Nhân thế gian đang um xùm vụ học lớp 1, sực nhớ ngày xưa cũ.
Hồi xưa ở miền Bắc, lứa sinh từ giữa thập niên 50 trở về sau tới thập niên 70, trước khi vào lớp 1 (hệ 10 năm theo kiểu Liên Xô) đều phải mất 1 năm tới lớp hẳn hoi để vỡ vạc chữ quốc ngữ (tiếng Việt). Khóa đào tạo đặc biệt ấy được gọi là lớp vỡ lòng. Ông anh họ tôi vốn hiệu trưởng trường cấp 1 xã, đùa bảo là lớp vỡ thình, ví như con chim non suốt tháng đầu được bố mẹ bón ăn, tới khi vỡ bọng cứt (thình là cái bọng cứt) thì mới có thể ra ràng bay khỏi tổ được. Nửa năm đầu học vần (tên gọi vỡ lòng), nửa năm cuối học viết chữ (tập chép).
Gõ đầu bọn trẻ ranh là thứ việc cực kỳ vất vả. Chúng là loại đối tượng rắn mày rắn mặt, còn khó dạy hơn cả thế lực thù địch bây giờ. Đứa nào đứa nấy mắt đầy dử (trong Nam gọi là ghèn), mũi thường trực thò lò hai dòng xanh lè, chốc đầu tinh những gầu và chấy, hay đánh gãy bút chì, uống nước lã thành thần, có đứa còn lén giấu khoai sống đem vào lớp ăn. Ngủ gật hơn cả đại biểu quốc hội. Trốn học như ranh. Gần như không đứa nào tử tế, mà dính đầy phốt, thậm chí quá nhiều tiền án tiền sự (đánh nhau, vặt trộm ổi táo nhà người ta, ném nhãn đình, tuốt đòng đòng ruộng hợp tác, mải chơi để trâu ăn mạ, đi rình ngó trộm các đôi trai gái ngắm trăng bên bờ cừ…).
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện lớp vỡ lòng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện lớp vỡ lòng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020
Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019
Biên thêm về "hậu lớp vỡ lòng"
Như đã nói, đám trẻ oắt làng tôi học xong lớp vỡ lòng (của cụ giáo Bạt, theo cách nói bây giờ là thầy chủ nhiệm) và lớp tập chép (cụ Mông hoặc cụ Thẫn) là đã đọc thông viết thạo. Nên khi vào lớp 1, đứa nào cũng rất tự tin, không cần phải ê a "ênh, lênh, khênh. Cái gì cao lớn lênh khênh/đứng mà không tựa ngã kềnh ngay ra" nữa.
Cả xã Thụy Hương (gồm 3 thôn) quê tôi những năm 1960 chỉ có mỗn trường cấp 1, còn nếu đã hết lớp 4 (tốt nghiệp cấp 1, ngày xưa thời Pháp gọi là có bằng sơ học yếu lược), muốn học cấp 2 phải sang xã Thanh Sơn láng giềng học chung với học sinh bên ấy. Thế hệ ông anh giai tôi phải học cấp 2 ở bên Thanh Sơn, tới tôi thì bắt đầu được học ở ngay xã nhà Thụy Hương. Cũng may là trường cấp 2 Thanh Sơn hơi bị gần, chỉ đi qua đầu núi Chè là tới. Thầy Giám (tôi không nhớ họ) làm hiệu trưởng Thanh Sơn suốt mấy chục năm. Thầy là hình ảnh của một vị trí thức được hấp thụ nền giáo dục ưu việt từ thời Pháp, vầng trán cao, mắt sáng, tài giỏi, nghiêm cẩn mà nhân hậu. Tôi không được học thầy nhưng thỉnh thoảng nhìn thấy thầy, còn anh tôi học giỏi toán là trò cưng của thầy, hay kể cho tôi và đứa em gái nghe về thầy; em tôi sau này theo nghề dạy học còn là lính của thầy. Thậm chí gia đình nhà nó ở hẳn trên khu nhà tập thể giáo viên trường Thanh Sơn, dãy nhà tựa lưng vào núi, có hộ khẩu tạm trú ở đó nhiều năm. Tôi ghé chơi, đùa gọi vợ chồng con cái nhà nó là đồng bào miền núi, người dân tộc thiểu số, làm sao mà văn minh bằng dân đồng bằng dưới này, cách vài trăm mét.
Quay lại chuyện trường cấp 1 Thụy Hương. Cơ sở chính của trường đặt tại đình làng, nơi thờ tự 3 vị: thành hoàng làng, bà Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người làng Trà, chồng bà là đức vua Mạc Đăng Dung. Hai vị sau chính là cội nguồn của câu ngạn ngữ "Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa". Sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, đình bị thay đổi, chính quyền cấm tiệt không cho thờ cúng nữa để thực hiện chiến dịch đả thực bài phong. Nói thêm, năm 1955 quân Pháp vẫn ở Hải Phòng trong thời hạn 300 ngày chờ về nước, một đơn vị đóng ngay đình làng. Khi chúng rút đi, bàn giao lại đình, vẫn còn y nguyên, không phá phách, suy suyển gì, còn tặng lại cho làng cái giếng khoan, bơm nước lên bằng tay, cả xóm dùng không hết. Tôi chả chứng kiến những chuyện đó từ đầu bởi khi ấy tôi còn bé quá, bu mới đẻ tôi chưa đầy tháng. Về sau nghe nói đình bị chính quyền bỏ hoang một thời gian, rồi sử dụng làm trường cấp 1.
Cả xã Thụy Hương (gồm 3 thôn) quê tôi những năm 1960 chỉ có mỗn trường cấp 1, còn nếu đã hết lớp 4 (tốt nghiệp cấp 1, ngày xưa thời Pháp gọi là có bằng sơ học yếu lược), muốn học cấp 2 phải sang xã Thanh Sơn láng giềng học chung với học sinh bên ấy. Thế hệ ông anh giai tôi phải học cấp 2 ở bên Thanh Sơn, tới tôi thì bắt đầu được học ở ngay xã nhà Thụy Hương. Cũng may là trường cấp 2 Thanh Sơn hơi bị gần, chỉ đi qua đầu núi Chè là tới. Thầy Giám (tôi không nhớ họ) làm hiệu trưởng Thanh Sơn suốt mấy chục năm. Thầy là hình ảnh của một vị trí thức được hấp thụ nền giáo dục ưu việt từ thời Pháp, vầng trán cao, mắt sáng, tài giỏi, nghiêm cẩn mà nhân hậu. Tôi không được học thầy nhưng thỉnh thoảng nhìn thấy thầy, còn anh tôi học giỏi toán là trò cưng của thầy, hay kể cho tôi và đứa em gái nghe về thầy; em tôi sau này theo nghề dạy học còn là lính của thầy. Thậm chí gia đình nhà nó ở hẳn trên khu nhà tập thể giáo viên trường Thanh Sơn, dãy nhà tựa lưng vào núi, có hộ khẩu tạm trú ở đó nhiều năm. Tôi ghé chơi, đùa gọi vợ chồng con cái nhà nó là đồng bào miền núi, người dân tộc thiểu số, làm sao mà văn minh bằng dân đồng bằng dưới này, cách vài trăm mét.
Quay lại chuyện trường cấp 1 Thụy Hương. Cơ sở chính của trường đặt tại đình làng, nơi thờ tự 3 vị: thành hoàng làng, bà Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người làng Trà, chồng bà là đức vua Mạc Đăng Dung. Hai vị sau chính là cội nguồn của câu ngạn ngữ "Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa". Sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, đình bị thay đổi, chính quyền cấm tiệt không cho thờ cúng nữa để thực hiện chiến dịch đả thực bài phong. Nói thêm, năm 1955 quân Pháp vẫn ở Hải Phòng trong thời hạn 300 ngày chờ về nước, một đơn vị đóng ngay đình làng. Khi chúng rút đi, bàn giao lại đình, vẫn còn y nguyên, không phá phách, suy suyển gì, còn tặng lại cho làng cái giếng khoan, bơm nước lên bằng tay, cả xóm dùng không hết. Tôi chả chứng kiến những chuyện đó từ đầu bởi khi ấy tôi còn bé quá, bu mới đẻ tôi chưa đầy tháng. Về sau nghe nói đình bị chính quyền bỏ hoang một thời gian, rồi sử dụng làm trường cấp 1.
Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019
Chuyện lớp vỡ lòng: Nhớ những bài học hồi bé tí
Lứa tôi (bu tôi đẻ tôi năm 1955), khi mới bắt đầu đi học, không vào hẳn lớp 1 như bây giờ, mà bắt buộc phải học lớp vỡ lòng (nửa năm) và lớp tập chép (nửa năm). Học xong 2 khóa chuyên tu ấy thì mới được vào lớp 1. Cho nên nói ở miền Bắc học hệ 10 năm tức là phải hiểu đối với hệ phổ thông thôi, chứ thực ra là 11 năm.
Lớp vỡ lòng, ngay cái tên của nó đã rất ý nghĩa, vỡ cái lòng ra, vỡ vạc khai phá trồng trọt thế giới bên trong của mỗi người. Ông Huy anh họ tôi cứ đùa bảo đó là lớp vỡ thình. Thình là cái bọng của con chim non, khi nó teo cái thình đó thì sẽ bay nhảy được.
Ở làng Trà Phương quê tôi hồi ấy, cụ giáo Bạt chuyên dạy vỡ lòng, dạy được nửa năm thì chuyển giao đám trẻ con đã được khai mở chữ cái, đánh vần, biết đọc biết viết cho lớp tập chép của cụ Mông và cụ Thẫn. Đi qua lớp vỡ lòng hoặc lớp tập chép, thấy trẻ con ê a học bài, vui lắm. Cụ Bạt khi ấy cũng đã ngoài 50 để râu dài, còn cụ Mông và cụ Thẫn ngang ngang tuổi cụ Bạt nhưng không nuôi râu. Các "thầy" đều nhân hậu, chả vụt học trò bao giờ dù cụ nào cũng sắm cái roi để dọa những đứa rất bướng hoặc... ngu. Ông Bút con cụ Điếu ngoài xóm Chợ bằng tuổi tôi nhưng học những 2 năm vẫn đúp lớp tập chép, sau ráng học hết lớp 4 thì bỏ, ở nhà đánh dậm rồi đi... bộ đội. Nghe ông Vảng con cụ Vạng nhà gần đó kể sau này ông Bút quên tiệt, không biết chữ, chỉ ký được mỗn chữ "Bút". Dữ đòn thì có thầy Phác dạy cấp 1, thầy có cái thước tay bằng gỗ lim, quật học trò như ngóe, đứa nào cũng sợ, nhưng nhờ thế mà nên người, đám trò chẳng những không giận mà vẫn biết ơn thầy.
Lớp vỡ lòng, ngay cái tên của nó đã rất ý nghĩa, vỡ cái lòng ra, vỡ vạc khai phá trồng trọt thế giới bên trong của mỗi người. Ông Huy anh họ tôi cứ đùa bảo đó là lớp vỡ thình. Thình là cái bọng của con chim non, khi nó teo cái thình đó thì sẽ bay nhảy được.
Ở làng Trà Phương quê tôi hồi ấy, cụ giáo Bạt chuyên dạy vỡ lòng, dạy được nửa năm thì chuyển giao đám trẻ con đã được khai mở chữ cái, đánh vần, biết đọc biết viết cho lớp tập chép của cụ Mông và cụ Thẫn. Đi qua lớp vỡ lòng hoặc lớp tập chép, thấy trẻ con ê a học bài, vui lắm. Cụ Bạt khi ấy cũng đã ngoài 50 để râu dài, còn cụ Mông và cụ Thẫn ngang ngang tuổi cụ Bạt nhưng không nuôi râu. Các "thầy" đều nhân hậu, chả vụt học trò bao giờ dù cụ nào cũng sắm cái roi để dọa những đứa rất bướng hoặc... ngu. Ông Bút con cụ Điếu ngoài xóm Chợ bằng tuổi tôi nhưng học những 2 năm vẫn đúp lớp tập chép, sau ráng học hết lớp 4 thì bỏ, ở nhà đánh dậm rồi đi... bộ đội. Nghe ông Vảng con cụ Vạng nhà gần đó kể sau này ông Bút quên tiệt, không biết chữ, chỉ ký được mỗn chữ "Bút". Dữ đòn thì có thầy Phác dạy cấp 1, thầy có cái thước tay bằng gỗ lim, quật học trò như ngóe, đứa nào cũng sợ, nhưng nhờ thế mà nên người, đám trò chẳng những không giận mà vẫn biết ơn thầy.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)