Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Một câu hỏi lớn, chưa lời đáp

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh nhớn tuổi hơn mình, làm báo trước mình, nghĩ và viết nhiều điều rất sâu sắc, mình kính trọng coi là bậc trưởng thượng, đàn anh. Hằng ngày gặp nhau chủ yếu vì công việc, leo vào blog thấy có nhiều điều giống nhau nhưng chả thể nói to, chỉ như lời tâm sự. Đây là một bài viết của đại huynh dạng ấy, mình giữ lại làm kỷ niệm. Blog của anh còn nhiều bài hay khác, được bổ sung mới thường xuyên, quý vị nào muốn coi có thể xem tại địa chỉ huynhngocchenh.blogspot.com.
Anh Chênh người Nam nên hay bị nhầm lẫn dấu hỏi-ngã, mình tôn trọng bản gốc nên để nguyên không sửa chữa gì.

TẠI SAO KHÔNG KIỆN CHÍNH QUYỀN TP HỒ CHÍ MINH RA TÒA?

Nghĩ đến chuyện đoàn xe của tổng thống Obama chạy ở London gây ra đôi chút cản trở lưu thông đã bị bắt phạt mà đau xót và tủi nhục trước những ứng xử của chính quyền TP HCM.
Kể từ ngày nổ ra cuộc biểu tình chống xâm lược đến nay đã qua 8 lần chủ nhật. Cứ đến ngày chủ nhật là hầu như tất cả các ngã đường dẫn vào lãnh sự quán TQ đều bị rào kín từ sáng sớm. Tất cả các quán hàng, dịch vụ, Trung tâm mua sắm Diamond Plaza, nhà văn hóa Thanh Niên...đều nhất loạt bị đóng cửa. Nơi nào mở cửa hoạt động, kinh doanh sẽ bị phạt nặng.
Khổ nổi những doanh nghiệp nơi đó hầu hết đều kinh doanh ăn uống, dịch vụ...doanh thu cao vào ngày cuối tuần. Thế nên khi buộc phải đóng cửa họ chịu tổn thất khá nhiều. Nhà văn hóa Thanh Niên, nơi tập trung vui chơi, sinh hoạt, học tập của hàng ngàn bạn trẻ vào ngày cuối tuần cũng bị cấm đoán gây ra tổn thất lớn không những cho nhà văn hóa mà còn tổn thất cho ngàn hàng bạn trẻ cần nơi học tập, vui chơi, sinh hoạt lành mạnh.
Những tổn thất vô lý đó mà người dân phải gánh chịu là vì cái gì?
Chắc chắn là vào ngày chủ nhật các quan chức TQ trong lãnh sự quán đang ngủ nghĩ, vui chơi. Chẳng lẻ người dân của chúng ta chịu tổn thất để giử yên cho những giấc ngủ trễ tràng của nhân viên LSQ TQ? Dân ta phải chịu tổn thất để cho các người đó không bị mất bửa ăn ngon do sự ồn ào của đám đông bên ngoài?
Họ cắt cáp phá hoại tàu bè của ta, họ đuổi bắt trấn lột ngư dân của ta làm ăn trên biển, đẩy bao nhiêu gia đình ngư dân vào hoàn cảnh nhà tan cửa nát điêu đứng mà dân ta đứng ra phản đối bằng vài câu biểu ngữ ôn hòa cũng không được hay sao?
Luật pháp ghi rất rõ, những quyết định của cơ quan chính quyền ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân thì sẽ bị người dân kiện ra tòa.
Chính quyền TP HCM không thấy rằng đã ra các quyết định ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân hay sao?
Cái não trạng trì trệ của chúng ta làm chúng ta cứ nghĩ rằng hể cơ quan nhà nước thì muốn làm gì thì làm, làm đúng hay sai thì cũng không ai dám nói tới. Cái não trạng trì trệ đó có trong quan chức nhà nước mà cũng có trong dân. Do vậy mà liên tục 8 ngày chủ nhật qua bị đóng cửa ngưng hoạt động...nhưng chưa có doanh nghiệp nào, người dân nào dám khởi kiện chính quyền ra tòa cả.
Thật đau đớn tủi nhục cho đất nước.
Thứ bảy, ngày 06 tháng tám năm 2011

(Nguồn: huynhngocchenh.blogspot.com)

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Đường ra trận mùa này đẹp lắm


Phải nói ngay kẻo bị quy là mất quan điểm, lập trường: Ra trận để đấu với bọn Tàu cộng, bành trướng Bắc Kinh lăm le nuốt nước ta.
Trong lúc báo chí, truyền thông rụt rè, ngơ ngác trước các cuộc biểu tình yêu nước diễn ra dồn dập thì việc được người dân ưu ái "cho tham gia" vào cuộc tuần hành như thế này (xem các ảnh kèm theo) là sự ưu ái đặc biệt với báo Thanh Niên. Có người bảo rằng hay hớm gì, có người ỡm ờ rằng người ta lợi dụng báo thì có chứ chả ưu với ái. Kệ, theo tôi, chỉ "vô tình" đứng vào hàng ngũ vậy thôi, báo Thanh Niên đã vinh dự lắm lắm. Bạn tôi tị nạnh, chỉ quả này cũng gấp vạn lần quảng cáo thông thường, đã không mất tiền mà vang danh khắp chốn, trong lẫn ngoài nước.
Tôi lân la hỏi, thì thấy những người làm báo Thanh Niên không nghĩ thế, tiền bạc là cái đinh gì, nhưng họ rất tự hào. Dân có tin mình thì mới cho mình cùng đi, ai còn nghi ngờ, thử xem lại có tờ báo nào trong cuộc biểu tình yêu nước vừa qua được vinh dự ấy.
"Đường vui không đợi mùa trăng
Ta đi làm ánh sao băng giữa đời"
(Tố Hữu)
Khá khen thay cho những người làm báo Thanh Niên biết chớp lấy thời cơ, dù chưa phải nghìn vàng, nhưng đủ để nâng tầm vị thế. Và các nhà báo TN, hãy cám ơn đồng bào mình, bởi họ đã cho phép tờ báo họ yêu mến được đứng trong đội ngũ nhân dân.
Dưới đây là những tấm ảnh đầy chất lịch sử đối với báo Thanh Niên. Xin cám ơn các tay máy dũng cảm, tài năng, đầy chất nhân văn Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Vinh, và ai đó nữa nếu nhà cháu chưa biết tên.
Ảnh chụp sáng 7.8.2011 tại thủ đô Hà Nội.




Hai blogger nổi tiếng Mẹ Nấm và Người Buôn Gió với báo Thanh Niên




Người phụ nữ đứng hàng đầu này là bạn mình, Nguyễn Thị Hương- thân mật gọi là Hương Big

8.8.2011
Nguyễn Thông

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Vui đáo để

Tuýt tuýt. Đồng bào chú ý làm theo hiệu lệnh nhé: Đả đảo Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa của Việt Nam. Đả đảo! Đả đảo!... (ảnh của anh Nguyễn Lân Thắng, lời Nguyễn Thông)

Hà Nội ngày 7.8.2011, bên bờ hồ Gươm.
Quanh hồ Gươm, nhân dân bàn chuyện vua Lê. Khí thế quá.
Thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng biểu tình, í quên, cùng làm, cứ xã hội hài hòa như vầy, chả mấy chốc mà dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Hương Big đi biểu tình

Hương Big ngoài cùng bên phải, người đứng cạnh là GS Nguyễn Huệ Chi, trên thềm Nhà hát Lớn Hà Nội trong cuộc biểu tình yêu nước ngày 17.7.2011.

Nguyễn Thông blog:
"Mụ" này cứ như con chim, nay đây mai đó, mới chiều thấy ở Sài Gòn, thoắt sáng sau đã từ Hà Nội phôn vào. Bạn bè cùng lớp thân ái đặt cho "mụ" biệt danh Hương Big, Hương lớn Nguyễn Thị Hương để phân biệt với một "mụ" khác cũng đáng yêu không kém (mà bọn con gái lớp mình khóa 17 Văn khoa Tổng hợp đứa nào cũng đáng yêu, nếu được cưới chúng nó thì mình xin lấy hết) là Hương con Nguyễn Thanh Hương. Đời "mụ" lớn là cả một bản tình ca lãng mạn. Mình cũng thích nó.
Bấy lâu không gặp, tình cờ thấy "mụ" ngồi trò chuyện với Nguyễn Xuân Diện trong buổi gặp mặt cà phê chủ nhật 31.7 nổi tiếng tại 36 Điện Biên Phủ, Hà Nội, mình liên lạc, Hương bảo "không biết à, tớ đi 4 cuộc biểu tình rồi, nhiều cái hay lắm". Thằng Xuân Ba mới tham gia 2 cuộc, còn Hương gấp đôi, được đấy, âm thịnh dương suy.
Hôm qua Hương meo cho mình bài (dưới đây) bảo là để đọc chơi cho biết. Mình cũng đang có mấy bài, nhưng hơi lấn cấn tí "lý do kỹ thuật" nên bài vở bỏ trống hơi lâu, bèn xin phép bà bạn cho chia sẻ bài này về blog của mình. Thích nhất là những cái tít nhớn tít nhỏ đặt theo kiểu Những người khốn khổ của Victor Hugo.
Hương bảo hai người phụ nữ xinh xinh trong bài là 2 cô con gái của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, tác giả Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Cô em Phương Chi hiện cán bộ nghiên cứu viện Văn học. Hai chị em nhà này cũng phải mẹo mực lắm mới lẻn được vào quán cà phê này đấy. Vậy mà mình cứ nghĩ là Kim Anh nữ sĩ.
Còn đây là nguyên văn, không sửa chữa tí ti gì bởi mình tôn trọng bạn Hương.

Mấy mẩu chuyện nho nhỏ lượm được bên cái xe cứu hỏa to to vào ngày có phiên xử ông Cù Huy Hà Vũ

Những con phố hôm nay khác lạ

Mưa do ảnh hưởng từ cơn bão ngoài biển Đông vẫn kéo dài mấy ngày qua. Sáng sớm 2/8, tôi và cô bạn sà vào hàng bún vỉa hè. Ăn xong, chúng tôi lững thững đi bộ ra phố Hai Bà Trưng. Bỗng tôi nhìn thấy rất nhiều công an áo vàng, bảo vệ đeo băng đỏ trên tay và hàng tá những người mặc thường phục đứng chặn khắp các ngả đường dẫn đến Tòa án nhân dân TP Hà nội. Chúng tôi phải nghĩ mãi mới tìm được cách đánh lừa mấy chú công an trẻ để ra uống café ở một quán vỉa hè Lý Thường Kiệt. Đập vào mắt chúng tôi lúc đấy là cảnh con đường chợ Âm phủ cũ, các góc phố Lý Thường Kiệt, phố Dã Tượng đều đầy ắp công an. Bên cạnh góc đường chợ Âm phủ còn thấy một chiếc xe cứu hỏa to lù lù đang đỗ. Những con phố quanh tòa án hôm nay bỗng trở lên khác lạ, thay vào dòng người qua lại thân quen là những đốm vàng đốm xanh di chuyển, là tiếng tuýt còi và tiếng quát tháo.

Quán vỉa hè chúng tôi lựa chọn để uống café đã có đến chục khách mặc thường phục, toàn đàn ông. Khi cô chủ quán đem café ra, tôi xin phép người đàn ông ngồi bên cạnh để đặt cốc café lên cái ghế nhựa được dùng làm bàn trước mặt anh ta và tiện thể hỏi chuyện luôn xem anh ta có biết tại sao hôm nay khu vực này lại nhiều công an như vậy không? Anh ta ậm ừ: “có việc trong tòa án”. Tôi hỏi tiếp:”việc gì trong tòa án hở anh?” anh ta không trả lời. Tôi vờ vịt, anh ta ậm ừ. Thôi vậy, không hỏi nữa. Anh ta chắc không tin câu hỏi của tôi là chân thành. Còn tôi, sau vài phút quan sát tôi đã đoán được những người đang ngồi chung quán với mình là ai. Họ đang làm nhiệm vụ rất chân thành. Tôi nói với cô bạn nhưng chắc mấy anh bên cạnh đều nghe thấy hết: có mỗi ông Cù Huy Hà Vũ, một công dân yêu nước bình thường thế mà phải huy động ngần ấy lực lượng để ngăn cấm dân đến gần tòa án thì rõ hành động này là tôn vinh ông ấy thật rồi còn gì.

Ngừng lời, tôi tiếp tục nhìn ra mặt phố thì thấy một bác giai trung tuổi phóng xe máy đến, không chờ cho mấy anh công an quát bác ấy đã dừng lại quát trước:” Mưa gió thế này đứng ở đây làm gì? Về đi!” mấy anh công an bị bất ngờ chưa kịp định thần thì bác ấy quát tiếp:”Về!” xong rồi bác ấy rồ ga phóng mất hút trên đoạn đường Lý Thường Kiệt không bị cấm. Tôi và mấy người trong quán hô to :”Ô, bác giai này đâu ra mà được thế nhỉ”.

Nhổ răng không gây tê

Chúng tôi ngồi đau đáu nhìn về phía sân tòa án. Và rồi bên cạnh chúng tôi, dưới lòng đường liên tục có tiếng tuýt còi, tiếng quát tháo của các anh công an và bảo vệ mỗi khi có xe trườn tới, khi thì cái xe máy, lúc cái ô tô.

Nghe tiếng quát tháo và nạt nộ thô lỗ để xua đuổi người đi đường của bảo vệ và công an, tôi không chịu được lâu hơn bèn “tâm sự” với cô bạn nhưng cũng cốt để những người xung quanh nghe thấy: “này cậu, tớ thấy mấy anh công an này nói năng với dân thiếu lễ độ quá, nếu lực lượng công an mà thế này thì gay nhỉ! Họ nghĩ gì trong đầu mà tự cho mình quát tháo nạt nộ dân nhỉ! Không chấn chỉnh thì rồi người nhà hay họ hàng của anh công an này sẽ bị anh công an kia nạt nộ hỗn láo thôi, làm gì có nhiều gia đình làm công an cả nhà, làm gì có họ nào làm công an cả họ, mà làm công an ở tỉnh này thì lại bị công an ở tỉnh khác hành chứ chả chơi.” Cô bạn tôi tiện thể “tâm sự” lại: hồi trước tớ ra lệnh cho nhân viên của tớ cứ thấy cậu công an nào đến chữa răng thì cứ theo phương châm “nhổ răng không gây tê” cho biết thế nào là làm cho người khác đau. Cô bạn tôi là một bác sĩ giỏi, rất hiền lành và nhân hậu, ngay cả khi cô ấy nói chuyện này cũng bằng một chất giọng êm như lụa, mượt như nhung chả có ác ý gì. Cô ấy chỉ muốn kể một câu chuyện về nhân quả.

Tôi có một số bạn là công an, tôi rất quý họ và hy vọng là họ chưa bị nhổ răng mà không được gây tê.

Nói chuyện 2 người lâu cũng chán, nhất là xung quanh lại đang có rất nhiều người thú vị. Tôi quay sang anh bên cạnh rào trước đón sau: “anh cho tôi hỏi một câu nhé, nếu anh thích thì trả lời nếu anh không thích thì anh có quyền từ chối”. Anh ấy không từ chối, thế là tôi hỏi:”anh thấy thay vì quát tháo và tuýt còi inh ỏi mấy anh công an và bảo vệ kia có nên ôn tồn nói với người dân là hôm nay đoạn đường này bị cấm mời các bác các anh chị vui lòng quay lại đi đường khác hay không?” anh ấy trả lời: “thì họ đang làm nhiệm vụ mà”. Tôi lại hỏi:”à hóa ra thế ạ, công an khi làm nhiệm vụ có quyền quát ạ? Các anh công an bây giờ có biết lời dạy của bác Hồ là “đối với dân phải kính trọng lễ phép” không anh?” anh ta chưa kịp trả lời thì có anh trẻ hơn ngồi cạnh vội nói “nhưng người dân có lúc cũng chửi công an, gọi công an là thằng, là oắt con”. Tôi nói “thế để đề phòng tình huống dân phản ứng như anh vừa nói thì các anh công an cứ quát phủ đầu dân trước đi đúng không ạ?”. Im lặng. Tôi đánh giá im lặng là đồng ý và chắc anh ấy thấy tôi nói có lý. Tôi tiếp:”Chắc anh mà bị quát thế anh cũng cảm thấy bị xúc phạm nhỉ? Tôi đoán những người dân vừa bị các anh công an quát tuy không phản ứng nhưng họ sẽ giận lắm, công an không tôn trọng họ chắc họ cũng không tôn trọng công an”. Lại là những giây im lặng rồi cơn mưa ào ào trút xuống, các anh công an và bảo vệ chạy nháo nhào tìm nơi trú mưa. Tôi đưa mắt về phía sân tòa án, một chiếc xe bịt bùng nhỏ chạy từ trong sân ra cổng và trốn vào giữa làn mưa giăng mù trắng xóa.

Tôi phản ánh

Tạnh mưa và cũng đã trưa rồi, tôi và cô bạn chuẩn bị đi về thì thấy 2 người phụ nữ xinh xinh ngồi cùng quán chạy ra nói chuyện, chúng tôi nhận ra nhau vì trước đây học cùng khoa trong trường đại học. Chúng tôi hẹn nhau chiều quay lại khu vực này để uống tiếp café rồi chia tay. 2 chúng tôi đi về phố Hai Bà Trưng theo con đường Hỏa Lò. Công an và bảo vệ vẫn chốt 2 đầu của phố này. Tôi mắc bệnh hay quan sát, không để mắt yên nên tôi bị quả báo, thấy ngay một anh bảo vệ mặc áo trắng đeo băng đỏ đang trong tư thế thắt lưng quần chưa cài, đứng ngay bên cạnh tường rào tòa án và đối diện cổng vào khu tham quan di tích nhà tù Hỏa Lò. Tôi bất bình với hành vi này. Tôi chạy ngay lại quầy bán vé để kiểm chứng thì cô nhân viên bán vé nói ngay: anh giai kia vừa đái bậy cô ạ. Tôi hỏi: thế cháu có phản ứng gì khi nhìn thấy không? Cô ấy bảo: cháu kêu rất to là Ơ cái đồng chí kia’, rồi cô ấy tiếp: kinh quá cô ạ, đây là khu di tích mà họ thế đấy, anh ấy lại còn là bảo vệ chứ lị. Anh bảo vệ cứ thế nhởn nhơ chưa cài thắt lưng vội. Giời ạ, cô bạn tôi cười khanh khách chỉ vào cái bảng có mũi tên đề rất rõ: nhà vệ sinh cách 200m, bảng này cách chỗ anh bảo vệ đái bậy chỉ có mấy bước chân.

Tôi đi tìm hỏi thăm xem ai là người chỉ huy nhóm công an bảo vệ đang chốt ở phố Hỏa Lò này. Người ta chỉ cho tôi 2 anh đang đứng rất nghiêm chỉnh trong tư thế 2 tay chắp ra phía sau. Tôi lại gần và nói: xin 2 anh cho tôi phản ánh một sự việc: nhân viên dưới quyền chỉ huy của các anh có hành vi kém văn minh ảnh hưởng đến môi trường, làm xấu hình ảnh người Hà nội giữa khu di tích có nhiều khách nước ngoài thăm viếng, rồi tôi trình bày sự việc mà tôi nhìn thấy cùng lời đề nghị các anh nên giáo dục nhắc nhở nhân viên. Một trong 2 anh trao đổi với tôi và nói là các chốt khác nhau nên các anh ấy không có trách nhiệm. Tôi thất vọng quá nhưng kiên quyết không bỏ cuộc, tôi bảo phải đi hỏi thăm mãi họ mới chỉ cho tôi người chỉ huy mà các anh lại nói thế thì tôi phải phản ảnh vấn đề này với ai đây. Lúc này anh ấy mới vội an ủi tôi bằng câu: thôi được, để chúng tôi nhắc nhở. Tôi nhìn vào bảng tên anh ấy đeo trên ngực và bảo : anh Th. hứa với tôi rồi nhé. Tôi hy vọng là anh ấy giữ lời.

Kết

Tôi và vài người bạn đã tìm đến khu vực tòa án hôm 2/8, âm thầm theo dõi một phiên tòa nín lặng với lòng cảm phục đối với Cù Huy Hà Vũ. Chúng tôi không được biết những gì diễn ra bên trong phòng xử án. Làm sao biết được khi mọi ngả đường đều bị phong tỏa. Nhưng nếu ngồi nhà ngay cả những mẩu chuyện nho nhỏ bên trên tôi cũng không có để kể lại cho các bạn. Tôi tin các bạn còn biết nhiều hơn những mẩu chuyện tôi vừa kể. Mỗi người chắc đều muốn một tương lai tươi đẹp cho con cháu mình.

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Chuyện cũ mà không cũ

Lời bạch:
Khuya qua, buồn ngủ mà chả ngủ được, trằn trọc mãi, khỉ thế. Với tay lên giá sách, gặp ngay cuốn truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, đọc vài truyện. Đến truyện Đào kép mới, thật khoái củ tỉ, bật cười thành tiếng. Vợ thức dậy bảo điên à. Ừ, đúng là điên, nhưng tự hỏi mình điên hay ai điên.
Vậy thì chép ra đây cho bà con thưởng thức giọng trào phúng đặc sản của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

ĐÀO KÉP MỚI
Nguyễn Công Hoan

Mới độ bảy giờ tối, ba ngọn đèn điện ở cửa rạp tuồng An Lạc đã bật lên. Cái trống dựng nghiêng ở chân tường đã bắt đầu rung những hồi inh ỏi.
Hiệu trống ấy, cứ một nhịp, kéo dài cho đến tận tám giờ, có khi tám giờ mười lăm, là lúc khai diễn.
Thỉnh thoảng, thằng bé con vừa nện tùng tùng, vừa uể oải giục:
- Các ông các bà, lấy vé vào mà xem, gần đến giờ rồi.
Đó là nó mời mấy ông nhỏ, mấy bà vú em, được dịp vắng chủ, ra đấy để "xã giao" với nhau.
Các ông, ông nào ông nấy tóc chải thật mượt, hoặc gài cái lược bằng dây thép uốn, bá vai nhau, vắt chân chéo khoeo, đứng ở trước cái bảng quảng cáo giấy vàng dán trên mặt liếp, để tập đánh vần quốc ngữ.
Các bà thì áo cánh cộc lụa mặc ra ngoài áo cánh cộc vải, kệ cho lũ trẻ đứa chạy tung tăng, đứa bò lổm ngổm, ngồi ở gần hàng nước, phàn nàn bà chủ nghiệt hoặc nói chuyện chồng bạc tình.
Rất ít người lấy vé vào coi hát.
Tiếng trống vẫn làm đinh tai.
Trong cái buồng hẹp ngay cạnh cửa, có lỗ tò vò bé cỏn con, trước cái bàn để sẵn ba bốn tập vé, bà chủ ngồi thừ mặt, vú vạch ra cho con bú.
Không còn gì buồn bằng cảnh ế hàng.
Trong rạp, từ bảy giờ rưỡi trở đi, ba chiếc quạt tây, buộc díu vào một dây kéo, đã bắt đầu hoạt động. Ghế các hạng, lác đác đã có một vài người ngồi. Ngọn gió nhân tạo không phẩy được tới những dãy ghế cuối cùng, cao lêu đêu, dãy ghế hạng năm xu mà người ngồi, đếm được gần bốn chục. Trong khi chờ, khán giả cười to, nói lớn, nhổ bậy, hoặc cãi nhau.
Nhưng bỗng một hồi chuông rung mạnh. Đèn phía trong sân khấu bật lên, làm rõ những mảnh sơn bong trên lớp vải màn mỏng bao nhiêu, thì làm mờ cái phong cảnh vẽ đi bấy nhiêu.
Trống, kèn, nhị, thanh la, tung ra những tiếng gắt gỏng.
Bỗng một cái đầu bóng thò ra ngoài màn sân khấu, ngơ ngác nhìn. Một nhịp cười dồn ở hàng ghế bét. Một hồi chuông rung ngắn nữa. Chiếc màn từ từ cút kít cuốn lên từng nấc: Cảnh triều đình.
Người ta suỵt. Người ta hét im. Nhưng ở cuối rạp, vẫn cười to, nói lớn, vẫn nhổ bậy, cãi nhau.
Vai vua gầy gò, ngồi trên cao, trước cái phông sơn thuỷ, vuốt bộ đuôi ngựa làm bức rèm mồm, nhìn hai dãy bá quan, hát những câu không ai nghe rõ. Bá quan nghiêm chỉnh, thỉnh thoảng sờ nạm râu anh em ruột với râu của vua, mắt liếc ngang liếc dọc, ra vẻ trịnh trọng.
Rồi một anh nhọ mõm, quần áo thâm, quỳ giữa sân khấu, bưng trên đầu cái đĩa bày bốn chiếc chén không. Vua giơ tay mời. Bá quan sáu người, thì bốn người đứng dậy, mỗi người cầm một chén, vạch râu, kề tay vào mồm, hắt cặn, rồi lại ngồi xuống.
Vua cười kha khả, phán:
- Giui! Giui quá đi mấc mà thôi!
Rồi cả bọn kép hát đứng dậy, đi bài tẩu mã. Tiếng kèn đưa cao, giọng hát hùng hồn vang nhịp, ăn theo với điệu bộ múa may. ở hàng ghế dưới, tiếng ồn ào đã hơi dịu.
Bỗng anh nhọ mõm ban nãy, ở trong buồng trò chạy ra, hớt hơ hớt hải. Anh vấp vào một vai quan, ngã lộn tùng phèo. Tiếng vỗ tay ran như tràng pháo, để thưởng cho anh kép hát pha trò đậm.
Ngã xong, anh kép đứng phắt dậy, đứng thật ngay, xoè năm ngón tay lên trán để chào kiểu nhà binh. Người ta lại cười.
Vua nói giọng Sài Gòn, phán hỏi:
- Chi mà bay giội giàng làm giậy, thằng kia?
- Dạ, thậm cấp, thậm cấp, chí nguy, chí nguy! Quân nước Phiên đã kéo đến Lâm Truy, cách kinh kỳ có ba ki lô mét!
- ải! ải!
Vua quát vậy, rồi với chiếc nậm gỗ, đập chan chát:
- ải ải! Nếu giậy, khổ dã châng khổ dã, nguy tai thị nguy tai! Cuộc chiếng tranh nếu cứ kéo dài, ta e nữa môộc mai dâng khổ. ớ này, bá quang!
- Dạ.
Rồi vua gò lưng, lắc đầu, lắc cổ, hét:
- Quâng Phiêng đã Lâm Truy kéo tới, làm giua tôi lại gặp buổi giang nang, trẫm truyền cho giăng giõ bá quang, xem ai có tài có gang ra giúp nước, hà!
Vừa dứt lời, hai anh kép mồm nhẵn thín, ngồi ngoài cùng, ban nãy trơ khấc không được đánh chén, vội đứng cả dậy, xắn áo thêu, xốc lại mũ, rồi múa may, uốn éo, làm bộ giương súng, cưỡi ngựa, vặn ôtô, nhảy xe đạp. Người xem hát cười rầm rầm. Hai anh lại nhảy xe đạp, vặn ôtô, cưỡi ngựa, giương súng một lượt nữa, đụng cả vào nhau, ngã nghiêng ngửa, cho đến tận lúc tiếng cười ngớt. Rồi trong rạp im phăng phắc. Một luồng gió, qua chỗ đi tiểu, đượm mùi cống, lọt vào cửa tò vò, làm cho cả rạp thấy thoang thoảng luồng không khí hăng hăng. Nhưng không ai để ý đến, người ta chăm chú nhìn và nghe hai anh kép đương phệnh phạo giở lối anh hùng rơm. Anh bên phải vươn cổ nói:
- Đã có tôi phò tá!
Anh bên trái, ngoác mồm tiếp:
- Lại có mỗ tá phò!
Rồi cả hai anh đồng thanh vừa hát vừa giơ tay:
- Xin Thánh thượng đừng lo.
Đoạn lại cùng vênh váo trỏ vào ngực mình:
- Đã có tôi... phò tá!
Dứt lời, hồi vỗ tay sao mà vang và lâu thế!
Thằng bé bán nước và lạc rang lách qua các chỗ ngồi để rao hàng. Trên sân khấu, vẫn diễn ra những điệu bộ và những câu pha trò nhảm nhí. Hai ba ông quần áo tây ngồi trên hạng nhất, thở dài, rồi đứng dậy ra về. Nhưng hàng cuối cùng mỗi lúc một thêm người, mà cũng chỉ đông ở hạng ấy.
Nhìn khu ghế nhất, ghế nhì, khách vắng tanh tanh, ông chủ gánh hát lo lắng.
ở ngoài đường, bọn tìm cuộc vui buổi tối vẫn đi lại rầm rập. Nhưng mấy ai qua rạp An Lạc, nghe tiếng kèn, tiếng nhị, đã chịu liếc mắt vào trong, xem đào kép áo mũ râu ria, diễn những trò gì.
Mấy năm nay, ít người thích nghe hát tuồng cổ.
* * *
Gánh An Lạc dọn đi đâu mấy tháng, nay lại mới về, thuê ở chỗ cũ.
Ngay từ buổi sáng, ở cửa rạp, người qua đường vô ý đến đâu cũng phải trông thấy một cái cổng kết bằng lá dừa, gài thêm những cành nhãn cài hoa râm bụt. Trên cổng, hàng chục chiếc cờ Pháp, Nam bay tíu tít. Trên tường, một miếng vải trắng căng thẳng, có dán một dòng chữ trang kim:
Đào kép mới! Bản rạp chấn chỉnh! Đào kép mới!
Rồi đến năm giờ chiều, lúc mặt trời đã xế, trước nhà hát, bảy chiếc xe cao su đã chực sẵn cả ở vệ đường.
Một lát, bảy chiếc xe thong thả bước một tiến đi. Xe đầu, một cái biển dán giấy đỏ, có chữ viết lớn:
Đại diễn tích hát mới! Lưu Lễ bình Phiên - Bản rạp mới chấn chỉnh! Đào kép mới!
Ngồi trong xe, một thằng bé con giơ thẳng hai cánh, nện vào mặt chiếc trống cái, và một thằng nữa, đánh thanh la, thỉnh thoảng phồng má, thổi bài kèn tây ra trận.
Xe thứ nhì, bốn tài tử, người kéo nhị ngồi phệt dưới sàn xe, hai người thổi kèn và sáo, lèn nhau trên đệm, và người đánh đàn ngồi chỗ mui, giang hai cẳng để lấy thăng bằng.
Xe thứ ba, một cô tiểu thư mắt toét, mặt trắng, má đỏ, với một con bé tóc xoã. Hai người cùng áo gấm, giày Tàu.
Xe thứ tư, ba ông ngồi kẹp đùi vào lưng nhau, một ông thượng ban, một ông trung ban, một ông hạ ban, cùng mũ cánh, áo thêu, ông thì mặt đỏ, ông thì râu dài, ông thì mũi hin, tai bẹp.
Xe thứ năm, thứ sáu cũng vậy. Cũng những ông trông ra phết Thái sư.
Xe thứ bảy, thì một cô xấu, nhưng tân thời, mặt phấn má hồng, môi đỏ, rẽ lệch, chiếc áo căng lườn, trông tức anh ách, như một bài thơ thất luật.
Đoàn xe quảng cáo mười lăm vị đào kép mới, đi diễu hết phố này sang phố khác. Mặt trời chưa lặn. Ngọn cây đứng yên. Bóng râm mới lấn được nửa đường bên trái. Bọn đào kép phải phơi dưới ánh nắng nóng như thiêu. Trên mặt phấn một vài người, mồ hôi lấm tấm, rồi ròng ròng nhỏ giọt. Họ lấy quạt che nắng và phẩy. Song, trời này mà họ cứ mũ áo ấy, đai mãng ấy, để đi rong phố, thì dù họ có cố khéo giữ lấy bộ mặt tươi tỉnh, nhưng ai chẳng đoán được cái cảnh đáng thương của kiếp đào kép hát tuồng!
* * *
Tối hôm ấy, cũng mới độ bảy giờ, sáu ngọn đèn điện làm sáng trưng cả cửa rạp An Lạc. Thằng bé con lại khua trống rầm rầm.
Các ông bếp, các bà vú em vẫn xã giao, đi lại nhộn nhịp. Nhưng trước cái bảng giấy đỏ, đã có nhiều ông sang trọng đứng đọc, và qua cái lỗ hổng bán vé, thỉnh thoảng một vài cái tay trắng nuột thò vào xỉa tiền.
Độ tám giờ, trong rạp đã nhiều khách. Trên dãy ghế hạng nhất, có chừng hai chục người. Hạng nhì đông hơn. Hạng ba đông hơn nữa. Hạng năm xu càng đông hơn.
Người ta thử xem rạp An Lạc chấn chỉnh. Người ta thử xem tài đào kép mới. Người ta thử xem tích hát mới.
Nhưng rồi người ta lắc đầu với nhau. Vẫn cái màn lở sơn cũ che sân khấu không được kín. Vẫn cái đầu bóng trước ngó ra. Và sau một hồi chuông rung, thì cái màn ấy cũng vẫn cút kít cuốn dần lên từng nấc: Cảnh triều đình.
Sau một vài tiếng im, tiếng suỵt, ở hàng ghế dài cuối cùng, cao lêu đêu, họ vẫn cười to, nói lớn, nhổ bậy, cãi nhau.
Trước cái phông sơn thủy vá, vai vua, mặt mũi phương phi, không đeo râu, ngồi trên ngai cao, mắt liếc bên phải bên trái, có vẻ oai vệ, để nhìn hai dãy bá quan, và hát những câu không ai nghe rõ.
Rồi một anh mõm trắng, quần áo đỏ, quỳ giữa sân khấu, bưng trên đầu cái đĩa bày sáu chiếc chén không. Vua giơ tay mời. Bá quan sáu người, thì cả sáu người đều nhấc chén, vạch râu, ngửa cổ ra để uống rượu bằng không khí. Anh mõm trắng cầm chiếc nậm gỗ, rưới vào chén một lượt rượu nữa. Bá quan lại uống một tuần nữa và kêu say. Lúc ấy, anh mõm trắng đứng dậy nhìn một vai quan đang lảo đảo. Anh lướt tay vào nạm râu của hắn, rồi quệt vào mồm mình. Thế là anh say đổ điên đổ cuồng, mắt trợn ngược lên, chệnh choạng, sờ soạng, ngả bên kia, giúi bên nọ, mãi mới vào được buồng trò.
Trời ơi! Người ta cười, người ta vỗ tay, tưởng đến vỡ rạp.
Vua cười kha khả, phán:
- Giui! Giui quá đi mấc mà thôi!
Rồi bài tẩu mã theo giọng kèn, hùng hồn vang nhịp.
Bỗng anh mõm trắng ban nãy, hớt hơ hớt hải chạy ra. Anh vấp vào một vai quan, ngã lộn tùng phèo. Tiếng cười lại vang động. Ngã xong, anh đứng phắt dậy, ngay như tượng gỗ, xoè năm ngón tay lên trán để chào kiểu nhà binh. Người ta lại cười.
Vua nói giọng Sài Gòn, phán hỏi:
- Chi mà bay giội giàng làm giậy, thằng kia?
- Dạ, thậm cấp, thậm cấp, chí nguy, chí nguy! Quân nước Phiên đã kéo đến Lâm Truy, cách kinh kỳ có ba ki lô mét!
- ải! ải!
Vua quát vậy, rồi với chiếc nậm gỗ, đập chan chát:
- ải ải! Nếu giậy, khổ dã châng khổ dã, nguy tai thị nguy tai! Cuộc chiếng tranh nếu cứ kéo dài, ta e nữa môộc mai dâng khổ. ớ này, bá quang!
- Dạ.
Vua hét:
- Quâng Phiêng đã Lâm Truy kéo tới, làm giua tôi lại gặp buổi giang nang, trẫm truyền cho giăng giõ bá quang, xem ai có tài có gang ra giúp nước, hà!
Hai anh kép ngồi ngoài, một anh mặt đen, râu đỏ, phun phè phè từ thái dương đến môi, một anh mặt trắng, râu vẽ bằng mực, lanh lẹ xắn áo, xốc mũ, múa may, uốn éo, làm bộ giương súng, cưỡi ngựa, vặn ôtô, nhảy xe đạp. Tiếng cười lại vang lừng.
Anh bên phải lắc đầu lắc cổ, nói:
- Đã có tôi phò tá!
Anh bên trái vươn cổ, phụng phạo tiếp:
- Lại có mỗ tá phò!
Rồi cả hai anh cùng giơ tay và cùng hát:
- Xin Thánh thượng đừng lo.
Đoạn lại cùng vênh váo trỏ vào ngực mình:
- Đã có tôi... phò tá!
Trên hàng ghế đầu, người ta nhăn mặt, bàn tán:
- Nhảm quá. Ta phải lừa rồi.
- Phải, họ nói láo, chứ chấn chỉnh cái cóc khô gì. Vẫn đồ bài trí ấy, có đào kép mới mà vẫn hát tích cũ, thì có khác trước tý nào?
Một người tinh mắt, mỉm cười, trỏ lên sân khấu nói:
- Các ngài thử nhìn kỹ xem bọn kép này là mới hay cũ. Cái anh lần trước ngồi kia, thì bây giờ bỏ bộ râu ra và ngồi đây. Cái anh ngồi bên này bây giờ vận mũ khác áo khác và vẽ mặt khác. Vả được độ một vài thằng kép khổ hoặc con đào ươn, mà đã nhặng lên là mới, là chấn chỉnh, thì chúng mình chỉ mắc một lần là cùng!
Rồi cùng thất vọng, rủ nhau ra.
* * *
Từ hôm sau trở đi, chiều nào cũng vậy, cỡ độ năm giờ, bọn đào kép ban An Lạc lại mũ mãng, phấn sáp, râu ria, ngồi trơ tráo trên xe cao su, đi diễu qua các phố để phơi nắng cái đời hát tuồng còn ngắc ngoải.
Nhưng những người đã xem diễn qua một tối, họ đều chán ngán. Nghe tiếng trống kèn cổ động ầm ĩ, họ cũng biết rằng gánh hát còn sống đó, song, chẳng ai muốn để ý xem tối nay, trong rạp, bọn vua quan trò hề ấy họ ậm oẹ với nhau những trò gì!


Phổ thông bán nguyệt san, số 13; 1.12.1937

Những cuộc gọi

Mới sáng ra, chuông điện thoại đã reo.

Tối qua trực khuya, mãi gần cuối giờ tí mới lò dò về đến nhà nên sáng nay định tự thưởng cho mình chút ngủ bù. Mấy năm trước, khi còn gánh việc trực tin, nhất là tin tức thời sự, cứ buổi sáng mà nghe cục điện thoại réo là giật mình, chắc có chuyện, không xui thì xẻo. Nhớ đận năm 2009, ca trực ngày 18.5, mình chủ quan bỏ mất cái tin tứ trụ triều đình vào lăng viếng bác, mấy tiếng đồng hồ sau, đúng sáng sinh nhật Người, chuông réo từ sớm, rồi nhiều cuộc gọi, nhiều người gọi, kéo dài đến tận trưa. Một thủ phó, nay là thủ trưởng, nửa chì chiết phê bình nửa than thở “ông ơi, ông làm vậy thì chết. Lúc này mà làm vậy thì chết, thì chết…”. Sếp nói “lúc này” bởi thời điểm đó đang căng, toàn cơ quan vừa trải qua cơn bão xử lý vụ PMU 18, chết như ngả rạ. Sếp lo là phải. Dĩ nhiên kết quả chả giãi bày ra ai cũng biết, mình phải goodbye công việc trực tin, sang làm tờ TN thể thao-giải trí với anh Sánh (một nạn nhân vụ PMU 18). Có lẽ đó là tiền án tiền sự đầu tiên trong đời làm báo. Mong sao đầu tiên mà cũng là cuối cùng.

Ai mê điện thoại di động chả biết chứ mình thì ghét nó lắm. Nó là cái cùm, vòng kim cô, nó tước đoạt hết cả sự thanh thản, tự do. Nhưng ghét của nào trời trao của ấy. Nó đã như người đàn bà khó tính, quản chặt chồng bằng sự tự nguyện của chồng.

Quay lại cú điện thoại hồi sáng. Vừa a lô, nhận ngay giọng ông Xuân Ba. “Ông” đang ở Hà Nội, chuẩn bị đến chỗ họp quốc hội, chắc chưa đến giờ vào hội trường, còn lê la bia bọt ngoài hành lang hay căng tin gì đây. Ông, vẫn cái kiểu bỗ bã thân tình, quát lên muốn vỡ máy “mày làm gì đấy, hả thằng mặt…l” (trong đám bạn bè, những thằng nào nó thích thì nó gọi bằng mặt… tuốt). Đưa qua đẩy lại dăm ba lời thăm hỏi, ông bạn cố cựu bảo tao vừa đọc Ông cụ Đẹn. Ôi giời, hóa ra ngài Xuân Ba cũng ghé bờ lốc bờ leo của mình. Cây đa cây đề như nó mà cũng để mắt đến cỏ dai kể cũng lạ. Mình nói với nó dạo này tao vẫn viết nhưng hạn chế đưa lên, bởi mấy anh A B hai lăm hai sáu gì đó họ vừa nhắc nhở. Họ cũng rất đàng hoàng, thân tình, lời lẽ lịch sự văn hóa, chỉ trao đổi chứ không lên giọng dọa nạt, vậy thì mình nên ứng xử cho phải đạo. Ông Xuân Ba bảo đếch gì, tao nói cho mày biết, chúng mình là thằng có chút chữ nghĩa, không viết không nói thì làm cái đéo gì. Mày đọc bài của tao trên TP hôm nay chưa, ngay cả viết về quốc hội tao vẫn néo được vào đó chuyện biểu tình, chuyện quyền của người dân yêu nước đó. Này, tao cho mày biết, Hà Nội 8 lần biểu tình, tao tham gia 4 đấy nhé, ghi nhận quan sát được nhiều. Mày phải viết đi, viết đi.

Tôi hiểu Xuân Ba khuyên thực lòng. Nó cũng như tôi, những điều trông thấy từ cuộc bể dâu này, không viết là hèn, là tự đánh mất mình. Tôi biết nó chưa viết cái gì mạnh mẽ, to tát bởi nó còn nghiền ngẫm thêm. Một thằng cầm bút thành danh ở thể phóng sự như nó, thậm chí mấy đứa bạn bố láo bố toét còn phong cho nó danh hiệu Vũ Trọng Phụng thời nay, nếu chưa viết thì không có nghĩa không viết. Nó sẽ viết nhưng chưa phải bây giờ. Còn mình, không thể so với nó. Bây giờ mà không viết tức không bao giờ nữa. Nghe như văng vẳng tiếng kêu của con quạ trong thơ Edgar Poe “không bao giờ nữa”, tỉnh hắn.

Trước cuộc gọi của Xuân Ba vài giờ, lúc gần nửa đêm, mình cũng nhận được cú điện của Trần Quang Tửu, ông giáo trường dân tộc Việt Trì. Thằng Ba với thằng quỷ này cũng một chín một mười về độ quái. Nó bảo tao đọc mày với thằng Cao Tự Thanh đều lắm, nhưng thằng Thanh viết tốt, còn mày bài được bài không, có bài vô thưởng vô phạt chán như con…buồi. Mà bút cùn rồi hay sao mà bỏ nhà bỏ cửa trống hoác, lâu lâu mới phọt phẹt vài ba chữ. Nghe nó nhắc, mình bụng bảo dạ, ừ, hình như dạo này mình làm sao ấy. Nhớ hồi học thầy Nguyễn Văn Khỏa, thầy phân tích cái tâm trạng “to be or not to be” của Hamlet, lại cứ nghĩ Hamlet là mình hay mình là Hamlet đây.

Những cuộc gọi điện thoại cũng có lúc là thầy ta vậy.

Nhưng giờ thì hơi buồn ngủ, chỉ muốn không có cuộc réo gọi nào nữa.

Đêm 26.7

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Một bài viết hay về ngôn ngữ

Lời giới thiệu
Mình có may mắn được bố mẹ cho học hành chút chữ nghĩa, tuy không nhiều nhưng cũng tạm đủ chi dùng lúc ngặt nghèo. Ngành mình theo đòi là ngữ văn nên cứ có cái gì hay hay về văn chương hoặc ngôn ngữ là đọc nghiến ngấu, nếu cảm thấy khoái, tâm đắc thì "bảo tồn bảo tàng" làm tư liệu. Vậy khi đọc bài của tiến sĩ PGS Hoàng Dũng, chữ nghĩa chí lý quá, mạn phép mượn quan nghè để đưa vào nhật ký này. Riêng về chữ "kẻ" trong bài, thực thà mà nói, lâu nay mình cũng suy nghĩ như tác giả.

"KẺ PHI THƯỜNG"

Hoàng Dũng

Trong Lịch sử nước ta, cụ Hồ viết:

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm giặc Tàu


Đó không phải là lần duy nhất cụ Hồ dùng “kẻ phi thường”. Cũng trong tác phẩm trên, cụ còn viết:

Công Uẩn là kẻ phi thường,

Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta


Như thế, “kẻ phi thường” nhất định không phải là một lỗi viết nhịu của cụ Hồ. Trong một comment trên trang anhbasam, có người cho rằng: “Trong đoạn thơ của Bác có từ “kẻ” (kẻ phi thường). Rất nhiều người dân thắc mắc sao lại dùng đại từ “kẻ” để nói về một bậc đại anh hùng, bởi họ nghĩ từ “kẻ” chỉ được dùng để chỉ kẻ xấu: kẻ thù, kẻ gian, kẻ bán nước…”. Và tuy có nói vớt: “Tất nhiên, thắc mắc này không hợp lý”, họ vẫn không cho biết thắc mắc này “không hợp lý” ở chỗ nào. Nói trắng ra, họ muốn chê cụ Hồ viết dở!

Vậy “kẻ” có nhất thiết xấu nghĩa (pejorative) hay không?

Xưa tác phẩm Les misérables của Victor Hugo được Nguyễn Văn Vĩnh dịch là Những kẻ khốn nạn; ngày nay thì được dịch là Những người khốn khổ. Chữ “khốn nạn” nay thường dùng để bày tỏ sự khinh bỉ, nguyền rủa, chứ không phải chỉ sự khổ sở đến mức thảm hại, như trong cách hiểu ngày xưa, vì thế dễ hiểu tại sao lại được thay bằng “khốn khổ”. Cách dùng “kẻ” của Nguyễn Văn Vĩnh cho thấy thời ông “kẻ” hoàn toàn không có tính chất xấu nghĩa. Quả vậy, Nguyễn Hữu Tiến, trong bản dịch Vũ trung tùy bút, đăng trên Nam Phong năm 1927-1928, từng viết: “Đời nhà Hán có đặt ra khoa hiền lương phương chính, thực là một cách đặc biệt để đãi kẻ phi thường mà cầu lấy người tài”.

Như thế, phải chăng ngày nay “kẻ” đã chuyển từ sắc thái trung hoà sang sắc thái xấu nghĩa? Và như thế, đứng trên quan điểm ngày nay, phải viết “người phi thường”, chứ không thể “kẻ phi thường”?

Không hẳn! Ngày nay, “kẻ” vẫn còn có cách dùng trung hoà: có “kẻ cắp”, “kẻ cướp”, “kẻ thù”, “kẻ trộm”, … nhưng vẫn có “kẻ sĩ”, “kẻ đàn anh”, “kẻ ở người đi”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,… Và không hiếm người vẫn dùng “kẻ phi thường”: Mộng Bình Sơn trong bản dịch Hán Sở tranh hùng (nhà xuất bản Hương Hoa, 1962) viết: “Lời nói của Ðại vương theo thông thường thì cho là chí lý. Song đây là kẻ phi thường. Kẻ phi thường có thể có những hoàn cảnh phi thường”; Tràng Thiên trong Tiểu thuyết hiện đại (nhà xuất bản Thời mới, 1963) viết: “Nhân vật tiểu thuyết thuở đầu tiên là những kẻ phi thường, hành tung gây nên kinh ngạc”; Hoà thượng Thích Thanh Từ trong Nhặt lá bồ đề (nhà xuất bản Tôn giáo, 2003) viết: “Thật một kẻ phi thường. Việc kiến đạo giải thoát đâu phải chỉ dành cho kẻ trí thức đạo gia. Một tay thợ rèn, khi quăng búa tắt lò thì liền đó bể lửa hóa thanh lương, rảnh tay dạo khúc vô sanh”.

Nói tóm lại, không đủ căn cứ để xác quyết “kẻ phi thường” là cách dùng sai, dù theo cách hiểu xưa hay nay. Và như thế, việc đục bỏ thơ cụ Hồ không phải vì lý do văn chương. Và tôi hoàn toàn tin rằng Anh hùng Lao động, Giáo sư Vũ Khiêu đủ đức khiêm tốn phi thường để, nếu biết văn của ông được khắc vào bia đặt vào chỗ đã đục bỏ văn cụ Hồ, tự thẹn mà yêu cầu chính quyền Nghệ An miễn cho ông cái vinh dự nhường ấy.

H. D.

(Ghi chú: Bài này có trên nhiều trang mạng, cụ thể trang bô-xít hoặc Quê choa).