Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn trần ngọc vương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trần ngọc vương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2019

Quảng Bình và Bọ Vương (phần 2, cuối)

Nói gì thì nói, dân văn thuộc diện học ít chơi nhiều. Dẫn chứng đâu xa làm chi cho mệt, cùng các dãy nhà C1, C2 khu Mễ Trì, khoa văn chiếm một nửa phía bên ngoài (ngay sát lối đi), còn khoa sử nửa phía trong. Nhà C1 dành cho các thầy cô tầng 2, còn phòng học ở tầng dưới và tầng 3 tầng 4. Nhà C2 chỉ làm ký túc xá cho sinh viên. Đêm đêm, nhìn lên các phòng học phía khoa sử đèn đuốc sáng trưng, bọn sử kéo nhau lên đó ngồi học nghiêm cẩn, ít khi cười đùa. Phòng ký túc xá của họ cũng vậy, yên lặng như trại lính, con muỗi bay qua có thể còn nghe tiếng vo ve.

Còn bên văn, ôi giời. Suốt ngày như cái chợ vỡ. Nếu ta thấy anh chị nào buổi tối sắng sở sách này tập nọ, bóng đèn điện, cuộn dây điện leo lên khu phòng học C1 thì cũng đừng vội tin họ đi học. Làm màu tí thôi, rồi anh chị gặp nhau chỗ nào, ma nó biết. Buổi tối, nhất là thứ bảy, chủ nhật, người ra vào bên khoa văn nườm nượp. Quân ta kéo nhau đi, quân các nơi kéo về. Có khi khách chẳng cần trèo lên gác, đứng dưới bể nước phát vài tín hiệu là xong. Hoặc sân thượng, hoặc chui qua cái lỗ hàng rào phía sau quán nước cô Xuyến con bà bu sang bên sân vận động trường ngoại ngữ, hoặc đường tình thơ mộng giữa cánh đồng chạy tuốt từ Mễ Trì lên Thượng Đình, hoặc nhà thờ Phùng Khoang, hoặc đầm sen gần đài phát thanh, hoặc… Gớm, chỗ chơi của dân văn có mà kể cả ngày cũng không hết. Không chơi bời, đàn đúm, tán tỉnh, yêu nhau, hạnh phúc, dỗi hờn, tan hợp, hợp tan, không phải dân văn. Thế mới hay chứ lị.

Đã chơi nhiều thì đương nhiên học ít. Mà học ít thì làng nhàng. Hầu hết cứ đủng đà đủng đỉnh, tới mùa làm khóa luận, luận văn mới vắt chân lên cổ. Tôi nhận thấy phần đông như vậy, kể từ đám loi choi như tôi, thằng Bá Tân, thằng Bính, thằng Đồng, thằng Ba, thằng Tửu, tới những đấng bậc như các bác Trọng Cường, Huy Cờ, Nam Việt, Quang Thuật, Xuân Sang... Nói nhỏ, chính các đấng này ăn chơi mới khiếp, đàn em theo được còn mệt.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Quảng Bình và Bọ Vương

Hình như con người ta càng về già càng lẩn thẩn. Mà cũng có khi không hẳn vậy, biết đâu chỉ riêng mình thế thôi.

Chả biết các bác ra sao, chứ nhà cháu dạo này hay ngồi thừ ra, rất giống nhân vật trong “Nhật ký người điên”, lẩm nhẩm đếm, tính, rà soát lại những thứ những điều đã đi qua cuộc đời mình. Hôm vừa rồi chẳng hạn, bới móc thế nào tòi ra cái ảnh lớp K17 mình chụp từ hồi cách nay đã gần 44 năm, buổi chia tay chuẩn bị tan đàn xẻ nghé. Rồi ngẩn mặt tự bảo, trong lớp ta, đông nhất là dân xứ Thanh. Chỉ riêng các ông các bà Thanh Hóa đã hơn một tiểu đội. Thằng Bá Tân xứ Nghệ từng có lúc ghen tị rằng bên Tàu có đại học Thanh Hoa, bên ta có đại học Thanh Hóa. Mình an ủi nó, đám đồ Nghệ chúng mày cũng chả vừa. Nó cười khì. May ở chỗ, xứ Thanh có 23 huyện, nếu mỗi huyện chiếm một chỗ của lớp Văn K17 thì có khi đếch tới suất mình.

Vị trí thứ 2 sau tỉnh Thanh quê thằng Xuân Ba, cái Bé thuộc về Quảng Bình. Ai đời, đánh nhau chí chóe, bom đạn rầm trời dậy đất như thế mà vẫn học ra trò, rồi lũ lượt kéo nhau, đứa thì diện xe hỏa, đứa đi ô tô, đứa đạp xe đạp, thậm chí nghe nói có đứa lội bộ 600 cây số từ Quảng bọ ra Hà Nội, rồi lội tiếp qua Đông Anh, Yên Viên, Từ Sơn mò về đất Yên Phong huyện, Yên Trung xã, Sát Thượng thôn để nhập học. Mùa đông năm 1972 rét tê người, chỉ riêng việc chúng nó từ Quảng Bình bất chấp thời tiết và bom đạn đánh ra Bắc chiếm được một suất E72 (hộp thư khoa văn ký hiệu E) cũng đủ cho thấy chúng hơn người.

Cứ cái vệt nhớ của mình thì các con bọ gồm: trưởng lão Hoàng Sĩ Chiến, rồi Lương Ngọc Bính, Trần Ngọc Vương, Phạm Xuân Hoàng, Trần Văn Dũng, Nguyễn Đình Hạnh, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Mét, Nguyễn Thị Nam, và có thể kể thêm mấy anh hùng Vĩnh Linh (coi như thuộc đất Quảng Bình bấy giờ) là trưởng lão Lê Tài Thuận, Nguyễn Đăng Thành, Hoàng Thanh Chương. Đông khiếp. Thời ấy, hầu như đứa nào cũng biết bài hát của Xuân Giao, “Khi bình minh đang lên hồng chân mây/Xóm chài ta vui lên đường ra khơi/Ta chào quê hương ngói đỏ ven bờ/Quê nhà thân yêu thôn xóm mong chờ… Ớ ơ Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Bình”. Bài Quảng bọ quê ta ơi của cụ Hoàng Vân lại càng nhiều đứa thuộc. Ông anh giai mình có cuốn sổ tay chép bài hát, chỉ riêng về bài Quảng Bình – Vĩnh Linh đã hơn chục, bài nào cũng hay. Quê thế mới là quê, đâu như quê mình, mãi mới tòi ra được bài hoa phượng đỏ.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Dời núi và lấp biển kiểu Tàu

TRẦN NGỌC VƯƠNG (giáo sư)

Câu chuyện Trung Quốc "Ngu Công dời núi" đã được kể từ ngày xửa ngày xưa, không chỉ trong phạm vi lãnh thổ người Hán, mà dần dần đã lan truyền ra ít nhất trong phạm vi bốn quốc gia "đồng văn", phổ biến đến mức rất nhiều người Việt tận nơi "hang cùng xóm vắng" cũng có thể thao thao kể lại.

Bài học dễ dàng rút ra qua câu chuyện đó là bài học về lòng kiên nhẫn, nghị lực bền bỉ cùng quyết tâm, ý chí phi thường của con người có thể làm được những chuyện cực lớn lao, thậm chí thoạt tiên dường như bất khả! 

Đó cũng là một câu chuyện phản ánh một nét đặc trưng trong " bản tính tộc người" của người Trung Quốc. Vì những " giấc mơ" to lớn ấy mà quốc gia của họ bao lần đổ vỡ, loạn ly, tan nát, nhưng cũng "vịn vào những giấc mơ mà đứng dậy", người Trung Quốc vẫn tiếp tục mơ những giấc mơ càng ngày càng kỳ vĩ hơn.

Dời núi, họ đã từng mơ, từng làm. Là một đế chế lục địa trong cả một trường kỳ lịch sử, loại hành vi dời núi được họ khuyến khích lẫn nhau và từng nỗ lực thực hiện. Chỉ có điều, họ dời núi theo cách " tiện lợi" là "san thành bình địa", chứ họ không mơ mang đất đá ấy đổ thẳng ra biển trong " câu chuyện Ngu Công" kia! 

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Dành cho K17: Bà xã của bạn Trần Ngọc Vương qua đời

Trưa nay, mình nhận được tin nhắn của bạn Nguyễn Thị Bé, chiều lại có tiếp tin nhắn của bạn Bá Tân, báo tin vợ của bạn Trần Ngọc Vương mất. Chưa kịp đưa lên blog để thông tin đến các anh chị, các bạn K17 thì đùng một cái, cúp điện toàn miền Nam. Chờ đến tối nhà mình vẫn chưa có điện, mình vào cơ quan mở email do Bá Tân gửi và làm tin này gửi đến mọi người. Chân thành chia buồn cùng bạn Trần Ngọc Vương và gia đình.

                                     Thông báo

ChTrần Thị Thúy Mai, vợ bạn Trần Ngọc Vương, công tác tại đài truyền hình Việt Nam từ khi tốt nghiệp khoa Văn đại học Tổng hợp Hà Nội cho đến lúc nghỉ hưu; đã qua đời sáng 22.5.2013 (nhằm này 13.4 Quý Tỵ), hưởng dương 59 tuổi.
Lễ viếng chTrần Thị Thúy Mai được tổ chức tại nhà tang lễ Bệnh viện quân đội 108, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội vào lúc 10 giờ ngày 24.5.2013.

 Chồng của Thúy Mai là bạn Trần Ngọc Vương, đồng môn K17, hiện là PGS-TS, giảng dạy tại khoa Văn đại học Khoa học xã hội nhân văn Hà Nội.
       
 Kính báo

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Ăn theo phó giáo sư Vương

Ăn theo, nói leo: xấu. Vẫn biết vậy. Nhưng trước một người như giáo sư phó Trần Ngọc Vương, tôi không bạch ngay ra thế, thiên hạ sẽ cười chê, bảo thấy người sang bắt quàng làm họ. Mình chưa bao giờ dám ngồi chung chiếu với bạn Vương nên cứ tự nhận rằng ăn theo tí ti cho nó lành.

Bọ Vương vừa thư cho tôi, bảo rằng Thông cào ơi, tao mới đi Harvard về, dự cuộc hội thảo quốc tế về Trần Nhân Tông. Y kể sang đó trình bày tham luận trước các học giả Mỹ và thế giới sừng sỏ nhưng vốn tiếng Anh của y chưa đủ nên cũng phải nhờ phiên dịch. Bên nhà cử hẳn một phiên dịch viên cao cấp cho riêng y. Vương than rằng chỉ riêng điều đó đã thấy quá xấu hổ. Giời ạ, Vương mà còn xấu hổ thì chúng tôi, nhiều đứa trong đám bạn đồng môn của y còn xấu hổ đến cỡ nào. Theo tôi nắm được, y thông thạo tiếng Nga, rành rẽ chữ Hán, xài tốt tiếng Pháp, tiếng Anh cũng không đến nỗi nào. Vậy mà vẫn xấu hổ. Đó là sự tự trọng của kẻ sĩ, trí thức đúng nghĩa. Tôi bảo với Vương, tao thì coi đó (có phiên dịch riêng) là sự đánh giá đúng mức tầm quan trọng của mày trong cái hội thảo khoa học ấy.

Trần Ngọc Vương là một chuyên gia về đức vua-phật hoàng Trần Nhân Tông. Hồi đầu năm ta vừa rồi, y tặng tôi và anh Trần Ngọc Hồng cuốn sách đồ sộ (không biết công trình thứ mấy của y) Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ. Sách của Vương không dễ đọc bởi vấn đề gì y cũng đào sâu, khai thác kỹ, tầng tầng lớp lớp nghĩa. Người nào nóng vội, sốt ruột, đọc nhanh đọc lướt là chả nắm được cái gì. Tôi là kẻ mê sách, từng đầu hàng trước một cuốn sách viết về phong thủy, buông xuôi trước cuốn khác là Nam hoa kinh, còn sách kinh dịch tôi biết mình mù tịt nên chả bao giờ dám xớ rớ, chỉ thỉnh thoảng ngó bài dạng phổ cập hóa Kinh dịch của bác Xuân Cang trên báo Lao Động chủ nhật mà cũng u u mơ mơ, thì thôi, không bàn. Cuốn Thực thể Việt... của Vương, đã gần 1 năm tôi chưa đọc xong, nhưng đọc kỹ, hết bài nào giật mình bài ấy. Không ngờ K17 văn Tổng hợp có kẻ bác học như vậy.

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Vương về thăm Vươn

BÁ TÂN


Gọi tên, không nói họ. Như vậy không phải xếch mé, hỗn hào. Chỉ khi nào thân tình, với những người thân thiết mới gọi nhau như thế. Ở đâu mà bạn bè đã phải gọi nhau bằng đồng chí, ở đó đã trở thành... chi bộ.
           
Vương họ Trần, quê Phong Nha-Kẻ Bàng, kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Vươn họ Đoàn, công dân của thành phố hoa phượng đỏ.
           
PGS-TS Vương đang là "sao" trong đội ngũ giảng viên khoa văn, đại học khoa học xã hội nhân văn Hà Nội. Tuổi đời chưa bước qua lục thập nhưng Vương đã là cây đa cây đề trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam (nhất là văn học cổ).

Vươn, Đoàn Văn Vươn, khỏi phải giới thiệu. Ít nhất trong thời điểm hiện nay, mọi người không thể không biết người hùng Đoàn Văn Vươn. Không chỉ cái huyện nghèo Tiên Lãng mà kể cả cái thành phố biển Hải Phòng gần đây trở nên nổi tiếng là nhớ có một người hùng như Đoàn Văn Vươn.

Vương về thăm Vươn trước khi Thủ tướng Chính phủ có kết luận về vụ cưỡng chế theo kiểu... ăn cướp.

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Một cái nhìn "trần trụi" về quan hệ Việt -Trung

Bài này của Phó giáo sư-tiến sĩ Trần Ngọc Vương (cho mình khoe tí, mình được ông trời cho may mắn học chung với vị phó giáo sư này), đã đăng trên báo Đất Việt, một tờ báo đang vận nội công trong bối cảnh hiện nay. Mình đã xin phép giáo sư Trần và y bảo OK. Vậy thì lưu vào đây như một thứ tư liệu quý, còn ai lăn tăn, thắc mắc cứ vào Đất Việt mà đọc.

MỘT CÁI NHÌN "TRẦN TRỤI" VỀ QUAN HỆ VIỆT-TRUNG
Trần Ngọc Vương
(Đại học Quốc gia Hà Nội)

Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, không chỉ là mối quan hệ ngoại giao hiện tại, mà là dưới góc độ lịch sử, văn hóa?

PGS-TS Trần Ngọc Vương: Thực tế thì từ trước đến nay, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một quan hệ rất phức tạp. Dù công khai hay không công khai thừa nhận thì đó là một thực tế không ai có thể che giấu được.

Mối quan hệ phức tạp đó được thể hiện trên nhiều phương diện: chính trị, văn hóa, chủ nghĩa dân tộc, chân chính hay không chân chính, lành mạnh hay không lành mạnh, trong đó có cả tâm lý đám đông.

Trước hết, cần phải khẳng định quan hệ Việt – Trung từ quá khứ lịch sử đến tận ngày nay là một quan hệ nhiều chiều phong phú, đa dạng, phức tạp và đầy nghịch lý, mâu thuẫn.

Năm 1998, tại Đại học Bắc Kinh, tại cuộc gặp mặt và trao đổi trực tiếp giữa học giả 2 nước Việt Nam, Trung Quốc, các học giả Trung Quốc đã hỏi tôi: Ông nghĩ như thế nào về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Tôi muốn nhắc lại một ý mà tôi đã trả lời lúc đó, như là một nhận thức đã trở thành công thức cố định: Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ít nhất phải nhìn trong 3 góc độ, 3 tư cách của Trung Quốc.

Trong lịch sử, Việt Nam tiếp thu nhiều từ Trung Quốc, cho nên tư cách đầu tiên của Trung Quốc đối với Việt Nam là tư cách ông thầy. Đây là điều không chối cãi được do Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc cả một thiên niên kỷ. Trong suốt thời gian dài đó, người Việt đã học tập rất nhiều điều từ người Trung Quốc. Chúng ta không thể nào không kính trọng một dân tộc có nền văn minh, văn hóa thuộc loại hàng đầu thế giới.

Tư cách 2: Trung Quốc với Việt Nam là bạn: Bạn ở đây được hiểu theo nhiều nghĩa và được quy định bởi nhiều điều kiện.

Thứ nhất, là 2 nước láng giềng có chung đường biên giới rất dài cả trên đất liền và trên biển. Do có chung đường biên giới quá dài nên để có thể sống với nhau ổn định, cần có sự hữu nghị cả về phương diện cộng đồng, xã hội lẫn phương diện quốc gia. Bản thân tôi cũng có những người bạn Trung Quốc.

Thứ hai, chữ “bạn” ở đây được hiểu vừa là đối tác, vừa là đối thủ. Ngay trong một cộng đồng nhỏ cũng tồn tại những đối thủ, huống hồ là giữa 2 đất nước. Nếu bỏ qua tư cách đối thủ, tự anh sẽ làm hại anh do sẽ dẫn đến mất cảnh giác. Điều này được thể hiện trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Nhưng không vì vậy mà yếu tố đối thủ làm triệt tiêu yếu tố đối tác, bằng hữu.

Nhưng theo tôi, nếu xét trên tư cách bằng hữu, sự hợp tác giữa 2 nước chưa cao. Bởi muốn hợp tác có hiệu quả thì 2 nước phải có những mục tiêu và lợi ích chung. Phải có định hướng về tầm nhìn là cùng nhìn về 1 hướng thì sự hợp tác mới lâu bền và toàn diện. Nếu quay lưng lại với nhau hay người này tìm cách tranh thắng hơn so với người kia thì không thể hợp tác được. Trong hợp tác, nguyên tắc “Cả 2 cùng thắng” mới là nguyên tắc quan trọng nhất, chứ không phải kẻ thắng người thua.

Tư cách bằng hữu này về lâu về dài vẫn cần phải duy trì để cùng tồn tại.

Tư cách 3: Việt Nam thường xuyên là nạn nhân của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sự bành trướng đế chế của Trung Quốc: Trong thực tế, do nhiều lý do lịch sử, Việt Nam không phải là nước lớn để đặt đồng đẳng trên bàn cân so với Trung Quốc. Cho nên, tồn tại bên cạnh một đế chế khổng lổ có dân số chiếm 1/5 nhân loại không phải là điều đơn giản. Rõ ràng, so về tiềm lực, quốc lực, Việt Nam không phải là đối thủ cạnh tranh bình đẳng của Trung Quốc. Không nhận thức được điều này thì sẽ mất nước. Tôi cũng muốn sử dụng khái niệm “sự bành trướng đế chế” như là một thuật ngữ của khoa học lịch sử.

Chính vì điều này, ngay từ quá khứ lịch sử đã luôn đặt ra 1 tình huống, đó là: mất cân bằng.

Đối với nước nhỏ bé hơn, đây bao giờ cũng là hiểm họa. Điều này không có gì lạ, khắp nơi trên thế giới đều như vậy. Nói một cách lạnh lùng hơn, đây là một quy luật, có thể gọi là “chủ nghĩa Darwin xã hội”, đó là quy luật sinh tồn cạnh tranh về mặt xã hội.

Quy luật này chính các nhà kinh điển Mác – Lênin đã nhận thức và coi là quy luật bất di bất dịch: Quốc gia nào mạnh sẽ đi xâm lược, quốc gia nào yếu sẽ bị xâm lược. Không có một quốc gia đạo đức thuần túy nào từng xuất hiện trên trái đất. Chủ nghĩa bành trướng như là một lẽ đương nhiên của các nước lớn. Trung Quốc từ xưa đến nay, trừ những giai đoạn tự mâu thuẫn, tự đấu tranh nội bộ, khi họ đạt được sự thống nhất nhất định thì họ đều có tư thế nước lớn. Và khi có tư thế nước lớn, họ tự có thuộc tính bành trướng.

Khi bàn về đế chế Sa Hoàng, Lênin đã phải thừa nhận một thực tế khách quan, tất yếu: Khi nó đã là đế chế, là một quốc gia có quy mô lớn như đế chế Nga thì nó hút theo nó rất nhiều sự phụ thuộc, ép các cộng đồng dân tộc xung quanh nó trở thành vệ tinh.

Tôi xin nhắc lại, đế chế nào, quốc gia lớn nào cũng vậy. Sức ảnh hưởng, bành trướng của các đế chế này là sức hút nam châm, có xu hướng hút và cuốn các nước xung quanh vào bên trong nó. Nếu chống lại được lực hút đó thì được độc lập, còn nếu không li tâm được thì tất yếu sẽ bị phụ thuộc.

Tôi cho rằng, xu thế chung của nhân loại và nói riêng các quan hệ khu vực trong khoảng một thiên niên kỷ trở lại đây là những quốc gia như Việt Nam ngày càng thể hiện tư thế độc lập hơn, tự quyết, tự chủ hơn so với các đế chế kiểu như Trung Quốc. Mặc dù có những thời điểm trong lịch sử, xu thế đó không phải là dạng đồ thị tiến thẳng, có những lúc người cầm quyền Việt Nam tỏ ra bạc nhược, yếu hèn, nhưng nhìn tổng thể thì Việt Nam ngày càng độc lập hơn.

Việt Nam hoàn toàn đủ nội lực để tự mình trở thành một quốc gia độc lập hơn nữa, bình đẳng hơn nữa với các thế lực bên ngoài. Điều kiện của quốc tế hiện đại cho phép thực hiện được, hiện thực hóa được xu hướng đó.

Tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề cần giải quyết trong quan hệ giữa hai nước. Một bước tiến có thể nói khá quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp này là các bên đồng thuận không sử dụng vũ lực. Vậy vì sao gần đây tình hình lại đột ngột “nóng” lên, cùng với đó là sự đe dọa sử dụng vũ lực từ phía Trung Quốc?

PGS-TS Trần Ngọc Vương: Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua, chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và rõ ràng hơn về cái gọi là việc sắp xếp lại trật tự thế giới, cấu trúc lại những vùng ảnh hưởng trên thế giới. Nhìn theo nhiều lĩnh vực, có thể xuất hiện những cường quốc khác nhau, thậm chí có thể gọi là những siêu cường khu vực. Nhìn một cách tổng thể, rõ ràng Trung Quốc đang có khát vọng trở thành một siêu cường, ít nhất là siêu cường khu vực.

Từ năm 1978, khi khởi xướng lên việc định hướng lại và cải cách kinh tế để tạo vị thế của Trung Quốc, cho đến gần đây, Trung Quốc nêu lên một số mệnh đề mà tôi cho rằng đặc biệt cần chú ý.

Thứ nhất là mệnh đề: “Một hữu đới đầu” - Nhất quyết không đi đầu. Họ chấp nhận không làm người dẫn đầu, không gánh vác trách nhiệm trước thế giới. Điều này có thể dễ dàng hiểu được, cũng là do họ chưa đủ điều kiện để làm vậy dù họ muốn. Tôi cho rằng, về tầm nhìn, đó là một tầm nhìn dài hạn và khôn ngoan của họ.

Mệnh đề thứ hai là “thao quang dưỡng hối”, tức là che bớt ánh sáng, nuôi dưỡng cái tù mù. Trung Quốc muốn giữ cho riêng mình một vùng bí mật rộng lớn trong các quốc sách cũng như trong việc đo đếm, tính toán quốc lực của họ. Đây là một cách giữ gìn bí mật quốc gia để quốc tế không thể biết được tiềm lực thực sự của Trung Quốc. Dù bên ngoài có nói xấu hay nói tốt, nói hay hay nói dở, Trung Quốc cũng không phản đối hay khẳng định quyết liệt.

Mệnh đề thứ ba là “nhất quốc lưỡng chế”, tức là một nước hai chế độ. Chính mệnh đề này đã gây ra tranh luận giữa tôi với các học giả Trung Quốc năm 1998, thời điểm khi họ đang tiếp nhận Hồng Kông.

Khẩu hiệu “Nhất quốc lưỡng chế” mà Đặng Tiểu Bình đưa ra là một tôn chỉ mà họ đang thực hiện và sẽ còn lâu mới thực hiện xong. Đây chính là câu khẩu hiệu gây nhiều suy nghĩ cho tôi.

Tôi đã hỏi các giáo sư, học giả Trung Quốc ở Đại học Bắc Kinh rằng: Một nước 2 chế độ, nghĩa là một bên anh duy trì XHCN, một bên anh duy trì TBCN? Vậy thì CNXH có phải mục đích tối hậu của Trung Quốc không? Đó của phải là hệ tư tưởng của Trung Quốc không?

Họ nói theo họ là như vậy. Tôi nói: Vậy thì theo logic, anh phải tồn tại 2 chế độ, dù cho tầm nhìn xa đến đâu, khoảng thời gian dài đến đâu, nhưng nếu đến “một lúc nào đó”, tình trạng đó sẽ được / bị xóa bỏ, thì đó vẫn cứ là một công thức mang tính chiến thuật, dù nó không ngắn hạn về mặt thời gian. Cuối cùng anh phải giải quyết vấn đề 2 chế độ ra sao chứ? Phải nhất thể hóa thành một chế độ chứ? Nếu khẳng định như thế, tôi không tin là trên bốn chục triệu người ở mấy vùng lãnh thổ kia để yên cho anh “sáp nhập” dễ dàng.

Trong trường hợp ngược lại, nếu anh nói rằng đó là một tôn chỉ lâu dài, không xác định về mặt thời gian thì tức là anh từ bỏ về mặt nguyên tắc đối với chủ nghĩa cộng sản. Vì trong một nhà nước phải có, và chỉ có một hệ tư tưởng. Giả sử các vùng lãnh thổ như Đài Loan sáp nhập với Trung Quốc thì hệ tư tưởng lúc đó chắc chắn phải khác hệ tư tưởng bây giờ. Vậy hệ tư tưởng đó là gì? Các học giả Trung Quốc không trả lời được. Họ hỏi ý kiến của tôi thế nào. Tôi nói: đó chính là chủ nghĩa tư bản, hoặc một dạng khác, xác thực hơn nữa: chủ nghĩa dân tộc. Họ im lặng nhưng sa xẩm mặt mày.

“Thao quang dưỡng hối” và “không đi đầu” thì hiện nay Trung Quốc đang dần dần từ bỏ. Tức là họ công khai bộc lộ và thị uy sức mạnh, đồng thời một bộ phận kích động chủ nghĩa dân tộc.

Nguy cơ về sự bùng lên và khó lòng kiểm soát của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc là điều có thật. Cái tâm lý này nằm cả ở những người ở cấp cao, tuy tôi chưa dám nói những nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc thì ở mức độ như thế nào.

Vì thế, tôi cho rằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Trung Quốc bùng nên và khó kiểm soát đang thực sự là một nguy cơ đối với chúng ta. Tôi theo dõi báo chí và các trang mạng Trung Quốc, qua các thống kê của chính các trang đó, tôi thấy các con số về tỷ lệ người Trung Quốc đòi “dạy cho Việt Nam một bài học” là rất cao. Điều này phản ánh một tỉ lệ trung bình cộng mà chúng ta cần phải hết sức cảnh giác. Đương nhiên là các nhà chính trị không dễ dàng đưa ra các quyết định dựa trên những thống kê trên mạng như vậy, nhưng cũng chắc chắn họ sẽ bị chi phối bởi điều này.

Để hiểu tận căn nguyên, tôi không chỉ theo dõi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc mà tôi còn phải theo dõi cả thực thể Trung Hoa, tôi cho rằng hiện nay, những vấn đề mâu thuẫn nội tại của xã hội Trung Quốc là căng thẳng nhất thế giới. Có người đã nói ví von là: Giữa những tỷ phú giàu nhất thế giới đã có người Trung Quốc, nhưng những cộng đồng nghèo đói nhất thế giới cũng có người Trung Quốc. Điều đó dẫn đến những bất an về mặt xã hội.

Những bất an xã hội đó khiến tôi rất lo lắng. Không phải chỉ lo và thương cho người Trung Quốc. Tôi không dám nói đó là tất yếu, nhưng theo những lối mòn của lịch sử, để trấn an nội bộ, trong mấy nghìn năm qua, Trung Quốc luôn dùng phương pháp chuyển mâu thuẫn ra ngoài. Tức là cứ mỗi lần nội bộ Trung Quốc có vấn đề lớn, các nhà cầm quyền Trung Quốc lại tiến hành xâm lược một vùng nào đó. Họ dùng “võ công” để răn đe và giải quyết mâu thuẫn bên trong. Tức là họ không đánh trực tiếp đối thủ trong nước mà tấn công bên ngoài để làm giảm áp lực và xả bớt lực căng xã hội. Xin nói thật, đây là điều tôi sợ nhất vì Việt Nam có nguy cơ cao trở thành nạn nhân, các tỷ lệ thống kê cao trên mạng phản ánh đúng điều này.

Báo chí và các trang mạng Trung Quốc, kể cả các tờ được coi là chính thống và quan trọng hàng đầu, kể cả Đài Truyền hình Trung ương, hiện nay đang liên tục xuyên tạc về Việt Nam, tôi xin gọi là nói rất láo về Việt Nam.

Tôi nghĩ là người Trung Quốc đâu thù Việt Nam đến thế. Những người làm chính trị, quan sát chính trị đều nhận thấy trong thời gian qua Việt Nam đã nhẫn nhịn rất nhiều. Thế giới không ngây thơ để tin vào những tuyên truyền xuyên tạc của Trung Quốc là Việt Nam luôn gây hấn và kích động. Rõ ràng là người Việt Nam luôn có tâm lý hòa hiếu, muốn yên ổn. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Võ công thiên tài và chiến công hiển hách như Quang Trung mà trước khi đánh trận Đống Đa còn yêu cầu Ngô Thì Nhậm viết sẵn biểu tạ tội, rồi biểu cầu phong.

Vì vậy, vấn đề ở đây là chúng ta phải tránh để bị Trung Quốc biến thành vật hi sinh. Nhưng đồng thời, ta không chỉ giữ thể diện với dân mà về lâu dài cần phải nuôi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của nhân dân ta. Như cụ Hồ đã nói một câu thể hiện tất cả: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Chúng ta vừa phải mềm mỏng, nhẫn nhịn nhưng cũng luôn phải tự cường, rắn rỏi.

Hòa bình, đó là khát vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Song, cũng như ý chí nhân dân, các vị lãnh đạo của Việt Nam luôn khẳng định “chủ quyền là số một”. Từ cái nhìn lịch sử, theo Giáo sư, làm thế nào để giữ được cả hai điều này?

PGS-TS Trần Ngọc Vương: Mặc dù có những cái đầu ở Trung Quốc đang rất nóng, và cả nhiều cái đầu ở các nước láng giềng của Trung Quốc, đương nhiên cả ở ta, cũng đang nóng, nhưng theo tôi chúng ta nên coi đó là chuyện bình thường. Có những phản ứng cực đoan thái quá là bình thường. Cả ở đây nữa, “trái tim có những lý lẽ riêng mà cái đầu không thể hiểu”. Nhưng đó không phải là tất cả. Vấn đề là các nhà cầm quyền phải biết giữ tỉ lệ cực đoan đó ở mức có thể kiểm soát được và không gây ra tác hại. Các nhà lãnh đạo cần có cách hành xử và giải quyết vấn đề phù hợp.

Tôi cho rằng với diễn biến của tình hình vừa rồi, sự bộc lộ thái độ và hành động của cộng đồng và người dân Việt Nam là hợp lý. Giữ mức độ như thế là hợp lý.

Với tư cách là người cũng đã nhiều năm nghiên cứu về Trung Quốc, về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay đối với chúng ta là làm thế nào để cân bằng được niềm tự hào dân tộc, khí phách dân tộc với hoạt động thực tiễn chính trị tỉnh táo để đạt được mục tiêu quan trọng hàng đầu là giữ gìn độc lập dân tộc. Đồng thời tránh cho dân tộc khỏi những tổn thất, va chạm không cân sức và không cần thiết.

Xin cảm ơn Giáo sư.

(Theo báo Đất Việt)