Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

Làm sao

Ngày trước (mà đã xa xôi gì cho cam), cả miền Bắc chỉ có một cụ Phan Khôi và vài chục vị như cụ Phan Khôi. Nay cả nước có mấy triệu, mấy chục triệu người tâm trạng na ná như cụ Phan tiên sinh nhỉ?
"Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao".
(Phan Khôi)

11.9.2011

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Gật gù cùng Nguyễn Việt Chiến

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến (ảnh lấy từ Google)


Mình có tật cái gì thích thì viết dài, dài ơi là dài; vậy nên báo nhà đất chật người đông chả có chỗ đăng, cắt bỏ cho gọn lại tiếc. Đành giấu vào "báo mình" vậy, xin các anh chị thông cảm, đại xá cho thằng em dại.

Mình chúa ghét thói đời, thế mà vẫn không thoát được cái thói “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Bằng cứ chả chối cãi được là đang “quàng” viết về lão Nguyễn Việt Chiến, một người (theo ý mình) sang, thậm chí rất sang.

Ở tòa soạn Hà Nội, mình thân nhất với hai lão: Nguyễn Việt Chiến và Lưu Quang Phổ. Với anh Quốc Phong, dù bạn đồng môn thật đấy nhưng anh ấy là sếp nên mình cứ kính nhi viễn chi, chả ra thân sơ. Anh Phong hiền lành tốt tính lắm, nhiều người tôn làm ông phật, mình cũng tôn làm ông phật, vì vậy lại càng không dám nhí nhố đùa cợt bá vai bá cổ. Lần nào anh ấy vào Sài Gòn họp mình cũng định mời về cho biết nhà hoặc rủ đi ăn uống gì đó nhưng cứ rụt rè ngài ngại nên đến giờ sếp vẫn chả ăn được của mình miếng nào. Tên Phổ thì dễ gần bởi hắn vừa kém tuổi mình vừa đồng hương, cứ gặp nhau là tán đủ thứ chuyện trên giời dưới bể, nhảm hết sức nhưng khoái. Hắn là tay phó nháy có hạng, nhiều ảnh đẹp, đạt nhiều giải cao nhưng mình thích nhất hai tấm ảnh, một tấm chụp em bé bú mẹ (người mẫu là vợ và con hắn) đẹp tuyệt vời, còn tấm kia thì thôi rồi, không bao giờ có được cơ hội thứ hai, cực kỳ lắm, mà thôi, nói ra sợ sinh chuyện.

Nguyễn Việt Chiến hơn mình những 3 tuổi, lão sinh năm 1952, tuổi Thìn, vậy mà chả bao giờ lên mặt đàn anh khệnh khạng với mình. Nhiều lúc tự thấy mình cũng tệ, sống không biết điều. Lão vào Sài Gòn, ghé chỗ bàn làm việc của mình mà không thấy là phôn liền, ông ở đâu, Chiến đây. Lần thì cho sách, cho thơ, ra quyển nào mình cũng có suất, ghi đề tặng đàng hoàng, chữ viết tháu, xâu xấu khó đọc nhưng nhất quán phong cách Nguyễn Việt Chiến, rất phóng khoáng, chả chịu gò vào quy tắc nào. Lần thì ô mai, lần chè Thái Nguyên chính hiệu cả ký. Bao nhiêu lần lão vào vào ra ra, mình chưa biếu chưa cho được cái quả chuối khô miền Nam làm quà, xấu hổ thế không biết.

Thơ của Nguyễn Việt Chiến không dễ đọc như thơ nhiều người khác, tỉ dụ những đồng hương Sơn Tây của anh như nhà thơ Quang Dũng, Trần Lê Văn. Cũng phải thôi vì giãn cách thế hệ tuy không xa cũng chẳng gần. Nhưng thơ Việt Chiến chả gai góc trúc trắc phá phách quá đáng như thơ Nguyễn Quang Thiều (cũng đồng hương, sao cái xứ Đoài đẻ ra lắm nhà thơ thế), thơ Chiến nhiều bài hiện đại nhưng vẫn mang hồn cốt truyền thống, dễ cảm nhận. Nhớ một lần mình giở tờ báo Sài Gòn giải phóng số ra ngày chủ nhật, chỉ vào ngày này mới đăng thơ, có thơ của hai nhà thơ gốc lính là Trần Thế Tuyển và Nguyễn Việt Chiến. Ông Tuyển dạo ấy chưa về lĩnh chức tổng biên tập, đang là cục phó cục báo chí-xuất bản, thơ ông ấy muốn nằm đâu, đậu đâu chả được. Mình đọc thơ ông Tuyển từ hồi ổng còn chức lính trơn bên chiến trường 479 Campuchia cơ, anh hai nhạc sĩ Lê Khiêm nhà mình phổ nhạc mấy bài thơ ông ấy cho đoàn ca múa quân khu 7 hát um sùm, nội dung toàn mùi binh đao chết chóc. Mình bảo anh Khiêm, cứ bao giờ hết chiến tranh ở Campuchia thì nhạc của anh và thơ ông Tuyển cũng tắt. Về sau đúng y chang.

Trên tờ báo ấy có bài “Ga Hàng Cỏ dọc đường Nam Bộ” của lão Chiến. Đọc cái tít bỗng dưng thấy bập vào ngay, có nhẽ cái ga này, con đường này cũng gợi nhiều kỷ niệm gắn bó với mình. Người lính, số phận người lính trong thơ Việt Chiến, theo mình, rất ấn tượng, mình còn thầm so sánh lão ấy như một Bảo Ninh trong thơ (còn Bảo Ninh “Nỗi buồn chiến tranh” có ai đó coi là Việt Chiến trong văn xuôi hay không thì tùy).

Ba mươi năm trước

Tiễn con từ ga Hàng Cỏ

Mẹ về

Nước mắt dọc đường Nam Bộ

Đứt từng khúc tàu đêm…

Con của mẹ

Vẫn mãi mãi mười tám tuổi

Như chuyến tàu ngày ấy không về

Mẹ ở lại một mình

Không phố, không ga, không tất cả

Còn gì để nhớ

Ga Hàng Cỏ dọc đường Nam Bộ

Nguyễn Việt Chiến cùng đi trên chuyến tàu ấy nhưng may mắn được trở về với mẹ. Mình cũng có ông anh ruột đi bộ đội, năm 1969 lên tàu vào Nam từ ga Hàng Cỏ và năm 1975 khoác ba lô về, mình đầy vết thương. Nhưng rất nhiều người lính trẻ chưa đầy đôi mươi đã tạm biệt ga Hàng Cỏ xuôi nam và chuyến tàu đưa họ đi là chuyến cuối cùng trong đời. Đọc bài thơ ấy của lão bạn xong, bất giác mình nhìn trang báo thấy nó thấm nhòe nước mắt.

Thơ Nguyễn Việt Chiến là vậy.

Đận tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức cuộc thi thơ 2007-2008, mình thấy lão tham gia một chùm, có bài “Thời đất nước gian lao”, chắc mẩm thế nào lão cũng gặt hái ra trò. Rồi năm 2010 tạp chí công bố Nguyễn Việt Chiến đoạt giải nhì (B, không có giải nhất) chính bài đó. Trong khoảng thời gian trên, ông bạn tôi vừa mang thêm danh hiệu cao quý “cựu tù nhân vụ chống tham nhũng PMU18”. Ít bữa sau nhà thi sĩ cựu tù nhân tuyên bố không nhận giải, nghĩ có chuyện rồi. Sau nghe chính anh kể lại, rằng thương mấy lão bên Văn nghệ quân đội quá, cấp trên xài xể cằn nhằn, góp ý điều nọ tiếng kia nên Việt Chiến chủ động tháo gỡ. Giải có cũng được, không có chả chết ai. Bài này sau báo Thanh Niên nhà mình đăng lại, dư luận khen quá trời. Chỗ này phải nói thêm cho cả nghĩa, đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội, ngoài ba người lính, có ma nào đọc, nhưng trên Thanh Niên thì khác nhá. Tiếng tăm thi sĩ cựu tù nhân nổi như cồn.

Hồi giữa năm này, cả nước ồn ào vụ tàu Trung Quốc vào biển Việt Nam cắt cáp dầu khí tàu Bình Minh, quấy phá chặn tàu khảo sát Viking. Gớm, cứ sôi sùng sục. Sài Gòn, Hà Nội dân chúng xuống đường biểu tình, cờ đỏ sao vàng khẩu hiệu kêu gọi bảo vệ chủ quyền biển đảo rợp đường. Chính quyền nửa bằng lòng nửa không. Cái đầu óc nhanh nhạy của lão nhà thơ bạn tôi nghĩ ra ngay điều cần làm. Lão lục lại được bài viết từ hồi hơi xa, năm 2009, nhưng vào lúc này lại cực kỳ thời sự. Chiếc lò vi sóng cuộc sống đang nóng giãy đành đạch, bỏ vào là thành món ngon ngay. Nội dung chả chê được chỗ nào, trên thích dưới ưa, hài hòa nhà nước nhân dân. Chỉ riêng cái tít “Tổ quốc nhìn từ biển” đã ăn giải rồi. Anh em bộ đội hải quân thích mê tơi. Ban tuyên giáo thích mê tơi. Mở gu-gồ sợt cái tên bài thơ và tên thi sĩ thì có mà đếm mệt nghỉ. Mình nghĩ lẩn thẩn, mấy tờ báo nếu biết điều nên gom ít tiền thu được xung quanh vụ này mà trả tác quyền cho lão Chiến mới phải. Giới văn nghệ văn gừng ăn theo kẻ ít người nhiều. Nổi nhất là cái cô nhạc sĩ Quỳnh Hợp của đài phát thanh ở Sài Gòn, cũng từng viết khá khá bài nhưng ít người biết, nay phổ “Tổ quốc nhìn từ biển”, mình đã nghe, thực thà thấy chả hay lắm, nhưng báo chí biết đến ầm ầm, quân chủng hải quân bao sô tổ chức cho cả một đêm nhạc giữa Sài Gòn, tướng lĩnh lẫn lính tráng thủy thủ kéo nhau ngồi coi chật rạp, vỗ tay rầm rầm, khoái cực.

Đầu tháng 3.2008, mình đang đứng ở hành lang tầng 3 cơ quan thì có người vỗ vai cái bộp. Chiến đây, vẫn kiểu thông báo ngắn gọn như thế. Trông lão phờ phạc, mái tóc không được quan tâm chăm sóc nhuộm nên trắng phớ. Suốt nhiều tháng qua, PV Việt Chiến, có sự trợ giúp của đàn em Káp Thành Long, là tay chiến tướng, chủ công chủ lực của báo nhà trong chiến dịch chống tham nhũng, đặc biệt là vụ PMU18. Cuộc chiến thông tin giữa các báo cực kỳ căng thẳng, chỉ cần chậm một nhịp cũng mất bạn đọc, mất nhiều là đằng khác, như chơi. Với mối quan hệ rộng rãi, khéo léo, chân thành của mình, lão Chiến đã đem về cho báo Thanh Niên nhiều thông tin nóng hôi hổi, vô cùng giá trị. Báo tăng lượng phát hành từng ngày. Nhưng…, chả cần nói nữa, ai cũng tỏ tường cả rồi.

Từ trái sang, hàng ngồi: Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Quang Lập (bọ Lập), hàng đứng: Hoàng Hải Vân (Huỳnh Kim Sánh), Phạm Xuân Nguyên (Nguyên đầu bạc)

Ông bạn tuổi rồng nhả khói thuốc, ghé tai tôi, ông ạ, chắc chúng nó bắt tôi, chuyến này thì đi tù chứ chẳng chơi. Cũng như nhiều anh em khác của cơ quan đang say chiến thắng, tôi hậm hừ làm đếch gì có chuyện đó. Người hùng chống tham nhũng làm tôi tin ngay: anh K. cho tôi vào chuyến này đi chơi đã đời, Đà Lạt, Phan Thiết… đâu cũng được, xong rồi ra cho nó bắt. Anh ấy còn nói, nó mà bắt ông thì tôi sẽ làm nhiệm vụ thăm nuôi ông, ông cứ yên tâm. Thế thì có chuyện thật rồi. Nhưng thoắt một cái, người thơ trong Việt Chiến trỗi dậy, dường như xóa sạch mọi lo lắng, quên tiệt cả việc mình sắp phải đi tù. Lão móc túi lấy ra mảnh giấy nhàu nát đọc cho tôi nghe bài thơ mới nhất, lão bảo đặt tạm tên là “Thơ viết trên máy bay”, giọng thơ và giọng đọc hơi buồn, tâm trạng u ẩn, tôi nghe mà chả nhớ được câu nào bởi lúc đó hồn vía tôi đang nghĩ đến cái Hỏa Lò mới ở Hà Nội.

Ngày 13.5.2008, nhà báo Nguyễn Việt Chiến bị bắt, thân thể tại ngục trung. Báo Thanh Niên giật con tít to đùng trên trang nhất, chiều cao chữ cỡ hai ngón tay, gây xôn xao một thời. Tôi lính lác nên chả được suất ra thăm bạn, nghe anh em về bảo tinh thần vững lắm, chỉ phải cái phát sinh đủ thứ bệnh. Thì nhà tù mà. Cùng bị bắt với anh có nhà báo Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ, là con rể bạn cùng lớp với tôi. Cứ hồi hộp chờ ngày Chiến, Hải ra tòa. Ngày 14.10.2008, một lần nữa tôi thêm yêu ông bạn già Nguyễn Việt Chiến. Trước tòa, anh không chối quanh co, không đổ cho người này người khác, anh nhận những gì anh làm và khẳng định không có tội. Tôi thấy buồn cho Hải, cho bạn gái của tôi (mẹ vợ Hải) khi Hải chọn cách ứng xử khác anh Chiến, mặc dù Hải bữa đó có rất đông đồng nghiệp cùng cơ quan trong Nam ngoài Bắc đến chứng kiến, động viên anh. Án 2 năm tù chứ hai mươi năm, tôi nghĩ, ai chẳng biết, chứ Nguyễn Việt Chiến của tôi coi nhẹ tựa lông hồng.

Cả Chiến và Hải đều được ra tù sớm. Thực ra nhà lao chế độ cũng chả muốn giam giữ mấy ông loại này lâu làm gì. Càng kéo dài càng phiền phức, chi bằng phóng thích sớm chừng nào hay chừng ấy. Cuối năm 2009, lão vào Sài Gòn, phôn tôi ra chỗ nhà hàng đầu đường Trần Phú, Q.5 làm vại bia. Tôi tới nơi thì lão đã yên vị rồi, tóc đen nhánh, thẳng thớm, mặt mũi hồng hào, đang cười khơ khớ với luật sư Trần Vũ Hải. Chúng tôi chúc mừng cuộc sống đầy những bất ngờ. Giữa đám ồn ào như chợ vỡ, tôi hét lên vào tai lão Chiến, này, các ông tướng Phạm Xuân Quắc, thượng tá Đinh Văn Huynh phải chịu ơn anh đấy. Ai chả biết những tài liệu đó, nhà báo các ông nếu không được các vị ấy xì cho thì ma nào xớ rớ nổi. Nhà thơ của tôi cười khớ khớ, nào, uống chúc mừng ông Quắc, ông Huynh.

9.2011

Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Những bài hát của một thời (2)

Tác giả ca khúc này là người cực kỳ uyên bác, biết nhiều ngoại ngữ, viết nhạc tay trái thôi mà nhiều nhà tay phải chả bằng. Ông là Xuân Oanh (mất ngày 27.3.2010), từng nổi tiếng với ca khúc hào hùng sôi nổi 19 Tháng 8 ghi đậm dấu ấn thời khắc vẻ vang của dân tộc. Nhưng mình lại thích 2 bài khác của ông hơn, đó là Quê hương anh bộ đội, và bài này, cái tên cực kỳ nôm na: Ca ngợi chế độ ta tươi đẹp. Tên vậy thôi, nhưng bạn hãy nghe đi, một giai điệu cực đẹp, trong sáng vô cùng. Đảm bảo bạn sẽ rưng rưng đấy.
Bài hát trên đã thấm vào tâm hồn những người cùng thế hệ mình, qua giọng hát của tốp ca lừng danh, tốp ca nữ đoàn ca nhạc đài Tiếng nói Việt Nam. Mình cũng thắc mắc, tại sao người ta có thể khen thưởng, ban phát giải này giải khác, danh hiệu nọ danh hiệu kia, cao quý và gần cao quý, một cách rộng rãi, thậm chí dễ dãi, mà sao không nhớ đến đội hát tuyệt vời ấy. Những Kim Oanh, Thương Huyền, Mộng Dung, Thúy Hà, Tường Thụ, Diệu Thúy, Thanh Hòa, Trần Khánh, Trần Chất, Trần Thụ, Quý Dương, Mạnh Hà, Kiều Hưng... khiến hàng triệu người ngất ngây, say đắm. Nói công bằng, các tốp ca nữ, tốp ca nam, tốp ca nam nữ và không ít người trong số họ xứng đáng được phong anh hùng, được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước, được mang danh hiệu nghệ sĩ nhân dân. Nhưng thôi, đó là chuyện của mấy ông nhà nước, làm hay không làm, tùy các vị.
Mình cũng muốn nói thêm rằng, thời ấy, chả cần nhiều ban nọ ban kia tuyên truyền giáo dục, chỉ cần nghe những lời ca tiếng hát như bài mà mình sẽ giới thiệu sau đây là con người, bất kể già trẻ gái trai có thể quên mình vì cuộc sống, vì con người, vì chế độ, chả cần đến thứ tuyên giáo tuyên úy gì. Một bài hát tác dụng bằng nghìn ban tuyên giáo.
Bản clip này chất lượng rất tốt, nhưng khi bạn truy cập có thể nghe chập chờn. Đó là do mạng quá tải khi giờ cao điểm nên chậm. Bạn hãy click vào nút Pause để tạm ngưng 1-2 phút cho mạng dowload trước chút đã, sau đó Play tiếp tục thì nghe đều, rõ hơn.

9.9.2011
Nguyễn Thông

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Kiếp người phận văn

Đầu giờ chiều nay mình nhận được tin một người bạn đã ra đi, đi mãi.

Anh Cao Vũ Trân là đồng môn đồng tuế với mình, biết nhau dưới mái trường Tổng hợp Hà Nội, mình khóa trước anh khóa sau (1973-1977). Đó là chàng trai hoạt bát, tài hoa, riêng khoản ăn nói thì mình càng thêm bái phục. Cùng ở chung ký túc xá Mễ Trì, Trân ngụ tầng dưới đất (trệt), mình tuốt tầng 3, vậy mà tiếng oang oang của anh chàng cứ như vang 6 cõi.

Cao Vũ Trân người Nam Định, dân trường chuyên Lê Hồng Phong nức tiếng. Hồi những năm 60-70 mà ai nói học Lê Hồng Phong Nam Định cả trăm người nghe đều cúi đầu lè lưỡi khâm phục. Chả đâu xa, cùng và sát thế hệ mình là những cái tên dữ dội Vũ Đức Nghiệu, Phạm Văn Bích, Nguyễn Quốc Phong, Đoàn Đức Phương, Cao Vũ Trân… từ lò đó mà ra. Chỉ có chuyên văn Hà Tĩnh, Thanh Hóa thì may ra mới đọ được Nam Định.

Cao Vũ Trân để lại ấn tượng đẹp trong giới chuyên văn bởi anh từng đoạt giải nhất văn cấp 3 (lớp 10) toàn miền Bắc, mình nhớ không lầm là năm 1972, có bài đăng trong sách tuyển những bài văn đoạt giải. Hồi ấy, ai có bài như thế, khác gì thò được một chân vào chốn hàn lâm. Dân mê văn vô cùng thần tượng các anh Nguyễn An Định, Nguyễn Văn Thạc, Đỗ Tương Như, Trần Nho Thìn, Cao Vũ Trân… bởi vậy đó. Giải nhất văn toàn miền Bắc đâu phải chuyện đùa. Bài của Trân, mình vẫn nhớ là cái bài viết dưới dạng lá thư gửi cho các bạn Cuba nói về cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc, về vẻ đẹp sâu thẳm tâm hồn con người Việt Nam. Viết được cỡ vậy, thì treo giải nhất chi nhường cho ai, chả có gì phải bàn cãi.

Trân học giỏi, tốt nghiệp được giữ lại trường, làm giảng viên khoa Văn. Mình vào nam 1 năm trước, xa cách, từ đó mình cũng ít liên lạc, nhưng nghe nói do tính khí hơi đặc trưng nên anh cũng lận đận đường công danh, giống như ông bạn Trần Ngọc Vương cùng khóa cùng lớp với mình vậy.

Sáng nay anh đi khám bệnh. Một cơn đau tim đến đột ngột. Không qua khỏi, ra đi ngay tại bệnh viện lúc 1 rưỡi chiều. Đã qua cái hạn 49-53, vậy mà tai ương định mệnh vẫn còn rình rập, thật thương.

Nhắc đến Cao Vũ Trân, mình cứ nhớ mãi cái thời môn văn được tôn trọng hết mực. Tươi sáng, lành mạnh, nguy nga như tòa lâu đài. Người viết văn, dạy văn, học văn lúc nào cũng cảm thấy được xã hội đeo trên ngực mình tấm huân chương danh dự. Văn khoa Tổng hợp với rất nhiều thầy đại cổ thụ trên giảng đường là niềm mơ ước của bao thế hệ học trò yêu say văn chương. Tiếc rằng mình cũng mon men được vào chốn đó nhưng không tận tâm cố gắng nên chả gặt hái được gì. Nhiều năm trở lại đây, văn suy giảm dần giá trị, bị xem thường, thậm chí coi rẻ coi khinh. Âu cũng là kết quả của thời buổi nhiễu nhương, giá trị đảo lộn, đồng tiền lên ngôi. Kiếp người phận văn tủi hổ, biết làm sao bây giờ.

Mình chỉ ao ước một ngày nào đó người ta lấy lại cái tên oai hùng Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, và khoa Văn lại về vị trí đẹp đẽ quyến rũ ngày xưa.

Cao Vũ Trân bay đi, nhớ để chút gì phù hộ cho niềm mơ ước ấy của bọn mình, Trân nhé.

8.9.2011

(tranh thủ viết trong giờ chờ việc cho số báo ngày mai)

Nguyễn Thông

Đá và người

Sau đám mây kia còn có gì nữa không?

Hai hòn đá trên sao Hỏa sau 36 tỉ năm câm nín tự dưng mở mồm:
-Này cụ, hình như bên Trái đất có sự sống hay sao ấy.
-Có. Tôi còn nghe loáng thoáng ở bển chém giết, giành giật, dối trá lừa đảo, hám danh, cướp tiệm vàng, nhậu phà chết đuối, biểu tình gì đó... tùm lum. Sự sống mà thế thì tồn tại được mấy hồi.
-Té ra cứ câm như đá giống chúng mình lại được lòng tạo hóa bề trên, chả sợ gì, cụ nhỉ.
-Trái đất nó gọi thế là “ngu si hưởng thái bình”, thưa cụ.

-Phải, cụ nói chí phải.

-À, mà xưa ông tạo hóa cứ bảo “lặng câm như đá”, có nhẽ giờ phải xin đổi lại cho hợp là “lặng câm như người”, cụ ạ.

-Cụ chỉ được cái nói đúng.


8.2011

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Trung thu trăng sáng

Hầu như suốt tuổi thơ, mình chỉ biết tết trung thu mà không mấy khi được hưởng hương vị ngọt ngào của nó. Cũng dễ hiểu, bởi mình ở nông thôn, nhà nghèo, bố mẹ làm ruộng, thời thơ ấu lại trúng vào đận nghèo đói, chiến tranh, miếng cơm độn khoai chả đủ, nói gì đến bánh trung thu.

Trong ký ức lưu đến giờ, mình vẫn coi trung thu là tết đón trăng của trẻ con. Ngày ấy chỉ tụi trẻ mới khao khát chờ đón rằm tháng tám, chứ người lớn mải lo làm ăn cày cấy, hơi đâu mà thu với chả đông. Với người lớn, đến rằm, dù tháng tám hay tháng mấy đi nữa, thì cúng rằm, vậy thôi. Chỉ có khác là rằm tháng giêng, tháng bảy và tháng tám mâm cúng nhỉnh nhao hơn một chút, và tháng tám cúng tối là chính. Vẫn xôi chè làm đầu, thắp nén hương lên bàn thờ ông bà, khấn chung cả trời đất tổ tiên phù hộ. Ấy là chuyện của người nhớn.

Bánh trung thu, như đã nói, mình trải bao mùa trăng tháng tám nhưng có biết hình dạng nó thế nào. Mãi sau, đến hơn 10 tuổi, khi nhà mình đã vào hợp tác, tối rằm tháng tám năm xa xôi năm nảo năm nào, mình mới được cùng bọn trẻ con, có cả cô Ngọt em mình nữa, vào sân nhà ông Thám đội trưởng sản xuất lĩnh bánh trung thu. Đó là cái bánh nướng, nhân gồm thịt, bột, mứt bí, lạp xường… hình tròn hoặc vuông, nướng ngả màu vàng xém, to cỡ lòng bàn tay. Nhà mình được 4 chiếc, hai bánh nướng, hai bánh dẻo, chỉ cho bọn thiếu nhi thôi, còn anh Uy chị Khoắn lớn rồi, thanh niên rồi không có suất. Hương vị của chiếc bánh trung thu ấy cứ theo mình mãi, cũng chả phải vì nó ngon mà vì lần đầu tiên mình được biết thế nào là bánh trung thu.

Trung thu nông thôn phụ thuộc vào trăng. Tháng tám miền Bắc trời hay mưa. Rằm năm nào trăng sáng thì vui, còn tổ chức trống ếch rước đèn chỗ này chỗ khác. Gặp phải rằm mưa hoặc trời nhiều mây, trung thu buồn thiu buồn thỉu. Nông thôn nửa đầu nhưng năm 60 trở về trước chưa có điện, nên trăng là niềm vui con trẻ. Mà hầu như cũng chỉ kéo nhau tập trung ở sân kho hợp tác chứ chả mấy khi rước đèn đi nhong nhong đường này ngõ nọ như bây giờ.

Đèn trung thu tự làm lấy là chính. Tre pheo sẵn, nhưng giấy bóng kính đỏ hồng xanh vàng phải lên phố huyện mua, mà hiếm lắm, có năm nhặt nhạnh mãi chả được bao nhiêu. Đứa nào khéo tay thì làm đèn kéo quân, đèn lồng, còn loại vụng về như mình chỉ ra được hình ngôi sao 5 cánh hoặc con cá là đã ghê gớm lắm. Kiếm dây thép cuộn thành lò xo gắn vào giữa để nhét ngọn nến. Nhưng có thứ nến khác không phải bằng sáp ong mà rất tuyệt vời, bằng nhân hạt bòng hạt bưởi. Ngay từ tháng 7 ta, nếu ăn bòng bưởi là phải giữ lại hạt, bóc vỏ ra, xỏ vào que tre thật thẳng, xếp khít nhau, đem phơi nắng thật khô. Đêm rằm, lôi những ngọn đuốc ngọn đèn nhỏ xíu xinh xinh bằng hạt bưởi ra đốt thật thú vị. Hạt khô nhưng có tinh dầu, cháy đượm, sáng, nổ lách tách, tỏa mùi thơm dễ chịu, và đặc biệt ra gió chẳng mấy khi tắt.

Mình lớn lên, học hành rồi xa quê, trung thu chỉ còn là hình ảnh nhạt nhòa giữa cuộc mưu sinh đầy vất vả. Mà lớn rồi, quan tâm làm gì. Sau lúc lập gia đình, có con mới lại nghĩ đến trung thu. Tụi trẻ ở thành phố có dạo chỉ quan tâm đến bánh, vì chúng thèm, nhưng khi no đủ rồi chỉ thích đi chơi. Mà cũng chả rước đèn đuốc gì, toàn kéo nhau đàn đúm xem kịch xem phim, hết suất thì về. Trung thu thành phố dường như thiếu hẳn thứ quan trọng nhất: ông trăng. Trăng thành phố chịu lép dưới ánh điện nên vô vị lắm. Cứ mờ mờ nhàn nhạt, dường có dường không. Và buồn làm sao ấy.

Hồi rằm tháng tám năm ngoái, mình hứng chí về quê Hải Phòng đón tết trung thu với mẹ già, các em các cháu. Đầu hai thứ tóc, tuổi vượt ngưỡng tri thiên mệnh, ngồi bên cạnh mẹ đã 94, khung cảnh đầm ấm, chợt bồi hồi như ngày xửa ngày xưa.

Còn 5 đêm nữa là trung thu

Nguyễn Thông

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Đường cao tốc



Tiếng tây tiếng u mình chỉ lõm bõm nhưng đọc cái tít kia của bọn Tân Hoa xã thì cũng biết nó nói về cái gì. Thực ra mình còn biết trước nó nhiều, cái ảnh kèm theo đây làm chứng (chụp tháng 9.2010, bên bờ sông Đa Độ, H.Kiến Thụy, Hải Phòng).
Con đường gọi là đường cao tốc này, có một đoạn chạy qua quê mình, chính xác là qua xã của ông Nguyễn Văn Thuận, nguyên bí thư Thành ủy Hải Phòng. Nghe mấy đứa cháu nói, ông Thuận là người nhiệt liệt ủng hộ dự án cao tốc. Đường cao tốc chạy qua nhà, chả biết đem lại lợi ích gì? Nhưng một ông cháu họ của mình, sĩ quan hải quân thuộc cỡ sem sém cao cấp, đã hưu, lại bình rằng nếu lính Tàu đổ bộ lối HP, có đường cao tốc nó chỉ cần mất hơn tiếng đồng hồ là tới thủ đô.
Mấy lần mình về quê đều thấy dự án chả nhúc nhích bao nhiêu (đã qua 6 - 7 năm rồi), nhà thầu TQ cứ ì ra chả chịu làm. Chỗ này chỗ kia trên tuyến, chúng dựng những cái cổng chào đỏ chói, trải mấy mùa mưa nắng bị bợt bạt sơn thì nó lại thay cái mới. Hình như nhà thầu TQ ở đâu cũng vậy. Trong Sài Gòn khổ vì dự án cải tạo kêng Nhiêu Lộc cũng bởi nó.

Chinese company builds highway in northern Vietnam

Sept. 5 (Xinhua) -- China's Guangdong Provincial Changda Highway Engineering Co., Ltd. on Monday kicked off construction of a highway project to link the Vietnamese capital Hanoi and city Haiphong.

Vice-governor of China's Guangdong Province Zhao Yufang, governor of Vietnamese Hai Duong Province Nguyen Manh Hien, representatives of Chinese Embassy in Vietnam, project owner and contractor attended the ground breaking ceremony in Vietnam's northern Hai Duong Province.

Addressing the ceremony, Zhao said that in recent years, the economic, trade and investment cooperation between China's Guangdong Province and Vietnam has achieved remarkable success. The construction of Hanoi to Haiphong highway project would bring the cooperation to a new stage.

She said with a high sense of responsibility, the Chinese company would complete the task of construction project with success and high quality. She hopes the two sides will continue joining hands to intensify support for the project, and the friendly cooperation between China's Guangdong Province and Vietnam.

Chairman of the Changda Highway Engineering Company Liu Gangliang said the Hanoi-Haiphong highway project was the Vietnam' s key infrastructure construction project, as well as one of the content of the "two corridors and one ring" plan made by the Chinese and Vietnamese governments.

"We will work closely with the project owner to make a high- quality and efficient completion of the project," Liu said.

Dao Van Chien, general manager of Vietnam Infrastructure Development and Finance Investment Company, the project owner, said the project, which links the Vietnamese capital and northern major port, would alleviate the congested traffic from Hanoi to Haiphong, improve logistical effectiveness and play an important role for the economic development in Vietnam.

The Hanoi-Haiphong highway project, which is designed with a total length of 105 km, two-way 6-lane, and top speed of 120 km, is a key infrastructure project in northern Vietnam.

The Changda Highway Engineering Company tenders construction length of 15.3 km, the longest contract for the whole project, with the contract value of 180 million U.S. dollars. The project, signed in January this year, is so far the largest project of Guangdong enterprises in ASEAN countries.