dung và mấy thế hệ vua kế tiếp từng ngự ngày xưa, tòa chính điện và các công trình phụ trợ in bóng lên trời xanh giữa bao la đồng lúa, xa xa là dòng sông Đa Độ uốn khúc. Kể cũng khâm phục cho sự cố gắng, đồng tâm nhiệt thành của con cháu tộc Mạc đang rải rác cả nước, tất nhiên không thể không ghi nhận công tích của chính quyến các cấp, khi một quần thể khu tưởng niệm hoành tráng đồ sộ hình thành chỉ trong thời gian ngắn hơn 2 năm. Tôi rảo mắt, từ cổng chính vào tuốt bên trong cơ man những phiến đá xanh được chạm khắc tinh xảo, nào bờ tường vây quanh, chân cột, bậc tam cấp đến những con rồng uốn khúc mạnh mẽ mà uyển chuyển trước chính điện. Cô hướng dẫn viên duyên dáng Phạm Thị Hương sôi nổi khoe rằng tất cả nhà cửa sân sướng đều tái hiện kiến trúc và mỹ thuật thời Lê - Mạc, theo quy cách truyền thống nay vẫn còn lưu lại ở nhiều di tích có từ thế kỷ 16 trên đất Hài Phòng cũng như nhiều nơi khác. Đá xanh thì đưa từ núi Nhồi ở Thanh Hóa, còn gỗ tất tật gỗ lim nhập tận Nam Phi, thợ mộc cũng phải tuyển những người giỏi nhất vùng làng nghề mộc nổi tiếng đất Vĩnh Bảo. Cái sự công phu đó quả thật có thể chứng minh ngay trước mắt tôi. Chính điện rộng gần 400m2, 4 mái 7 gian 6 hàng cột, đầu đao dáng rồng vươn cao vút. Nội tòa chính điện sáng bừng bởi những chạm khắc sơn son thiếp vàng, quyện trong hương trầm thoang thoảng tạo cảm giác vừa thiêng liêng vừa bí ẩn. Tượng đức Thái tổ nhà Mạc ngự chính giữa, quây quần bên là các con cháu gồm những đời vua kế tiếp, nét tạc sinh động lạ thường, chả khác gì các ngài hồi nảo hồi nào cùng tụ về Dương Kinh bàn chuyện trị quốc an dân. Và tôi thấy hầu như ai đến đây ngoài niềm thành kính cũng hé ra chút tò mò tìm hỏi xem thanh đại long đao của ngài. Cô Hương dẫn tôi ra phía sau ngai thờ đức Thái tổ Mạc Đăng Dung, trong tủ kính kia là thanh đao quý dù đã bị nám đen, rỉ sét sứt mẻ nhiều chỗ nhưng vẫn toát lên vẻ uy dũng vốn có của thứ binh khí trong tay bậc đại hùng. Tôi đọc vội mấy con số: dài 2,42m, nặng 25,6kg và hình dung ra rằng chủ nhân nó ít nhất cũng phải tầm cỡ vai năm tấc rộng thân mười thước cao. Thì sử chẳng đã ghi rành rành đấy thôi, với đại đao này, chàng dũng sĩ dân chài Mạc Đăng Dung chuyên lặn ngụp thả lưới trên dòng sông Đa Độ chả đoạt chức vô địch trong cuộc thi võ tuyển đô lực sĩ tại kinh đô Thăng Long là gì, đao này cũng từng cùng ngài xông pha chiến trận lập bao công trạng, mà công tích lớn nhất đời ngài là mở ra một triều đại mới khi đế chế cũ đã suy tàn, xã hội đang cực kỳ hỗn loạn. Kính cẩn trước “ông đao”, tôi thầm khấn xin phép đức Thái tổ chủ nhân được chụp tấm ảnh đao quý tuổi dễ gần 500 năm, chả biết ngài đã thuận chưa nhưng về xem lại thấy tất cả cảnh khác thì rõ ràng, riêng ảnh long đao cứ xám đen mờ xịt. Và lạ hơn nữa khi vài người bạn cho biết cũng bị tương tự vậy.



Có lẽ tôi cần phải cám ơn lần nữa cái cô hướng dẫn xinh đẹp tên Hương kia lúc tôi đang săm soi ngắm nghía quả chuông đồ sộ trên giá ngay bên trái chính điện. Đã đành từng nghe giới thiệu quả đại hồng chung này được ban quản lý khu di tích vào tận xứ Huế nổi tiếng về đúc đồng mời cho được nghệ nhân tài hoa Nguyễn Văn Sinh ra trực tiếp chế tác tại chỗ, rồi chỉ riêng tiền chi cho chuông đã hơn 400 triệu đồng… nhưng chi tiết sau đây mới quả thật thú vị. Hương bảo lúc đầu các cụ trong Hội đồng Mạc tộc yêu cầu ông Sinh đúc sao cho chuông nặng đúng 1 tấn rưỡi, vậy mà gọt giũa trau chuốt xong, nghệ nhân siêu hạng đành xin lỗi các cụ vì thành phẩm nặng những 1.527 ký, muốn nhẹ hơn cũng chả còn chỗ nào mà gọt bớt bỏ bớt được nữa. Sự thể đã rồi biết làm sao, nhưng chợt có ai đó phát hiện ra số cân nặng của hồng chung lại trùng với chính năm lên ngôi 1527 của đức ngài, năm mở ra triều Mạc. Tôi ngước nhìn lên, cảm thấy đôi mắt tinh anh của ngài đang nheo nheo cười giễu cái sự lăn tăn nghi ngờ ở kẻ hậu sinh. Vậy ai dám bảo đó chỉ là sự tình cờ nhỉ.

Tiết xuân 2011
NGUYỄN THÔNG

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Gặp bạn Dừa

1.Nếu tính từ cuộc gặp trước đến lần nhìn thấy nhau này cũng đã tròm trèm 38 năm. Ghê thật.
Đang lúc rỗi việc lẩn thẩn ngồi gõ vi tính mấy câu nhăng nhít, chợt chuông réo, dòm số hóa ra bác Ất. Bác bảo chú thử xem có nhận ra giọng ai đây không? Nói thêm một tí ti, ông anh đương chức Phó chánh văn phòng Công an Sài Gòn, hai anh em ít gặp nhau vì đều bận cả, chị Ất (tên Ngận, sau gọi lại cho đẹp là Ngân, bỏ dấu nặng) là em anh Thường bạn học anh Uy, cụ thân sinh ra chị hình như có bà con xa thật xa với bu mình, ấy cứ lằng nhằng thế nhưng anh chị tình cảm ra phết.
Quay lại chuyện dở dang. Mình chờ máy. Giọng con gái nhẹ như gió thoảng: Thông ơi còn nhớ ai đây không. Quả thực mình không nhận ra ngay, phải định thần chốc lát. Gió lại thoảng: Hồi học với nhau hai đứa hay ganh đua được cô Nga chọn đọc bài ấy. Rõ rồi, chi tiết đắt thế thì ai mà quên được. Bạn Dừa. Phạm Thị Dừa. Gần 40 năm mới lại nghe tiếng nhau, nhưng Dừa ơi, tớ đang phiên trực khó bỏ đi quá. Mai gặp được không hở? Dừa bảo sáng mai tớ bay ra Phòng chuyến 10 giờ. Ừ, vậy sáng mình sẽ qua sớm.
Hồi học cấp 3, bọn xã Thụy Hương bị xếp chung lớp với bọn các xã Kiến Quốc, Ngũ Phúc, Hữu Bằng và Thanh Sơn, gom thành lớp 8A, lên đến lớp 10 cũng 10A. Xã Thanh Sơn là trung tâm huyện nên trông chúng nó đỡ nhếch nhác hơn học trò các xã khác, con gái cũng đẹp hơn. Hồi lớp 8 năm ấy là khóa 1969-1970 còn có cả bọn sơ tán ở Hải Phòng về, lớp mình có mụ Ngọc Châm cao lớn như tây, xinh đẹp, con nhà dòng dõi trông rất thích mắt. Châm vốn học chung với mình từ lớp 6, hết lớp 8 về lại nội thành làm bọn con trai tiếc ngẩn ngơ (mình không tiếc vì tự biết không thể với đến nó), sau nó du học Liên Xô, biết cả chị Hoa nhà mình bên đó, tốt nghiệp về nước công tác tại Bộ Giáo dục làm đến chức Vụ phó Vụ Mầm non. Cả lớp phổ thông hình như chỉ nó làm quan to nhất. Tài hoa nhan sắc nhưng bạc mệnh, Châm bị ung thư mất hồi năm 2000 gì đó mình không nhớ kỹ, các bạn cũ thương tiếc lắm. Còn một bạn gái khác là Vũ Thị Phòng ở thôn Tú Đôi xã Kiến Quốc. Mình hay trêu nó “Tú Đôi ăn gạo giằng xay/Uống nước dõng cày khổ lắm con ơi” nhưng nó không giận bao giờ. Để đến trường, nó phải đi qua nhà mình ngay sát đường, có hôm mình vừa bưng bát cơm lên chưa kịp và đã nghe nó phanh két cái xe đạp phượng hoàng ngay cửa ới ới ầm lên Thông ơi đi chưa. Nó toàn lên giọng cao, nghe chua chua nhưng bu mình bảo mấy đứa như thế tốt tính lắm, mà đúng như vậy. Mình không có xe đạp toàn đi bộ, chiếc xe thiếu nhi Liên Xô anh Uy học giỏi được mua tiêu chuẩn, nay đi bộ đội để lại cứ nay hỏng mai hỏng chả có phụ tùng thay, những hôm học tối đành quá giang để nó đèo về, mình nhát gái ngồi ba ga phía sau cứ nhích xa xa, mặt trông ngường ngượng buồn cười đáo để.
2.Từ nhà mình đến trường huyện khoảng 3 cây số nhưng nếu theo lối tắt qua đèo Đối thì gần hơn. Đường tắt qua làng Xuân La còn gọi là làng Đối, tre pheo cây cối um tùm. Nhóm cùng lớp làng Đối đông lắm, bọn con trai nghịch phá như quỷ, bù lại có hai bạn gái cực kỳ dễ thương: Dừa họ Phạm, Tường họ Ngô, đứa nào cũng lót chữ Thị. Cả hai giống nhau nhỏ nhắn, có lúm đồng tiền, Tường sắc sảo, còn Dừa ít nói, hiền hơn. Dừa học giỏi lắm, hồi cuối cấp 2 (lớp 7 bấy giờ) mình đi thi học sinh giỏi văn toàn huyện, có cả nó, mình giải nhì được tặng chiếc bút máy con trâu TQ màu đen, còn nó giải nhất; sau thi toàn thành phố mình trượt thẳng cẳng, nó vẫn có giải. Cô giáo dạy văn hồi cấp 3 những mấy cô cơ, lớp 8 là cô Điệp, lớp 9 thầy Tòng, lớp 10 cô Nga và có lẽ cô Nga để lại ấn tượng nhiều nhất. Trường cấp 3 huyện hồi ấy nhiều thầy cô nổi tiếng lắm, như thầy Tân, thầy Quán (cũng họ Phùng tên Quán) dạy toán, thầy Nguyễn Văn Dừa, cô Vương Ngọc Bảo môn tiếng Trung, thầy Bảy già dạy Địa, cô Tâm môn Sinh, sau có cô Dung đẹp nổi tiếng tóc dài chấm đất dạy Hóa… Lúc nào rảnh mình sẽ kể thêm về những kỷ niệm hồi học các thầy cô, nhiều cái vui lắm, buồn cười lắm. Cô Nga được lũ học trò yêu mến một phần vì cô là người miền Nam; mẹ cô dân tập kết, lúc ấy làm cửa hàng trưởng hay phó gì đó ở cửa hàng thực phẩm huyện.
Cô Nga rất quý cái Dừa bởi nó ngoan, dịu dàng, học giỏi, thuộc bài vanh vách, bài làm văn của nó luôn được cô cho điểm 4 hoặc 5. Nó đọc nhiều, mình có cảm giác hầu như cuốn sách nào mình biết thì nó cũng đã đọc từ hồi nảo hồi nào, khỉ thế chứ, chả bao giờ ai hơn nó được cái gì . Bài tập làm văn (hồi ấy gọi bài luận bằng tên như thế) của Dừa luôn tạo sự chú ý, khi thì mở bài độc đáo, khi thì có nhiều ý hay, rồi diễn đạt, hình ảnh ấn tượng, thậm chí chữ cũng đẹp hơn, hoặc bài dài hơn. Cả lớp ai cũng phục nó, bé con con mà giỏi khiếp. Tất nhiên nó không giỏi toán bằng bọn thằng Cự, thằng Thành, cái Phòng, thằng Cải, anh Tiến (mấy đứa này đúng là siêu toán) nhưng cũng không đến nỗi kém, còn mình giờ điểm lại thì hình như suốt 3 năm cấp 3 chưa giải được bài quỹ tích hoặc hình học không gian nào ra hồn, chả hiểu sao lại đỗ được tốt nghiệp. Đặc biệt hồi lớp 10 mình và nó cứ ngấm ngầm ganh đua lấy điểm với cô Nga chuyện đọc bài. Giọng mình to, oang oang (giờ già rồi mà vẫn chả cần tăng volum), nghe rõ như đài tiếng nói Việt Nam, còn giọng nó nhỏ hơn nhưng truyền cảm, nó biết lên bổng xuống trầm, biết căn vào nội dung để đọc ra sao nên cô và bọn bạn có vẻ thích nó đọc hơn. Lúc đầu mình hiếu thắng cứ tưởng bở nhưng sau hiểu chắc cô Nga cũng thương mình thỉnh thoảng kêu đọc chứ chắc cô muốn nó đọc hơn, giờ nghĩ lại thấy thật xấu hổ.
Nhà cái Dừa gần chân núi Đối, mình còn nhớ có tảng đá rất to chênh vênh phía trên đỉnh, luôn lo sợ lỡ lăn xuống thì cả xóm bẹp dí. Đầu làng cuối xóm xanh ngắt, cây cối um tùm, nhiều nhất là tre và dùng. Làng Đối nhỏ nhưng giàu hơn nhiều làng khác, xã khác bởi dân làng này có nghề đan lát, lại giỏi trồng trọt. Hầu hết thúng mủng giần sàng, giậm nơm đó giỏ… bằng tre nứa bán ở chợ huyện do làng cái Dừa đan. Đất đai chật hẹp thế nhưng họ biết trồng trọt chuyên canh, rất nổi tiếng về dưa hấu và dưa chuột. Không ít lần mình và các bác Tiến, Cước (cùng làng cùng lớp nhưng trong họ ở vai bác, mình chỉ cao bậc hơn mỗi tí Luyện là em con cậu ruột, cả xã năm ấy chỉ có 4 đứa vào lớp 8) chui vào ruộng dưa chuột ăn trộm, chả biết đã trộm phải ruộng dưa nhà cái Dừa lần nào không. Mình cũng đã vào nhà cái Dừa, cái Tường chơi, đều nhà ngói sân gạch, nhỏ xinh. Nó có khá nhiều sách nhưng mình chẳng dám mượn, phần vì nhút nhát, phần vì sợ lỡ mất không có tiền mua đền. Hôm từ nhà Tường sang nhà Dừa, gặp nó ngay ở cổng, nó cười đón, hai cái lúm đồng tiền rõ sâu, cứ nhớ mãi chả thể quên được.
Học kỳ 1 năm lớp 10 có nhiều biến động. Thầy Mễ dạy lý, chủ nhiệm lớp và nhiều bạn nhập ngũ, trong đó có bác Tiến, Thành, Thảo, Như, Xuân Thắng, Biên tây, Thanh (lớp trưởng lớp B)…, cả lớp kéo nhau đến từng nhà liên hoan chia tay. Thằng Thành dạo ấy yêu cái Tường nhưng nó không yêu lại, đâm chán, quay sang yêu cái Nga người Thái Bình em thầy Linh. Tối 16.4.1972 đúng ca mình và thằng Thành cái Nga trực trường, dạo này Mỹ ném bom trở lại nên nhà trường phân công học sinh lớp cuối cấp trực canh gác trường. Mình rõ vô duyên khi trực trúng ca với hai đứa ấy. Anh chị ngồi bên nhau cứ rủ rỉ trò chuyện suốt làm mình chả học mà cũng chả ngủ được. Mà chúng cũng chỉ dám ngồi bên nhau vậy thôi chứ không thấy cầm tay cầm chân hôn hít gì. Hồi xưa yêu nhau khờ khạo mà trong sáng quá thể. Bữa chia tay ở nhà Thành tại xã Minh Tân, cái Nga mắt đỏ hoe. Thằng Thành vào chiến trường Quảng Trị năm 1973 có gửi về cho mình mấy lá thư viết trên giấy pơ luya xanh, mẫu thư của bọn thủy quân lục chiến Sài Gòn in hình đầu con hổ, mình giữ mãi đến khi vào Nam thì lạc đâu mất. Đúng đêm trực nói trên, lúc gần sáng máy bay kéo vào, bom nổ sáng rực góc trời phía cầu Niệm lối vào thành phố, cả bọn sợ co rúm, cái Nga mặt xanh lét. Sáng hôm sau nghe tin B52 rải thảm trận địa tên lửa thôn Phúc Lộc xã Hưng Đạo gần cầu Niệm nhưng trúng xóm dân cư, chết gần trăm người, mấy chục người khác bị thương.
3.Niên khóa phổ thông của mình cũng chỉ có gần chục đứa trúng đại học. Mình vào Văn khoa Tổng hợp, cái Dừa, cái Băng đậu Sư phạm Cầu Giấy, thằng Cự khoa Địa Tổng hợp, thằng Chân trường Thủy lợi, thằng Khuê du học… còn hầu hết đi trung cấp hoặc sư phạm 10+3. Từ khoa Văn Tổng hợp ở Mễ Trì sang Cầu Giấy phải đi 2 chặng tàu điện, vậy mà nó từng sang mình chơi, còn mình chưa hề qua bên nó, tệ thế không biết. Năm 1974 các trường đi đắp đê sông Đáy, trường Dừa và trường mình cũng đóng quân gần nhau tại Bình Đà, Sơn Tây nhưng chỉ kịp gặp chào nhau thôi, đứa nào đứa nấy lấm lem, trông loắt choắt loi choi như trẻ con. Mãi khi ra trường vào Nam nhận công tác mình mới biết Dừa cũng được biệt phái vào tận Đồng Tháp dạy học, mà hồi những năm 77-80 tàu xe cực kỳ khó khăn nên chả đến thăm nhau lần nào. Nó ở đó khoảng 6 - 7 năm gì đó rồi chuyển ra Bắc, về trường huyện, rồi phòng GD huyện, bến đỗ cuối cùng là trường chuyên cấp 3 Trần Phú, Hải Phòng, hàm Phó hiệu trưởng. Mình chả biết thêm có đứa nào được xếp vào danh sách “người của công chúng” nữa không nhưng như nó thế cũng oai, vua biết mặt chúa biết tên rồi. Một dạo tên tuổi Dừa ồn cả lên khi cô hoa hậu Mai Phương học trò nó “mất tích”, bọn nhà báo cứ xúm vào tìm thông tin từ cô hiệu phó, rồi lại có dạo ồn hơn nữa khi xảy ra vụ PMU 18 bắt hai nhà báo, một trong 2 vị đó là lão Nguyễn Việt Chiến bạn mình cùng cơ quan, còn thằng kia là Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ. Thì vậy nhưng dính dáng gì đến nó? Hóa ra thằng Hải là con rể Dừa. Thằng Hải trẻ nhưng giỏi giang, có tiếng trong làng báo, đáng mặt giai tế cô Dừa.
Mình ngồi nói chuyện với nó, chuyện cũ nhớ lại nhắc lại mãi vẫn không hết, chị Ngận ngồi cạnh cười tủm tỉm. Hỏi nó sao lại đến nhà anh Ất chị Ngận, nó tròn mắt dễ thương: tớ là cô của cái Ngận, không nhớ cùng họ Phạm à. Ơ, nếu mình gọi bà Ngận là chị thì cũng chỉ hàng cháu nó. Gần sát giờ ra sân bay, mình nhắc nó chuẩn bị, nó vẫn không tỏ ra vội vã, còn chị Ngận bảo từ đây ra sân bay gần xịt ấy mà, taxi chạy tí là tới. Bất chợt Dừa bảo sao hồi ấy chúng mình không yêu nhau, lấy nhau nhỉ. Ừ, con tạo xoay gần 40 năm rồi, hỏi nhau câu đó cũng đâu cần câu trả lời. Mình chỉ mái tóc nhuộm loang lổ, rụng lơ thơ của mình cho nó coi, nó bảo cậu vẫn thế, vẫn đáng yêu thế. Chị Ngận cứ tủm tỉm. Chia tay tạm biệt, mình ôm nó thật lâu, bồi hồi chẳng biết nói gì. Một người bạn tốt sắp xa nữa, tiếng nó như gió thoảng, sao mình thấy bóng hình nó cứ nhòe dần mờ dần, chập chờn mãi thôi.
Cận tết Tân Mão 2011

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

Trí thức chỉ là cục cứt

Ai đã trót lướt qua dòng tiêu đề trên, hãy chịu khó dành thêm 3 phút đọc nốt. Lý do: nhà cháu phải viết dưới dạng ghi chú mới chuyển tải được hết.

Câu nói trên không phải của tôi. Người tầm thường như tôi không thể phát ra được câu danh ngôn như thế, dù danh ngôn đểu. Nó thuộc bản quyền ông đệ nhất hoàng đế cộng sản Mao Trạch Đông. Tôi chắc lão Mao trong lúc bực lắm hoặc nung nấu sự khó chịu lắm với bọn trí thức mới lập ngôn chắc như đinh đóng cột thế. Nhưng kẻ thường tự xưng là tinh hoa nhân loại, bọn trí thức ấy, nghe Mao chửi đừng khó chịu nhé, cũng nên tự xem lại mình.

Dài dòng rườm rà vậy, bởi đầu đuôi thế này. Tôi vừa xem tivi (cách đây 30 phút), mà lại xem trúng chương trình Ai là triệu phú, mà lại trúng phiên các ông bà trẻ có sồn sồn có, tạm gọi là trí thức bởi họ là nhà văn, đạo diễn, diễn viên điện ảnh, kỹ sư ngồi trước cái ghế nóng của anh Lại Văn Sâm. Họ ham vui, kệ họ, nhưng họ mang danh trí thức mà... ngu, kiến thức không đủ nhét đầy vỏ con ốc bươu vàng, đã thế còn chường mặt ra trước bàn dân thiên hạ, nên tôi bực mình, phải lắm chuyện chả khác gì con mẹ hàng tôm hàng cá. Nếu họ là nông dân vùng xa, là người thểu số ít học, tôi chả rỗi hơi quan tâm.

Đại loại thế này:

Chương trình đưa ra câu hỏi: Làng Sình là nơi vẽ tranh dân gian, truyền thần nổi tiếng, thuộc tỉnh nào ở nước ta (4 phương án): Huế, Hà Tĩnh, Quy Nhơn, Bình Định. Ôi giời, tưởng gì, chả mấy ai không biết không nghe không đọc, ít nhất một lần câu hò sông Hương "đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá/Đò từ Vĩ Dạ thằng ngã ba Sình", cái nhà ông Sâm này đúng là đố trẻ con. Ấy vậy mà người trả lời, bạn biết ai không, nhà văn (nhà văn hội viên hội ông Hữu Thỉnh nhé) Trần Thị Trường, mặt thần ra, lúng ta lúng túng, cuối cùng nện cho một phát: Hà Tĩnh. Tôi chắc ông Lại Văn Sâm không dám cười mặc dù bụng sắp bể. Đố dám, cười khác chi chửi cha các anh chị ông bà tự xưng là nhà văn, được mọi người kính nể gọi là đỉnh cao trí tuệ. Cười, lần sau gặp nó, nó thuê côn đồ đánh bỏ mẹ, hoặc nó viết bêu xấu trong truyện của nó thì nguy.

Nhà văn trí thức Trần Thị Trường bị knock-out, ghế nóng trường quay số 3 nhường cho một anh khác, tôi nhớ không nhầm thì là đạo diễn, tên Lê Kha. Cũng bậc tinh hoa thiên hạ đây. Ông Sâm ơi, tôi thầm thì, có hỏi gì thì cũng vừa vừa dê dễ thôi nhé, kẻo lại xấu mặt trí thức nước nhà. Chả biết thần giao cách cảm ra sao nhưng tôi nghe lão Sâm hỏi: Trong các địa danh sau đây, nơi nào là kinh đô của nhà nước Văn Lang cổ: Đại La, Long Biên, Mê Linh, Phong Châu. Nhìn anh đạo diễn nhăn mặt, tôi thương cho giới trí thức, những người được coi là có học nước nhà quá. Có lẽ họ được đào tạo từ Tây- Tàu nên thứ kiến thức phổ thông sơ đẳng này họ không biết, cũng có thể họ mất gốc, cũng có thể họ chỉ là cái thùng rỗng, sơn màu mè bên ngoài. Câu hỏi này đứa trẻ con trung học cơ sở nó cũng trả lời đúng đáp án "Phong Châu", nhưng anh trí thức nhà ta lại cứng họng, đầu hàng.

Tiếp theo, một chàng kỹ sư rất đẹp giai, mặt mũi sang sủa như Kim Trọng hồ hởi bước ra. Lão Sâm hỏi: Bức tranh Chơi ô ăn quan của danh họa Nguyễn Phan Chánh được ông vẽ bằng chất liệu nào sau đây: bột màu, sơn dầu, lụa, sơn mài. Thú thực, tôi chả rành gì về hội họa, một kẻ ngoại đạo vẽ vời trăm phần trăm, nếu giỏi như các bác Bùi Thanh Phương, Nguyên Hưng, Nguyễn Quân thì đi một nhẽ, thế mà cũng chưa từng nghe ai nói ai viết tranh sơn mài (bột màu, sơn dầu) Nguyễn Phan Chánh. Có thể cụ Phan cũng từng sáng tác bằng những chất liệu ấy, nhưng hình như bắt chết vào cụ là lụa, và hình như người ta chỉ nhắc đến lụa Nguyễn Phan Chánh. Hết 30 giây, anh đẹp giai Vũ Thành Duy rụt rè, không một chút tự tin: bột màu là đáp án của tôi.

Ới các ông các bà tinh hoa tinh túy đỉnh cao ơi, các ông bà cứ như thế nên đảng loại các ông bà không cho đứng chung đội ngũ quanh đảng là phải "ngàn triệu dân nắm tay nhau, đứng quanh đảng cộng sản Việt Nam, khối kết đoàn công nông bền vững". Ngu thế, kiến thức nhẹ hều như thế thì đừng cố mà xin xỏ chen chân làm gì, công nông họ cười cho. Trí thức kiểu các ông các bà chỉ có thể đóng kép làm trò cười cho thiên hạ thôi, nặng lời hơn thì như Mao sổ toẹt "trí thức chỉ là cục cứt".

Đoàn thể đã không cần các vị, thải loại các vị không thương tiếc, nhưng dân chúng cũng chẳng thể hy vọng chờ đợi gì ở các vị. Đã ngu lại hèn thì...

Thật cám cảnh.

Trước thềm xuân Tân Mão 2011