Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn tổ tiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tổ tiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 6, 2021

Nhờ tìm thông tin cội nguồn

Nhà cháu được biết nhờ có mạng xã hội, cụ thể là phây búc (Facebook) mà nhiều trường hợp bặt thông tin, mất gốc tích, không rõ gốc gác, mất dấu cội nguồn, chia ly xa cách, v.v.. đã được kết nối, hàn gắn, thông tỏ, rõ ràng. Ngoài những tác dụng vô cùng lớn lao không thể nào kể hết được, thì điều vừa nói đã chứng tỏ mạng xã hội cực kỳ cần thiết và có ý nghĩa.

Biết nó công lao và có khả năng kỳ diệu như thế, nên bữa nay, chọn ngày lành tháng tốt, nhà cháu ngỏ lời nhờ vả, nhất là với những ai quê ở làng An Tiêm, xã Thụy Dân, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình (cũ), sau bao nhiêu đổi thay, sáp nhập, chia tách, nay là làng An Tiêm, xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (mới).

Họ Nguyễn nhà cháu, cụ tổ vốn gốc ở xóm Chùa, làng An Tiêm, có nghề thợ rèn. Nghề rèn là đặc điểm nổi bật của An Tiêm từ xưa tới nay. Theo gia phả họ Nguyễn-An Tiêm đang quần cư ở xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng biên chép, vào khoảng giữa thế kỷ 19, cách nay chừng 170 năm, cụ tổ Nguyễn Văn Bàn làm nghề thợ rèn ở làng An Tiêm đi làm ăn, đến ngụ tại xã Trà Phương, tổng Trà Phương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An (nay là thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng) hành nghề rèn mưu sinh. Do cụ Bàn không có con, nên cụ đưa con trai của người anh ruột theo, nuôi làm con thừa tự. Người con ấy tên là Nguyễn Văn Bành. Như vậy, cụ Bàn là cụ tổ, thế hệ thứ nhất của họ ở Trà Phương; cụ Bành nối tiếp cụ Bàn, sinh cơ lập nghiệp, lấy vợ đẻ con, hình thành họ Nguyễn-An Tiêm đất Hải Phòng, đến nay đã đời thứ 9. Các thế hệ Nguyễn-An Tiêm chủ yếu quần cư tại thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng; ngoài ra nhiều con cháu sinh sống ở khắp nơi trên đất nước, như nội thành Hải Phòng, các tỉnh thành Quảng Ninh, Hà Nội, Đà Nẵng, Lào Cai… Thôn (làng) Trà Phương có ngọn núi Trà, còn gọi là núi Chè; còn xã Thụy Hương là xã nông thôn mới kiểu mẫu của thành phố cảng, từ huyện lỵ về đúng 3 cây số.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Lư hương

Tôi có đôi nhời thế này sau khi bà bí thư quận 1 trả lời dư luận rằng việc cẩu chiếc lư hương trước tượng đài Đức Thánh Trần tại ven sông Sài Gòn đem đi chỗ khác là chuyện bình thường (báo Tuổi Trẻ ngày 18.2.2019).

Trên bàn thờ gia tiên, thứ không thể thiếu là bát hương (hay còn gọi là bình hương). Người miền Nam gọi là bát nhang, nhưng sự kính trọng với đồ thờ cúng này thì dù Bắc dù Nam đâu cũng như nhau.

Cũng cần nói rõ một chút, người xứ ta thường có nhầm lẫn bát hương với lư hương. Lư hương cũng là đồ tế khí-linh khí, dùng để thờ cúng, còn có tên là bộ tam sự, gồm 3 món: chiếc lư và cặp chân đèn (2 chiếc). Tam sự thường được đúc bằng đồng, lư để đốt trầm hương, đặt chính giữa; chân đèn để thắp nến, đặt hai bên. Thường bàn thờ (ban thờ) luôn có cả tam sự lẫn bát hương.

Đồ để thắp hương, cắm hương (nhang) trên bàn thờ hằng ngày, hoặc khi kỵ nhật (ngày cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ), hoặc ngày lễ tết thường là bát hương. Chỉ ở những nơi đình chùa miếu mạo, chỗ đặt tượng đài, nơi thờ cúng công cộng thì đồ để cắm nhang gọi là lư hương. Có những lư hương rất to, nặng, phải mấy người, thậm chí chục người khiêng mới nổi.

Dù ở trong nhà, trong nhà thờ, trong đình chùa, hay nơi tượng đài, thì lư hương, bát hương luôn được coi trọng bậc nhất. Sự kính cẩn đối với trời đất, thánh thần, tổ tiên, tiền nhân, anh hùng… được thể hiện ở thái độ với đồ tế khí, cụ thể là với bình hương, lư hương. Ngoài vấn đề tâm linh, tôn giáo, đây còn là đạo đức, ý thức, nhân cách của con cháu đối với thánh thần, tổ tiên.