Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn làng quê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn làng quê. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

Chuyện đi học đầu đời

Nhân thế gian đang um xùm vụ học lớp 1, sực nhớ ngày xưa cũ.

Hồi xưa ở miền Bắc, lứa sinh từ giữa thập niên 50 trở về sau tới thập niên 70, trước khi vào lớp 1 (hệ 10 năm theo kiểu Liên Xô) đều phải mất 1 năm tới lớp hẳn hoi để vỡ vạc chữ quốc ngữ (tiếng Việt). Khóa đào tạo đặc biệt ấy được gọi là lớp vỡ lòng. Ông anh họ tôi vốn hiệu trưởng trường cấp 1 xã, đùa bảo là lớp vỡ thình, ví như con chim non suốt tháng đầu được bố mẹ bón ăn, tới khi vỡ bọng cứt (thình là cái bọng cứt) thì mới có thể ra ràng bay khỏi tổ được. Nửa năm đầu học vần (tên gọi vỡ lòng), nửa năm cuối học viết chữ (tập chép).

Gõ đầu bọn trẻ ranh là thứ việc cực kỳ vất vả. Chúng là loại đối tượng rắn mày rắn mặt, còn khó dạy hơn cả thế lực thù địch bây giờ. Đứa nào đứa nấy mắt đầy dử (trong Nam gọi là ghèn), mũi thường trực thò lò hai dòng xanh lè, chốc đầu tinh những gầu và chấy, hay đánh gãy bút chì, uống nước lã thành thần, có đứa còn lén giấu khoai sống đem vào lớp ăn. Ngủ gật hơn cả đại biểu quốc hội. Trốn học như ranh. Gần như không đứa nào tử tế, mà dính đầy phốt, thậm chí quá nhiều tiền án tiền sự (đánh nhau, vặt trộm ổi táo nhà người ta, ném nhãn đình, tuốt đòng đòng ruộng hợp tác, mải chơi để trâu ăn mạ, đi rình ngó trộm các đôi trai gái ngắm trăng bên bờ cừ…).

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

Chuyện giếng làng (kỳ 2)

Làng Trà Phương (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) quê tôi những năm xa ngái ấy, thập niên 1960 - 1970. Nói nhại câu thơ của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm, khi ta lớn lên cái giếng đã có rồi.

Trong từ Hán Việt có chữ “hương”, nghĩa là làng, quê. Lại có chữ “thôn” cũng có nghĩa là làng (lâu nay nhiều người cứ tưởng thôn là từ thuần Việt). Nói làng Trà Phương hay thôn Trà Phương đều chung một nghĩa. Câu thơ “Ngày mai về lại thôn hương”, tức là về làng, về quê. Khi từ “hương” để chỉ quê thì nghĩa của nó khá rộng, vượt ngoài phạm vi một làng, một thôn. Đồng hương là những người cùng quê, có khi quê là tỉnh, huyện, xã. Hội đồng hương Kiến Thụy (là của người cùng một huyện), hội đồng hương Hải Phòng (cùng một thành phố). Hồi hương là về quê. “Cố hương”, một truyện ngắn nổi tiếng của Lỗ Tấn viết về quê cũ (cố) qua ký ức đứa trẻ thơ. Hương quan là cái cổng làng. Người không sống ở quê gọi là tha hương. Tha có nghĩa là người khác, tha hương là quê người khác. Sống tha hương là sống quê người khác chứ không phải quê mình. Cũng không ít người nhầm chữ tha, tưởng đó là tha thẩn, lang thang. Bên Tàu đất rộng, một hương (thôn, làng) của nó tương đương với một huyện bên ta, một huyện bằng vài tỉnh ở ta, một tỉnh có khi bằng cả nước ta, tỉnh Tứ Xuyên chẳng hạn, rộng 485.000 cây số vuông, gần gấp đôi VN. Trưởng thôn của nó quyền hành ngang với chủ tịch huyện xứ ta. Tôi có ông bạn người bên Thủy Nguyên, ở xã Tân Dương, tên Đào Gia Thiệp, đầu thập niên 80 đang học dở nghề thầy giáo bỏ học về quê làm trưởng thôn. Tôi cũng có ông cháu họ làm trưởng thôn Trà 2 khóa liền, do dân tín nhiệm bầu trực tiếp (chứ không hình thức bầu lấy được kiểu quốc hội chả biết đâu mà lần). Gặp nhau, tôi bảo với hai tay trưởng thôn ấy, các ông oai không kém gì chủ tịch huyện, nếu ở bên Tàu. Bọn hắn cứ ngớ ra.

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2018

Tháng 3, lại bần thần nhớ mùa hoa gạo

Mấy đứa cháu tôi từ quê bắc gọi điện vào, chúng tranh nhau khoe, cậu ơi, chú ơi, hoa gạo đền Mõ hôm nay nở đỏ rực rồi, đẹp lắm. Giá mà cậu (chú) ở nhà thêm chút nữa thì tha hồ ngắm, tha hồ chụp ảnh.

Chúng nhắc thế bởi hồi giữa tháng 3 vừa rồi tôi về quê, hai lần lọ mọ sang đền Mõ ở xã Ngũ Phúc (huyện Kiến Thụy, Hải Phòng), cách nhà tôi khoảng 3 cây số. Chỉ để ngắm hoa gạo. Nhưng có nhẽ duyên mình còn nhạt, hay là tại thời tiết khí hậu năm nay có nhiều thay đổi, nên sắc đỏ mới chỉ lơ thơ. Ngước lên khoảng trời xám xịt bàng bạc mưa xuân, chỉ thấy những cành gỗ nâu mốc già gân guốc tuổi đã gần 750 năm điểm những nụ hoa gạo đỏ, như những dấu chấm đỏ chi chít trên tờ trời khổng lồ. Không được chiêm ngưỡng cảnh hoa gạo lúc mãn khai, kể cũng tiếc.

Tháng 3 là mùa hoa gạo. Người ta thường nói với nhau như vậy. Nhưng có lẽ chỉ đúng với nông thôn miền Bắc, nhất là đồng bằng Bắc Bộ. Tôi từng ngang dọc, lặn lội nhiều tỉnh miền Nam, đồng bằng sông Cửu Long, ít thấy cây gạo, mà thay vào đó là những loại cây khác, chẳng hạn cây gòn. Cũng lực lưỡng uy nghi lắm. Khi tháng 3 lúc hoa gạo bắc nở thì cây gòn nam đang kỳ khô trái. Quả gòn to và giống như trái khổ qua (mướp đắng), cây nào to lúc lỉu cả vạn trái trên cành, khô quắt thì tự tách ra, thả bông gòn bay trắng một vùng. Người ta hái trái gòn khô xuống, móc lấy bông để nhồi gối, làm nệm. Cây gòn là cây của nhà nghèo, tự cung tự cấp.

Ở đồng bằng Bắc Bộ hầu như thôn nào, xã nào cũng có cây gạo. Một loại cổ thụ, sống dai, sống khỏe, cao thẳng, vượt được bão tố, thời tiết khắc nghiệt. Nó được xếp hạng bên cạnh những lão thụ mộc quen thuộc ở thôn quê ngày xưa, cạnh cây đa, cây đề. Cây đa, cây đề thường được trồng ở nơi có đình đền, còn ở chùa thì cây nhãn, riêng cây gạo không bắt buộc phải đăng ký hộ khẩu chỗ nào. Có khi mọc đầu làng, cuối làng, nhưng cũng có khi giữa làng. Trong đám danh thụ ấy, cây gạo cao to nhất, thẳng nhất. Chính vì vậy, nhiều người xa quê lâu năm, buổi về thăm lại cố hương lòng cứ thầm nhủ trông ngọn gạo mà tìm. Về quê vào giữa tháng ba thì không lạc đi đâu được. Cây gạo làng đang rải thảm đỏ đón đứa con ly hương. Ấy là chuyện hồi xưa.

Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Chuyện hợp tác xã (phần 3 – cuối)

Cuối phần 2, tôi có nhắc đến câu thơ trong bài “Anh chủ nhiệm” của nhà thơ Hoàng Trung Thông. Ông thi sĩ này có khá nhiều bài được đưa vào sách giáo khoa, có thể kể ra Bài ca vỡ đất, Bao giờ trở lại, Cửa Tùng, Anh chủ nhiệm, Những cánh buồm… nhưng người ta biết đến ông nhiều nhất có lẽ từ bài thơ “Anh chủ nhiệm”. Ông cũng như các nhà văn Nguyễn Khải, Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Bùi Hiển, Nguyễn Địch Dũng, Nguyễn Thành Long… sau mỗi chuyến đi thực tế ở nông thôn lại cho ra đời tác phẩm về “cuộc sống mới, con người mới”. Thời ấy, các nhà văn nhà thơ rất muốn chứng tỏ cho đảng và nhà nước thấy họ đã lột xác, đã cải tạo triệt để như thế nào nên tác phẩm thường tô vẽ khá lòe loẹt, xa thực tế (nhưng gần với ý đồ của đảng), ca ngợi lộ liễu. Phải nói hình tượng anh chủ nhiệm trong bài thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông thật đẹp, đẹp đến mức chỉ có thể tìm thấy người như thế ở chủ nghĩa cộng sản. Thời đó, đọc nó và cảm động lắm, cứ mong sao chủ nhiệm hợp tác xã (HTX) quê mình chỉ bằng móng tay anh chủ nhiệm của bác Thông thi sĩ là cũng khoái củ tỉ rồi: “Cùng bao đồng chí anh đi trước/Đứng mũi chịu sào đầu gió ngược/Có đêm nằm nghĩ cảnh gieo neo/Vợ yếu con đông chưa hết nghèo/Nhưng rồi lại nghĩ đường đi tới/Nước nổi lo chi bèo chẳng nổi/Lại lao vào việc lòng say sưa/Hết sớm thôi chiều nắng lại mưa”, đại loại cứ sáng rỡ như vậy.

Sau thì mọi thứ vỡ ra, văn chương minh họa chỉ làm nhiệm vụ của nó chứ so với đời sống thực thì khác nhau một trời một vực. Thời ấy người ta gọi cách viết như thế là có tính đảng, theo chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Giờ ngẫm lại những thứ đã đọc, nếu đúng như các văn sĩ viết thì chủ nghĩa xã hội đã thành công cả 7 - 8 chục năm nay rồi chứ đâu phải như ông Nguyễn Phú Trọng nói phải chờ cả trăm năm nữa. Kinh lắm: “Dân có ruộng dập dìu hợp tác/Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” (Tố Hữu), “Đêm no ấm giọng chèo khuya khoan nhặt/Lúa thêm mùa khi lúa chín về ta/Đều lộng hương thơm những cánh đồng hợp tác/Chim cu gần chim cu gáy xa xa” (Chế)... Các bố ấy ở thành phố, ăn uống đầy đủ, lâu lâu mới mò về nông thôn, đầu óc tưởng tượng quá phong phú, vẽ nông thôn đẹp như thiên đường. Chỉ những đứa như đám chúng tôi, sinh ra từ nông thôn, sống với HTX, lăn lộn với ruộng đồng, hằng ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, chân lấm tay bùn, ngày hai bữa cơm đèn mới hiểu thực chất của những câu thơ ấy, chứ học trò thành phố khó hình dung được.

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Góp tí ti giải mã bí ẩn Đồng Tâm

XUÂN BA (nhà báo)

Từng bần thần háo hức rồi thất vọng trước cái cổng chính làng Hoành Đồng Tâm nhưng không được vào…

Rồi những thời khắc nhúc nhắc chen chân để tròn mắt chứng kiến cuộc vào thôn Hoành xã Đồng Tâm của ông Đô trưởng Nguyễn Đức Chung ngày 22/4/2017 trực tiếp thương thảo với người dân và giải quyết biến cố Đồng Tâm chỉ trong có vỏn vẹn có 2 tiếng đồng hồ theo phương thức Win-Win, tạm hiểu là các bên cùng thắng! Người dân thắng và chính quyền không thua!

Lại tiếp những mắt tròn mắt dẹt chứng kiến những tíu tít rộn ràng cảnh các chiến sĩ cảnh sát cơ động được giải thoát có người chắp tay vái chào kính cẩn dân làng Đồng Tâm…

Và trực tiếp được ngó một văn bản cam kết độc nhất vô nhị từ thời có chính thể mới. Đó là có hai cái dấu điểm chỉ bằng son đỏ chóe, lưu lại dấu vân tay của ông Đô trưởng Chung và ông nghị Dương Trung Quốc thay cho đồng triện vuông, tròn.

v.v..

Vãn việc tha thẩn ngó lên chợt giật mình thấy cái cổng làng! Chao ôi cái cổng làng Hoành. Những là táo tác, bận rộn, những hỏi han cùng háo hức tò mò, nên bây giờ mới để ý đến cái cổng làng lù lù ngay cạnh. Ấy là cái khốn nạn cố hữu của thói cứ quen trông ngang và ngó xuống chứ ít khi nghển lên?

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Chuyện vặt thời đã qua (phần 2)

Bây giờ, ở cả thành thị lẫn nông thôn người ta đã quen với sinh hoạt ăn uống 3 bữa. Sáng bữa phụ, trưa và chiều tối bữa chính. Nhưng hồi tôi còn bé, cho đến hết những năm 60, ở nhà quê (miền Bắc, vùng Hải Phòng quê tôi) chỉ ăn 2 bữa thôi. Bữa sáng vào lúc 5 rưỡi hoặc 6 giờ, bữa chiều tầm 12 giờ rưỡi hoặc 1 giờ chiều.

Buổi sáng ngủ dậy, đánh răng rửa mặt xong, cả nhà xúm vào mâm cơm. Thường thì mùa hè cũng như mùa đông, thày bu tôi hoặc chị tôi dậy từ sớm tờ mờ nấu nướng. Sau này tôi hỏi thày, sao mình không bắt chước dân thành phố ăn vào tầm trưa cho nó văn minh, đỡ vất vả, thày tôi cười, họ có thứ để ăn sáng nên họ mới ăn vào buổi trưa, còn nông dân sáng mà bụng đói thì chả hơi sức đâu cày bừa, gồng gánh. Phải chắc dạ mới làm được việc nặng. Nghe cũng có lý.

Người lớn sau buổi làm đồng sáng, trẻ con sau buổi học sáng thì lại được ăn bữa cơm chiều. Rồi lại ra đồng, lại đi học. Tới tối, nếu nhà nào có củ khoai củ sắn luộc, hay còn chút cơm nguội (mà cơm nguội thì rất hiếm) chia nhau lót dạ, chờ đến bữa sáng mai. Nhiều lúc ngẫm nghĩ, vị nào dùng chữ “lót dạ” đầu tiên quả là giỏi. Ăn mà có cảm giác chưa hề ăn, lót vào trong dạ một lớp dinh dưỡng mỏng mòng mong, suốt đêm cứ có cảm giác chống chếnh thế nào ấy. Lại khổ nỗi, khoai lang là chúa gây cồn cào nhãi ruột, nhưng không nuốt nó chắc sẽ cồn cào hơn. Những nhà vườn rộng trồng gài thêm củ dong riềng, mình tinh, sắn dây, lâu lâu bới một rổ luộc ăn cũng đỡ phết. Thích nhất có hôm chị tôi hoặc bu tôi chịu khó làm món khoai khô bung nấu nhừ với đỗ đen, thêm tí đường vàng vào, cả nhà cứ vui như tết.

Buổi tối không phải lo chuyện ăn uống, không mất thời gian vào bữa ăn nên tuy đói, bù lại có nhiều thời gian làm việc khác. Mà quả thật sao hồi ấy lắm việc vặt vãnh thế. Chuyện lau bóng đèn dầu hỏa tôi đã kể rồi, nay kể tiếp những điều vớ vẩn khác.

Cầu giời khấn phật

Thấy người ta nô nức kéo nhau đi đền chùa miếu am cầu xin, lễ bái ghê quá, tôi kể chuyện này.

Hồi cuối tháng chạp Bính Thân 2016 vừa rồi, tôi về thăm quê Phòng. Trong cuộc gặp gỡ vui vẻ cuối năm anh em, chú cháu đông đủ, các cháu tôi nhắc lại chuyện cũ: Hồi anh Trác, con bác ruột tôi, còn sống, hôm ra khu lăng mộ gia tộc cúng tổ tiên ông bà, anh Trác tôi khấn: Đề nghị tổ tiên ông bà đừng ban gì cho các con cháu, nhất là bọn trẻ, cứ để chúng nó phấn đấu, tự làm ăn, kẻo chúng nó ỷ y dựa dẫm.

Bọn trẻ lúc ấy nghe khấn vậy, đứa nào cũng ngạc nhiên, nhưng lập tức "thủng" ra ngay. Tính cách của anh tôi đã được chứng minh rất cụ thể: Anh có 9 người con, tất cả đều tự lập và thành đạt, đứa nào cũng cứng cỏi, gia đình cực kỳ hòa thuận nhưng ai cũng có chí vươn lên, không ai dựa dẫm ai.

Ai không tin, cứ về làng Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng, hỏi nhà ông Trác, rõ ngay.

Ký tên xác nhận: Thông

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016

Chuyện bão

Đang có cơn bão số 1, nó nhăm nhe xông vào vùng duyên hải từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa. Hải Phòng chính giữa. Tôi gọi điện về cho ông em rể, hỏi thăm tình hình thế nào. Y giả nhời yên tâm, cũng chưa to lắm, nhà cửa chằng buộc kỹ lưỡng rồi. Không yên tâm thì cũng đành chịu chứ xa xôi thế này, cách chi mà cùng cả nhà lo chống bão.

Xứ ta, hầu như năm nào cũng trên dưới chục trận bão lớn nhỏ. Về đặc sản bão, An Nam mình có nhẽ chỉ kém Philippines và Nhật Bản. Được vinh dự ở vị thế đất địa chiến lược, một thời từng là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, tuyến đầu chống đế quốc…, nên ông trời bắt ta phải trả giá, bù lại phần gánh vác thiên tai cho nơi khác.

Cứ vào khoáng từ tháng 7 tây trở về sau đến cuối năm là ai nấy chuẩn bị tinh thần chống bão. Nhiều năm bão dồn dập, vừa dứt cơn này là nối trận khác. Có những cơn bão gây kinh hoàng, bão Chanchu ở miền Trung năm 2006 chẳng hạn, hơn 200 người chết, mất tích, vùi thân đáy biển. Sợ bão, nếu người trên bờ sợ một thì ngư dân sợ mười. Nhưng không ra biển, ngại bão thì lấy gì bỏ vào mồm.

Miền Bắc và miền Trung thường chịu nhiều bão nhất. Chịu riết rồi quen, thậm chí xem như cơn gió thoảng. Cũng như dân miền Tây Nam Bộ chịu lũ, năm nao không có lũ thì nhớ, kêu toáng lên. Nhưng phải nói đất Nam Bộ được trời ban phước, chả bão biếc gì. Nhà cửa nhiều nơi tuềnh toàng, chỉ cơn gió vừa vừa cũng hất phăng, ấy vậy mà cứ trụ hết năm này qua năm khác. Bà con bảo, làm đủ ăn thôi, làm ra để ăn chứ không phải để đắp vào cái nhà. Chả bù cho xứ Bắc, nhà chưa xong thì chưa yên tâm. Dạo xưa, ông anh họ tôi đổ được cái nhà mái bằng, khoái quá trèo lên thách bão, từ nay tao đố mày làm gì được tao đấy.

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Hạt muối xưa còn mặn đến bây giờ

Tôi chả biết người ở nước khác thế nào, có được đi đâu mà biết, nhưng người dân nước mình, như tôi chứng kiến, thì hiểu có tính lo xa.

Thì đấy, mấy bữa nay, thiên hạ nháo nhào chuyện nước biển bị nhiễm độc, cá chết tràn bờ. Những người thông minh chợt hiểu rằng biển không chỉ cung cấp cá mà còn nhiều thứ khác, trong đó có muối. Thiếu cá thiếu tôm thì còn chịu được, chứ thiếu muối một thời gian thử xem, chỉ có nước bị phù thũng. Mặt cứ bủng ra, vàng vọt, lại chả cuống lên, coi hạt muối bằng giời.

Báo chí hôm nay 28.4.2016 viết dân tình đang nhao nhác đi mua muối. Bình thường, mua một vài ký là cùng, để nấu nướng, để pha loãng rửa rau, có người còn cẩn thận nước rửa chim cho em bé cũng bỏ vài hạt muối. Thấy bảo lúc này, người ta đang khuân về nhà cả chục ký, phòng khi biển Đông không chỉ bị ngộ độc. Khiếp, cả yến muối trong nhà, quá thời chiến tranh.

Mà cũng phải, dân ta có tính lo xa, biết tích cốc phòng cơ (trữ lương thực phòng khi đói kém, mất mùa). Điều này rõ nhất ở người miền Bắc, trong nhà lúc nào cũng như cái kho dự trữ, đủ các món; chẳng như người Nam Bộ mà tôi biết, sống khá phóng khoáng, làm bao nhiêu xài bấy nhiêu, chả nghĩ ngợi nhiều, lúc nào cũng cười hơ hớ. Nói như thế không phải để phân biệt vùng miền, chê chỗ này khen chỗ nọ, mà để ghi nhận cái đặc điểm xứ sở tạo ra tính cách con người. Miền Bắc đất chật người đông, bão gió nhiều, thời tiết khắc nghiệt, cuộc mưu sinh đầy những bất trắc nên phải lo xa. Miền Nam thì ngược lại. Vậy thôi.

Nói chuyện tích trữ muối, lại nhớ thời chiến tranh. Hải Phòng quê tôi tuy là vùng biển nhưng những năm 60-70 cũng thiếu muối. Phòng mà còn thiếu muối thì ở vùng Việt Bắc, Tây Bắc muối là hạt vàng. Một nhà thơ viết “Muối lên rừng tay bưng tay đặt” để thấy sự trân trọng, quý giá hạt muối đến thế nào. Có những nơi, cả năm thương nghiệp không đưa lên được chuyến muối nào, dân phải ăn tạm bằng nước tro, có chút vị mằn mặn. Có tỉnh vùng cao, muối được coi là một trong những thứ hàng phân phối tết. Trong gói hàng tết gồm mứt, trà, vài bao thuốc lá, chai rượu mùi…, có cả ký muối.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Chuyện trồng dưa

Hồi tôi còn bé, làng Trà Phương quê tôi nhà nào cũng trồng dưa. Dưa hấu, dưa cam. Nhà ít thì vài gốc hoặc một luống, nhà nhiều có khi cả sào hoặc vài sào. Khác với bên thôn Xuân La xã Thanh Sơn láng giềng sát núi Đối họ chỉ toàn trồng dưa chuột.

Tôi nhớ lúc đầu cũng chỉ mấy nhà trồng, trong đó thày tôi, bác Ỷ, bác In, chú Bồ, chú Mịch, cậu Thê, bác Đạm, chú Chung… là những người tiên phong. Bọn trẻ con gọi đùa đó là những An Tiêm của làng. Sau thấy trồng dưa ngon ăn, có tiền hơn trồng thứ khác nên những nhà còn lại bắt chước, vào mùa hè đi chỗ nào cũng gặp ruộng dưa.

Khác với trồng lúa chỉ cần coi đừng để trâu bò lội vào phá, trồng dưa cực hơn nhiều. Dưa nằm lăn lóc trên ruộng trông ngon ăn lắm, lại có giá nữa nên dễ bị mất trộm. Thì chuyện xưa tích cũ thường khuyên người đàng hoàng đi ngang ruộng dưa đừng có cúi xuống sửa giày là gì. Dễ bị nghi ngờ có ý đồ không tốt.

Khi trái dưa đã lọt vào tầm mắt kẻ ẩm thực, chủ ruộng bèn lấy cành tre có nhiều gai rào kín xung quanh ruộng. Mỗi ruộng dưa trông cứ như cái ấp chiến lược của Mỹ Diệm, chỉ chừa một lối ra vào. Có nhà còn lấy lá chuối khô hoặc mảnh ni lông, giấy dầu che kín để những ai dễ nổi lòng tham khó nhìn thấy. Vậy vẫn chưa yên tâm, lỡ buổi tối thế lực thù địch nó mò vào ấp chiến lược nó ôm cho một mớ cũng gay. Lại phải dựng chiếc lều coi dưa, đặt chiếc chõng tre vào lều, tối sai đám trẻ con ra ngủ trông chừng. Có tiếng người, quân đạo chích chúng cũng e ngại.

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Chuyện núi Chè

Mấy hôm rồi, mỏi mệt với cuộc mưu sinh, tôi kiếm cách mò về quê cũ vài ngày, giống như một cuộc chạy trốn chính mình. May mà quê hương thôn dã yên bình đã cứu vớt tôi, bao dung đón đứa con tha phương đi đã quá lâu rồi.

Làng Trà Phương quê tôi nằm ngay chân núi Chè (núi Trà Phương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). Núi Chè với núi Đối (ven sông Đa Độ, nơi người ta vừa bắt được con ba ba nặng mấy chục ký) như hai hòn núi đá sinh đôi. Thật kỳ lạ, giữa vùng đồng bằng mênh mông chỉ có ruộng và đầm lầy, ao chuôm, tự dưng nhô lên hai ngọn núi đá sừng sững. Hồi nhỏ, nghe bu tôi kể rằng bà chúa Chè gánh đá đi lấp biển Đồ Sơn – Bàng La, chỗ cửa sông Văn Úc, đến đây thì gãy đòn gánh, đành phải bỏ đó thành 2 ngọn núi. Hồi học đại học, tôi đùa với bọn Xuân Ba, Bá Tân… rằng mình là người miền núi, cũng giống như anh Ma Duy Giang vậy, thế mà ối đứa tin.

Núi Chè cao hơn 5 chục mét, chạy dài gần cây số, tinh đá là đá. Trên núi có hang Bà Chúa, phía bắc núi gần làng Xuân La xã Thanh Sơn có hai cây quéo cổ thụ to cả mấy người ôm. Sau này hồi giữa những năm 60 công binh Trung Quốc sang đục rỗng quả núi làm hầm chứa đại bác chĩa nòng ra biển để bắn tàu chiến Mỹ. Nhưng tôi chưa thấy bắn được phát nào, chỉ nghe đồn rằng bọn nó sang đào bới của cải do tổ tiên nó chôn giấu từ thời xửa thời xưa. Nếu đúng vậy thì quả là kỳ công bởi đục rỗng hòn núi đâu phải chuyện đùa.

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

Chuyện rơm rạ (phần 3)

    Cả một xã như xã Thụy Hương (Hải Phòng) quê tôi những năm ấy (1960 - 1970) gần 3.000 nhân khẩu với khoảng 400 hộ nhưng nhà khá giả ít lắm. Nhà nào cũng đông con, phần lớn là nghèo. Nhà cửa phổ biến tường đất mái rơm rạ. Gọi mái rạ là theo thói quen chứ lợp bằng rơm là chính. Phần rạ của cây lúa tuy to và cứng nhưng lợp nhà dễ bị dột. Rơm mà phơi nỏ, đánh rơm cho thẳng, mái lợp trông mịn lắm, nước mưa chả mấy khi thấm qua. Mà rất bền, giữ màu tươi sáng hơn mái rạ. Hình ảnh những mái nhà vàng óng thấp thoáng trong vườn xanh là vẻ đẹp suốt bao năm của làng quê Việt. Khi tôi lớn, đi xa quê lâu ngày, lúc về đến đầu xã gặp lại những mái rơm thân thương ấy, lòng trào lên niềm xúc động khó tả.
    Giờ lâu rồi, tôi cũng chả nhớ cứ bao lâu thì lợp lại mái nhà. Nhà trên, nhà dưới, nhà bếp đều lợp bằng rơm tất tật nên rơm của một vụ chả bao giờ đủ. Cứ phải luân phiên. Hôm lợp nhà vui lắm. Thày tôi trước đó đã trông trời trông đất, dự đoán thời tiết, coi ngày ấy có mưa gió gì không. Cả nhà tinh những người vụng về, chỉ biết rút rơm, vận chuyển, còn việc trèo lên mái nhà lợp cho khéo, cho dày đều, cho phẳng phiu thì phải nhờ thợ. Nào có ai xa xôi gì, thợ cũng người nhà hoặc hàng xóm láng giềng, lần thì cậu Thê, lần thì chú Chung, khi thì ông Đính. Các ông ấy đúng là những nghệ sĩ nông dân. Thường chỉ một ngày đã xong, căn nhà có cái mái mới trông cứ là lạ quen quen, tối ngủ sực nức mùi rơm thơm, đến bây giờ vẫn còn cảm giác thật khó quên.

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Chuyện rơm rạ (kỳ 2)

Khi gặt lúa, các bà các chị quẹt cái liềm sắc vào ngang cây lúa, lấy đoạn dài khoảng nửa mét, cột lại thành từng lượm. Phần này sau khi đập lấy thóc, sau có máy suốt thì nhàn hơn, gọi là rơm. Cũng có khi đồng khô ráo thì cắt tận gốc ngay, sau đó có người đi xén giữa, lấy phần ngọn bó gánh về. Phần còn lại của cây lúa ở còn trên đồng gọi là rạ. Trong tiếng Việt có từ rơm và rạ là vậy. Đừng tưởng rạ thì bỏ nhé. Thu hoạch lúa xong lại đi cắt rạ. Cắt lúa cũng như cắt rạ, ở đồng khô còn đỡ, chứ đồng nước, trên đầm (quê tôi hồi ấy có đầm Trợ, đầm Phương Đôi, đầm cánh Bến-Mả Đò, thày tôi bảo rằng có chỗ là đoạn sông cụt của sông Văn Úc, có chỗ do ngày xưa người ta đào lấy đất đắp thành phủ Kiến Thụy) nhất là vào mùa đông, vất vả vô chừng. Rét cắt da cắt thịt, ngụp xuống đầm thò liềm xuống sát gốc lúa, lại xoẹt một cái không được bỏ phí tí nào. Mà vẫn chưa hết. Đám gốc rễ nằm dưới đất, sau khi cày ải phơi nỏ, đập nương xong còn thu gom tất tật, phơi khô đem về đun. Bây giờ nhớ lại, không có rơm rạ, chắc chỉ còn nước ăn gạo sống.
Mỗi lần phơi rơm, bu tôi cẩn thận lắm. Sân dành để phơi thóc nên rơm phơi ngoài đường. Mỗi nhà cát cứ một đoạn ngay trước nhà mình. Bu tôi rải rơm sang hai ven đường chừa lối giữa cho người qua lại dễ dàng, nhất là người đi xe đạp. Có người chạy xe đạp tay lái yếu gặp đoạn phủ đầy rơm lúng túng ngã chổng kềnh trên đám rơm khô. Có hôm tôi đang câu cá ở cừ (kênh) ven đường thấy cô Khi chở cô Loan, 2 cô giáo người thôn Quế Lâm dạy lớp 2 bị rơm quấn vào xe đạp ngã lăn chiêng, khuy áo xống tung cả ra, tôi vội che mặt, chả dám chạy lại giúp. Hai cô đẹp trắng lắm, còn mình hồi ấy học lớp 4, đã biết ngượng ngùng.
Hôm trời nắng phải canh nắng, đến giữa buổi thì lấy cái nạng lật rơm lên cho khô đều, khoảng 2 nắng là được. Thấy có bóng mây thì canh mưa gom chạy cho kịp. Rơm chưa khô mà bị sũng nước mưa, gặp mấy ngày không nắng lại, chỉ vài hôm là thối. Đến nước ấy chỉ còn cách vứt ra vườn đắp vào gốc mía gốc chanh chứ chả đun nổi, trâu bò cũng không thèm ăn.

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Chuyện cháy nhà

Lâu lâu, cả xã hội, nhất là đám báo chí đang đói tin, lại xôn xao về những vụ cháy nhà. Hồi đầu tháng 10 cháy cái tầng hầm chung cư của đại gia điếu cày Thản, hôm qua 26.10 thì cháy căn nhà ở phố Hàng Mã, đều tại Hà Nội. Mấy đài truyền hình đưa cả người lẫn máy móc đến truyền hình trực tiếp, chả khác gì tường thuật họp quốc hội. Còn đám phóng viên vác máy ảnh nhảy như loi choi. Chủ nhà bị cháy thì mặt buồn, lo lắng về đám tài sản trong đống lửa khói đang cuồn cuộn.
Các cụ xưa đúc kết “thủy hỏa đạo tặc”, chỉ ra 4 thứ tai họa ghê gớm nhất đối với con người. Bây giờ mà chỉnh sửa, bổ sung, nếu ở xứ ta, theo quan điểm của đảng thì phải thêm “thế lực thù địch” nữa. 4 đã khổ, lại còn 5 thì có nước ăn mày. May mà loại 5 chỉ liên quan đến đảng.
Trong 4 thứ họa, thủy (nước) là ghê gớm nhất, nó đã cuốn thì sạch sành sanh. Có thế, người ta mới ví sức dân mạnh như sức nước. Hỏa (lửa) đứng hạng nhì, nhưng riêng tôi nghĩ, nó phải ở hàng đầu mới đúng. Tôi đã chứng kiến những vụ cháy, khói lửa ngút trời, lòng thầm nghĩ cứ như ngày tận thế. Hai cái thứ họa còn lại, đạo (kẻ cắp) và tặc (giặc, giặc giã), dân xứ ta quen rồi, chả coi là cái đinh gì, thậm chí nhờ nó mà có vinh dự trước bàn dân thiên hạ “đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ”, chả đâu bằng.