Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện đi lại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện đi lại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 7, cuối)

Những ai ở miền Nam thời kỳ sau năm 1975, cụ thể là nửa cuối thập niên 70, gần hết thập niên 80, chắc khó quên một thành tựu công nghệ, một phát minh khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội: xe chạy than. Nỗi ám ảnh của một thời.

Bây giờ tụi trẻ mỗi lần đi xa đi gần đều leo lên ô tô, mà phải ghế nệm rộng rãi, có tivi, có máy lạnh mới chịu. Xe Phương Trang, Thành Bưởi, Cúc Tùng, Hoàng Long, Hải Âu… mà không chiều khách sẽ lỗ chỏng gọng, chả ai thèm đi. Nhưng ngược về vài chục năm trước, đó chỉ là giấc mơ.

Sau khi đánh thắng hai đế quốc to, những người cộng sản, nhất là mấy ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười… coi trời bằng vung, tự đắc chỉ có Việt Nam là nhất thế giới, muốn gì cũng được. Họ vênh vang tuyên bố từ nay đất nước vĩnh viễn sạch bóng quân thù, đường lớn xã hội chủ nghĩa rộng mở thênh thang, chả mấy chốc nữa sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Ông Duẩn nói chúng ta sẽ vượt cả Nhật Bản. Đi đâu, chỗ nào cũng thấy băng rôn, khẩu hiệu về chủ nghĩa xã hội. Nếu thời chiến tranh, những câu to đùng trên tường là “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”… thì bây giờ chuyển thành “Cả nước phấn đấu tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Trên nóc đầu hồi tòa nhà Hỏa xa Đông Dương cũ trông ra bùng binh chợ Bến Thành người ta kẻ câu đó mỗi chữ cao hơn mét, mắc đèn đêm đêm chiếu sáng rực. Tôi đã sống trong những năm tháng dữ dội ấy, đã cố góp phần công sức nhỏ bé của mình vào đại sự nghiệp, đã chứng kiến tất cả, và hiểu rằng người ta đã phá nát miền Nam thì sự thành công còn xa vời lắm.

Hệ thống cửa hàng thương nghiệp nhà nước ban đầu còn có hàng tồn kho, hàng chiếm được từ “bọn tư sản bóc lột” đem phân phối cho cán bộ công nhân viên, nhưng chỉ một thời gian ngắn cũng hết. Các thầy cô giáo những trường ở khu vực Chợ Lớn mỗi khi đến đợt mua nhu yếu phẩm thì tới cửa hàng thương nghiệp Bách hóa tổng hợp ở cuối đường Trần Hưng Đạo nối dài, còn có tên là Trần Hưng Đạo B (đường Đồng Khánh cũ) gần nhà thờ Cha Tam, xếp hàng đông như quân Nguyên, chen chúc chầu chực nửa ngày mới mua được mấy mét vải tiêu chuẩn, hoặc nửa ký đường, hộp sữa Thống Nhất. Chỉ riêng gạo thì bộ phận hành chính của trường nhận giúp từ kho lương thực đem về phân chia, thường tiêu chuẩn 14 ký thì chỉ có 4 – 5 ký gạo hẩm đầy bông cỏ hoặc sạn, còn lại là mì tôm, mì sợi, củ mì (sắn) và hạt cao lương (dân Nam gọi là hạt bo bo). Thầy Võ Thanh Long dạy lý trường tôi bảo thời đại cách mạng vẻ vang đâu chửa thấy, chỉ thấy thầy giáo tháo giầy, giáo chức dứt cháo. Thế mà vẫn cứ sống, kéo dài cả chục năm trời, cả thầy Long, cả tôi, và hàng chục triệu người đám dân chúng cần lao.

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 6)

Miền Nam, sau tháng 4.1975. Không khí hồ hởi của người dân đón chào ngày đất nước thống nhất, hai miền sum họp dần dà lắng xuống khi cả bên thắng cuộc lẫn thua cuộc phải đối mặt với thực tế thụt lùi từng ngày. Mọi thứ cứ xám xịt dần, cả lá cờ treo trước cổng trường tôi cũng bạc phếch, rách te tua mà không ai nghĩ tới việc hạ nó xuống, thay bằng lá khác tươi mới hơn. Tôi còn nhớ “thằng” Trần Tất Hùng, rất đẹp trai, tốt tính, nhân viên phòng hành chính, con rể ông hiệu phó, có lần tôi chỉ cho nó ngắm lá cờ, bảo sao không thay đi, nó nói nhỏ chả còn lá xơ cua nào để thay cả, mua mới thì không có tiền. Thầm nghĩ, trời ạ, tới cờ tổ quốc mà cũng chịu cảnh đói nghèo, nhưng lại tặc lưỡi cuộc sống thế nào thì cờ thế ấy.

Trong đám giáo viên Bắc Kỳ du nam, lão Vy (Nguyễn Văn Vy) bạn tôi vào Sài Gòn đầu năm 1976, tôi chậm hơn một nhịp vào đầu năm 1977. Chỉ hơn kém nhau có 1 năm mà khác hẳn nhiều thứ. Lão kể lúc mới tới Sài Gòn, cảm giác bị choáng ngợp. Lão được đi xe đò của các hãng Phi Long, Hưng Long mỗi người một ghế, có cả khăn lạnh lau mặt mặc dù lúc ở nhà đi đã rửa mặt rồi. Nhìn dãy xe đò mới tinh đủ màu sắc ở bến xe miền Tây mà khiếp. Cứ vào cổng đã có đứa ra săn đón hỏi chú hai, anh hai đi đâu đi đâu. Không phải mua vé, càng không phải xếp hàng, càng không phải chen lấn như hồi ở Hà Nội. Tới lúc tôi vào, cũng bến xe miền Tây, khi tôi đi dạy ở cơ sở Tiền Giang năm 1978 thì những điều lão Vy kể đã mau chóng chìm trong quá khứ. Những gì tôi chừng chứng kiến, từng trải qua, từng chịu đựng ở miền Bắc “xã hội chủ nghĩa tươi đẹp hơn vạn lần tư bản”, ở bến xe cầu Niệm, bến Nứa, bến Kim Liên, ga Hà Nội, ga Hải Phòng, bến xe buýt đi Hà Đông, ga tàu điện Bờ Hồ… giờ được lặp lại y nguyên, thậm chí khủng khiếp hơn. Có những điều, nhắm mắt lại cũng không thể hình dung tại sao nó có thể như thế.

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 5)

Phản ánh hiện thực, không gì bằng mắt thấy tai nghe, tự mình trải qua, chứng kiến. Tất nhiên cũng có những trường hợp “tự mình” nhưng bị hao mòn bởi thời gian, trí nhớ, nên sai lệch, không đầy đủ. Tôi hiểu điều ấy nên chỉ biên lại những gì mình còn cảm thấy chắc chắn, rõ ràng từ ký ức, chứ không phải dạng nhớ láng máng thế này thế nọ.

Sau hơn 1 năm có mặt ở Sài Gòn, tháng 6.1978 tôi có chuyến đi xa đầu tiên trên mảnh đất phương nam. Lão bạn tôi, một tay bộ đội đi học, Đào Gia Thiệp, đồng hương, rủ đi Cần Thơ cho biết “gạo trắng nước trong”. Đang đói, nghe tới gạo bỗng sáng mắt. Tôi là thầy, lão là trò, nhưng sự tinh quái thổ công thì lão làm thầy. Lão bảo không chỉ đi chơi đâu, mình xuống đó mua vài chục ký gạo đem về bán cho mụ Tàu sẽ lời đủ tiền chi phí. Nhưng thầy lĩnh lương chưa? Tôi gật. Thầy phải nhớ thật bình tĩnh khi qua trạm kiểm soát Tân Hương, cứ làm theo tôi, nghe chửa. Tôi lại gật. Ở lớp, mình là thầy nó. Ra đường, nhất là qua trạm Tân Hương thì đương nhiên nó là thầy mình. Giờ đây, ông thầy của thầy đang sống ở quê, xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Y đang học dở dang trường đại học sư phạm chỗ 222 Lê Văn Sỹ quận 3, không thích học nữa đùng đùng bỏ về quê. Có dạo làm trưởng thôn 2 nhiệm kỳ. Bà con tín nhiệm bầu nữa nhưng dứt khoát “treo ấn từ quan”, báu bở gì chức trưởng thôn.

Những chuyến trước tôi chỉ đi xa tới thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang là cùng bởi chỗ ấy có cơ sở 2 của trường. Khoan hẵng nói chuyện đi lại, kể về Mỹ Tho cái đã. Cả vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú mênh mông này, nếu không kể tới Cần Thơ được coi là Tây Đô, thủ phủ của vùng, đương nhiên là thành phố, thì Mỹ Tho là thành phố duy nhất trực thuộc tỉnh. Tất cả những đô thị còn lại như Gò Công, Vĩnh Long, Long Xuyên, Rạch Giá, Tân An… đều chỉ là thị xã. Lần mần tìm hiểu, thì ra Mỹ Tho là thứ đô thị sầm uất đầu tiên ở miền Nam, chỉ ra đời sau Sài Gòn. Thời Pháp, có nhiều nhà giàu vùng Mỹ Tho còn giàu hơn cả đại gia Sài thành. Người Pháp đã xây ở đây một thành phố tuyệt đẹp trên bến dưới thuyền, kéo cả đường sắt về tận nơi này. Đó là tuyến đường sắt duy nhất thọc xuống Nam Bộ, dài khoảng 70 cây số, qua nhiều con sông, cả những sông rộng như Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, quân Việt minh đã phá hoại con đường xe lửa này nên nó bị tạm ngưng hoạt động. Tới thời Việt Nam cộng hòa, ông Diệm cho khôi phục, vận hành trở lại để chuyên chở hàng hóa và dân chúng đi lại nhưng nghe nói chỉ được một thời gian lại ngưng, vì nhiều lý do, trong đó có lý do sự cạnh tranh của các hãng xe đò chở khách. Cuối cùng, chính quyền đã chấm dứt tuyến đường sắt độc đạo về miền Tây. Thật tiếc.

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 4)

Có những bạn sau khi đọc mấy bài đầu tôi biên chép về chuyện đi lại bằng xe đò ở miền Nam thời trước năm 1975 đã nhận xét hài hước rằng ai lại làm cái việc khen phò mã tốt áo thế bao giờ. Rồi còn bảo, thế ông không nhớ chính quyền miền Bắc suốt bao năm miệt thị đời sống kinh tế, xã hội ở miền Nam là phồn vinh giả tạo à. Nhớ chứ sao không. Tôi từng có hẳn một bài phân tích thành ngữ mới “Phồn vinh giả tạo” thì quên thế quái nào được.

Ông bạn tôi, thầy giáo Nguyễn Văn Vy, đồng hương, đồng môn, đồng nghiệp, chỉ mỗi chút “bất đồng” là lão học trước tôi một khóa, vào Sài Gòn trước tôi một năm, và đã đi gặp các cụ tổ tiên quá sớm. Tháng 12.1975, lão tốt nghiệp, được về quê Thủy Nguyên (Hải Phòng) hơn chục ngày rồi nhận ngay quyết định phân công công tác tít tận trong Nam, nơi đang thiếu giáo viên các môn khoa học xã hội. Tức là có mặt ở Sài Gòn chỉ sau khi đất nước thống nhất hơn nửa năm. Lão từng kể cho tôi nghe rằng, mày ạ, hồi tao mới vào đi xe đò trong này sướng vô cùng, không có cảnh chen nhau bẹp ruột, xếp hàng mòn mỏi, hành hạ hành khách như ngoài mình. Hồi tháng 1.1976, lão kể tiếp, tao đi dạy ở cơ sở Tiền Giang, không cần ra tận bến xe miền Tây, chỉ tới ngã sáu Nguyễn Tri Phương quận 5 là có xe đò ngang qua tới hốt mình. Bọn lơ xe mời mọc, thiếu điều dìu mình vào ghế, xách hộ hành lý cho mình để tận nơi không khác gì mình là… cha chúng nó (lão kể và cười hì hì). Điều khác biệt nhất của sự đi lại giữa hai miền không phải là đường sá, xe cộ, mặc dù những thứ này miền Nam hơn hẳn, mà là thái độ trọng thị con người. Một thứ văn minh, văn hóa trong đời sống, chúng mình không tìm thấy ở miền Bắc, hóa ra có ở miền Nam, mày ạ.

Điều may mắn cho ông bạn tôi là lão được hưởng chút ít cuộc sống chất lượng cao còn sót lại sau tháng 4.1975, ở thời điểm hàng hóa vật chất còn dư dả, chưa bị chính quyền mới phá nát, con người mới chưa kịp tác oai tác quái, khi xăng dầu dù đã khan dần do bị cấm vận nhưng những kho xăng khổng lồ mà đặc công, biệt động chưa kịp đánh bom vẫn còn, khi xe cộ chưa bị ông thiên lôi Đỗ Mười giơ búa quốc hữu hóa đánh những đòn chí mạng trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Tới lúc tôi lò dò bước lên bến Nhà Rồng tháng 4.1977 thì về cơ bản miền Nam đã đạt “chuẩn nghèo khó” như miền Bắc, những cái gọi là “phồn vinh giả tạo”, “bơ thừa sữa cặn” đã tan thành mây khói. Ngay những chuyến xe đò chở khách Hưng Long mà tôi đi Tiền Giang, sự ân cần của chủ xe, tài xế, lơ xe với khách vẫn còn, nhưng xe cộ đã bắt đầu cũ kỹ xộc xệch bởi không có phụ tùng thay thế, xăng dầu hiếm hơn nên mua vé đã phải chen chúc xếp hàng. Đã xảy ra những tranh cãi chí chóe giành chỗ, vé chợ đen, cảnh vất vưởng chầu chực ở bến xe có khi nửa ngày chưa mua được. Bóng ma sự đi lại ở miền Bắc tôi vừa thoát khỏi được ít ngày thì sau đó nó lại theo chế độ mới vào miền Nam để làm nốt công việc xóa sạch tàn dư tư bản chủ nghĩa.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 3)

Nhắc tới sự đi lại, không thể không nhớ tới cái ô tô.

Hôm trước tình cờ coi trên trang “báo địch” BBC thấy chùm ảnh tư liệu của các phóng viên AP, AFP, NYT, và tất nhiên của BBC nữa, về cuộc sống ở miền Nam, ở Sài Gòn những năm trước “giải phóng”. Khá nhiều ảnh chụp từ hồi cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, thời ông Ngô Đình Diệm. Coi chán chê, mới ngớ ra, những gì mình từng được tuyên truyền, được giáo huấn (mà người cộng sản gọi phương thức này của kẻ địch là nhồi sọ) hồi tuổi thiếu nhi và thanh niên lại khác hẳn với những bức ảnh sống động này. Không có gì gọi là chìm đắm, rên xiết, màn đêm đen tối… của cái chế độ Mỹ ngụy tàn bạo. Trong ảnh vẫn phảng phất đâu đó bóng ma chiến tranh nhưng rõ ràng cuộc sống miền Nam khởi sắc, giàu có, vật chất đầy đủ hơn hẳn những gì mình tưởng tượng. Hay là đám phóng viên nước ngoài nhận tiền của “bọn” Ngô Đình Diệm, Thiệu - Kỳ rồi tô hồng cho cái cuộc sống mà miền Bắc định nghĩa là bơ thừa sữa cặn. Có nhẽ đâu thế.

Điều rất sửng sốt trong những sự bất ngờ là phương tiện đi lại. Nó nói lên sự khác biệt của hai miền. Như đã nói trong những bài trước, mãi tới tận thập niên 70 phần đông dân chúng miền Bắc đến cái xe đạp cũng không có mà đi. Xe công cộng như xe khách (trong Nam gọi là xe đò), xe buýt rất hiếm. Lứa chúng tôi, đám sinh ra giữa thập niên 50, từ sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, “bốt đồn Tây đã cuốn sạch rồi”, lớn lên giữa chế độ mới, không hề biết taxi là gì. Trên đường phố miền Bắc, những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… lọt vào mắt là những chiếc xích lô xộc xệch với dáng đạp uể oải của tấm thân gầy còm. Xe ô tô con rất hiếm, chủ yếu đám Volga, Moskvic, Lada do Liên Xô sản xuất chỉ để dành cho cán bộ cấp trung ương trở lên. Ngay cả những thầy nổi tiếng ở trường Đại học Tổng hợp hà Nội hồi nửa đầu thập niên 70, duy nhất có Giáo sư Ngụy Như Kontum hiệu trưởng được cưỡi xe Moskvic, còn thầy hiệu phó Dương Hữu Thời, thầy bí thư đảng ủy Nguyễn Đình Tứ, thầy Hoàng Xuân Nhị giáo sư chủ nhiệm khoa Văn, thầy Phan Hữu Dật giáo sư chủ nhiệm khoa Sử, những vị trí thức nổi tiếng từ thời Pháp thuộc (không kể thầy Tứ đi Liên Xô về) đều phải nói “không” với ô tô. Các vị sư biểu ấy có người chạy xe gắn máy (như thầy Nhị), còn phần lớn đều diện xe đạp.

Những nẻo đường miền Bắc thời ấy trông thật nghèo nàn, thiếu thốn, xơ xác. Chúng phô bày ra trên từng mét đường, có muốn giấu, muốn che đậy cũng không giấu nổi.

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

Chuyện đi lại (kỳ 2)

Những năm chiến tranh và thời bao cấp ở miền Bắc, nếu không kể tới chuyện chết chóc đạn bom vốn rình rập thường ngày, thì trong những cái khổ, khổ nhất là đói ăn và rách rưới, khổ nhì là việc đi lại. Những sự khổ sở bất hạnh khác, chỉ đáng xếp sau hai “đặc sản” ấy.

Đói và rách, đương nhiên không thể tránh khỏi. Nền kinh tế tập trung, quốc doanh tuyệt đối, nhất nhất theo sự chỉ đạo điều hành của nhà nước đã đẩy con người vào chân tường cùng quẫn. Loại trừ một bộ phận cán bộ được nhà nước chăm lo ưu đãi, thì hầu như cả phần sinh mệnh còn lại của xã hội, của cuộc sống đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, kể cả cán bộ và dân chúng, rơi vào thảm cảnh đói rách. Khổ nhất là nông dân và dân tự do ở thành thị. Tôi từng chứng kiến, từng nghe người ta khi trò chuyện vãn với nhau, họ chả ao ước gì, chỉ ước được ăn no, được bát cơm không có độn. Chỉ cần no thôi, không cần ngon, bởi bị đói quanh năm chứ đâu phải chỉ đận giáp hạt, tháng ba ngày tám, nên cốt no đã, ngon mà làm gì cho phí lời ao ước, khó thành hiện thực.

Và quần áo, cũng chỉ ước ao lành lặn, đừng rách rưới là được, chưa cần đẹp. Ai đời tới lúc máy bay Mỹ đánh ra miền Bắc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được cả chục năm, rồi 15 năm, rồi 20 năm mà vẫn cứ vá chằng vá đụp. Ông anh rể tôi có chiếc áo sơ mi vải pô pơ lin trắng Liên Xô, mặc sà sã hơn chục năm, lộn cổ đi lộn cổ lại, đứt cúc mấy lần, áo dài tay phải cắt thành ngắn tay bởi không thể vá mãi chỗ khuỷu bị dầy quá, màu trắng chuyển thành màu cháo lòng vàng khè, thế mà vẫn không dám bỏ. Tôi bảo, bác cứ giặt sạch, cất vào đáy rương, giữ như thứ kỷ niệm về một thời hãi hùng, đừng bỏ nhé, sau này lấy ra cho con cháu nó ngắm nếu đời nó khá hơn đời anh em mình. Chả biết bây giờ chiếc áo đầy dấu ấn “lịch sử thời đại” ấy có còn không.

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Chuyện đi lại

Có những thứ, những điều tưởng đã được đào sâu chôn chặt trong ký ức, bỗng hôm nào đó tự dưng bị ai cầm cái mai cái thuổng phóng một nhát thật mạnh vào, thế là chúng lại bật văng lên. Tôi từng bị rất nhiều lần như vậy. Cũng tại cái số mình vất vả, không thể dễ quên đi như người ta.

Hôm nay, 30 tháng 4 dương lịch, nhà nước bây giờ coi là ngày lễ trọng. Chính quyền cho dân chúng nghỉ một mạch những 5 hôm liền để đi chơi, tiêu xài, mua sắm. Họ giải thích, bảo đó là biện pháp kích cầu. Phải kích mạnh cho dân móc túi ăn chơi. Làm “nhiều tiền để làm gì”. Nghe nói trong dân còn giấu cất hơn 500 tấn vàng cơ. Có mà ăn chơi nhòe cũng không hết. Và thế là những con đường trở nên nhộn nhịp. Máy bay rợp trời, nhà ga sân bay đông như cái chợ chứa đủ mọi thành phần, từ ông com lê ca vát bệ vệ đi đứng khoan thai, tới anh nông phu quần xắn móng lợn diện dép lê ôm điếu thuốc lào, bất kể chỗ nào cũng khạc, nhổ cái toẹt. Tàu hỏa chẳng chịu kém, băng băng trên đường sắt “đưa ta đến một ngày mai thật đẹp/ôi buổi bình minh dậy dọc đường/mướt xanh bờ liễu vút hàng dương”, chỉ còn thiếu “trắng phau nội cỏ cừu phơi tuyết” bởi cừu dê ở Ninh Thuận, Bình Thuận đang chết khát, phơi xương. Xe ô tô mới khiếp, đủ mọi hãng Phương Trang, Thành Bưởi, Mai Linh… chạy như mắc cửi, đón rước khách chu đáo chả khác gì đón Kim Jong-un ở ga Đồng Đăng bữa nọ. Lại còn những Grab, Uber, Goviet, ta chỉ bấm điện thoại nhoáy một nhát, là chúng phóng tới rước tận nhà. Thật đúng thời hoàng kim của đi lại, giao thông.

Tôi cứ bồi hồi nhớ lại những năm xa, mà thật ra chưa xa lắm, mới cách vài chục năm, trong cái hồi mà ta quen gọi thời bao cấp. Nhát mai nhát thuổng ấy, chả là hôm qua trên tivi, đài tỉnh lẻ Tiền Giang, chiếu lại bộ phim cũ xì “Chuyến xe bão táp”. Bây giờ, coi nó cũng như đọc lại chuyện cổ tích, chỉ có những ai, thế hệ sống vào những năm tháng ấy mới thấy rợn người.