Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Cây chế độ



Mình chưa đi Angkor (Campuchia) bao giờ, ngay cả thành cổ Sơn Tây (Hà Nội mở rộng) cũng chưa ngó kỹ, tuy nhiên biết ở hai nơi ấy có những cây xưa, từ đời nảo đời nào xa lắc, rễ trùm cả đền đài, thành quách, nhà cửa. Ấn tượng lắm. Nhìn vào đã thấy thấp thoáng ngàn năm, nghe như bao lớp sóng lịch sử xô về. Hết hưng lại phế, trong cái hoang tàn gợi nỗi niềm, sức sống cổ nhân.

Bù lại, mình thỉnh thoảng đi trên đường Lê Duẩn (Q.1, TP.HCM), khi từ Đinh Tiên Hoàng quẹo phải một đoạn, thấy trên bờ tường sát đại học Dược một thứ bóng hình Angkor hoặc Sơn Tây. Bộ rễ xòe như râu Các-Mác, bám chặt thân tường. Băn khoăn, không hiểu nó hay tường giữ cho nhau khỏi đổ. Chỉ thấy lâu lâu những nhân viên, người bảo vệ của cơ quan phía trong đó lại làm cuộc tảo thanh, chinh phạt, hớt trụi lủi đám lá, trọc lóc trông như mái tóc nhà thơ Bùi Chí Vinh, nhưng chỉ vài bữa sau lại xanh um. Sức sống ghê thật. Mà người ta chỉ dám tỉa tót "hớt tóc" chứ không dám đào bới, chặt phăng cái bộ râu Các-Mác này, cũng có thể do chút tâm linh, cũng có thể sợ phá nó thì đổ tường như bỡn. Chưa có tiền xây tường mới, đâu dám mạo hiểm hỗn láo với cụ lão mộc này.
Nhìn nó, mình bất giác đặt cho nó cái tên "cây chế độ", bám rễ bắt rễ vào tường vào đất như người cầm quyền bắt rễ vào dân.

Thế mới chắc, mới vững bền.

19.10.2011
Nguyễn Thông

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

Các bố làm thế chỉ chết dân

Rùa đá thời nay đâu còn đội chữ
Cô quạnh xó vườn hoang nhớ quá khứ huy hoàng


Thông tin này không mới nhưng khá nóng: tỉnh Nam Định, mà chính quyền hẳn hoi nhá, đích thân ông chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Tuấn tuyên bố từ nay tỉnh Nam không tuyển dụng công chức là những người tốt nghiệp đại học dân lập, tư thục, hoặc hệ tại chức. Thêm một quả bom ném vào con tàu giáo dục vốn đã rệu rã, có nguy cơ chìm.

Bảo rằng không mới, bảo rằng thêm là bởi điều ấy me-xừ Nguyễn Bá Thanh vùng sông Hàn đã tuyên cáo bố cáo rồi, từ hồi cuối năm ngoái lận. Người ủng hộ, kẻ phản đối, nhưng chính quyền Đà Nẵng khôn, mặc kệ, cứ làm. Nghe nói sau cú này me-xừ Thanh càng ghi thêm điểm. Ấy, xứ ta nó thế, mấy anh bạo mồm bạo miệng bạo tay nếu mất thì mất tất, còn được chả khác gì giai cấp vô sản được cả thế giới.

Nếu có ai hỏi tôi ủng hộ hay phản đối Đà Nẵng và Nam Định, tôi nghiêng về ủng hộ. Ngày xưa cái chứng chỉ, bằng cấp là thiêng liêng lắm, ai sở hữu nó chả khác gì có vật chứng đảm bảo không chỉ trình độ, kiến thức mà còn cả những lao tâm khổ tứ, công phu phấn đấu, sức lực mồ hôi đã bỏ ra. Xã hội tôn vinh họ đâu phải vì mảnh bằng mà vì tầm trí tuệ.

Nhưng nay thì cứ náo loạn cả lên. Thật giả khó lường, chả còn biết đâu chân giá trị. Khoan hãy nhắc đến những lò tại chức, chuyên tu, hàm thụ, dân lập, tư thục, chỉ hãy đề cập đến lò đúc chính thống đào tạo ra những sản phẩm con người chính thống đã. Nhiều vị mang tấm bằng do trường đại học công lập, hệ chính quy cấp nhưng thực chất thế nào, không ai dám nói chắc. Có những ông giáo sư tiến sĩ chả lên lớp dạy ai, chả để lại công trình ích nước lợi dân gì, thậm chí chả biết chuyên về cái gì, thế vẫn vênh vang giáo sư tiến sĩ. Kỹ sư, cử nhân trường công lập mỗi năm ra trường hàng vạn nhưng kiếm được việc làm nuôi thân vẫn thiên nan vạn nan. Ấy là chưa kể nhiều ông bà cán bộ đủ cỡ đủ hạng, quanh năm suốt tháng miệt mài bám ghế kiếm tiền, đánh đùng một cái cũng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ như ai. Đáng ngờ lắm. Thế thì bằng cấp tại chức, tư thục, dân lập là cái đinh gì. Sự chối bỏ của Đà Nẵng, Nam Định nghe chừng có lý. Nhưng hình như thiếu cái tình.

Vì đâu nên nỗi. Vì cái cơ chế, bộ máy, cách tổ chức hệ thống giáo dục hiện hành ở xứ này. Luật Giáo dục đã ghi rõ bậc đại học có hệ chính quy và không chính quy, có hệ thống trường công bên cạnh trường tư thục, dân lập. Điều 4 Luật Giáo dục 2010 viết “ Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”, Điều 43 thì ghi “sinh viên học hết chương trình đại học, có đủ điều kiện thì được dự thi hoặc bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp và nếu đạt yêu cầu theo quy định của bộ trưởng bộ Giáo dục và đào tạo thì được hiệu trưởng trường đại học cấp bằng tốt nghiệp đại học”. Đặc biệt Điều 65 của luật này khẳng định “Trường dân lập, trường tư thục có nhiệm vụ, quyền hạn như trường công lập…, văn bằng, chứng chỉ do trường dân lập, trường tư thục, trường công lập cấp có giá trị pháp lý như nhau”.

Luật là thế, còn chấp hành luật lại là chuyện khác. Cứ chiếu theo luật thì hai địa phương nói trên trái lè lè. Nhưng tại sao họ làm trái luật mà chính quyền trung ương đành chịu, không ai dám làm gì? Dễ hiểu, bởi thực trạng giáo dục nát quá rồi. Trường đại học, cao đẳng mở tùm lum tà la, dư luận gọi là “loạn đại học”. Cả nước hiện có gần 400 trường đại học, cao đẳng, có người đùa rằng còn nhiều hơn cả số trường mầm non đạt chuẩn. Mở ào ào như thác lũ, tính phổ cập đại học đến tận thôn bản hay sao? Nhiều trường đại học mới khai sinh đã đối mặt nguy cơ hấp hối. Đầu vào hạ thấp tối đa, vơ bèo vạt tép mà vẫn không đủ chỉ tiêu. Dạy thì chắp vá nhố nhăng, ra kết quả chả khác gì vụ mấy đứa trẻ học lớp 5 vẫn chưa thoát khỏi đánh vần. Người ta làm kinh doanh giáo dục chứ không phải vì nền giáo dục. Sắc kim tiền chói lòa chốn giảng đường, cả công lập, dân lập tư thục, chính quy, tại chức… Một người bạn đồng môn với tôi, thuở mới phát sinh trường dân lập đã đi tiên phong mở trường, làm ăn đàng hoàng, đào tạo bài bản nghiêm túc chả khác gì công lập. Tôi hỏi có lời không, bạn bảo “siêu lợi nhuận”. Tôi biết bạn nói thật bởi xưa nay chưa nói dối bao giờ, vả lại bạn có tâm với giáo dục. Nay thì bạn thôi, không làm nữa, chuyển sang làm thứ khác, chỉ vì nó nát quá, chả muốn dây vào.

Chỉ khổ lương dân. Suốt đời vất vả, dành dụm vắt kiệt sức bố mẹ hòng cho con bước chân vào chốn đại học mong có cơ hội đổi đời. Không vào được công lập, chính quy thì vòng qua đường dân lập, tư thục, tại chức. Mỗi đồng bạc nuôi con học hành là mua một niềm hy vọng. Họ tin vào nhà nước, vào những ông bà “ăn nói như ông Cao ông Quỳ”, vào cái hệ thống giáo dục quốc dân mà họ không có thời gian tìm hiểu kỹ. Nay thì họ thất vọng, bởi chính những người trong cái bộ máy ấy, hệ thống ấy xổ toẹt, chối bỏ nhau. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay, ai cũng tự cho mình đúng. Biết tin ai bây giờ?

Than ôi, các bố làm thế chỉ khổ đám dân lành.

17.10.2011

Nguyễn Thông

Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011

Những bài hát của một thời (8): Chào sông Mã anh hùng

Khi thực hiện bài này, mình nghĩ ngay đến những người bạn, người anh quê xứ Thanh cùng lớp với mình. Ai trải qua đời học hành, chắc đều hiểu rằng cái tình đồng môn đẹp và sâu nặng lắm. Xin tặng các anh, các bạn “miền quê (chứ) Lê Lợi, (chứ) đã lừng sử xanh” bài hát Chào sông Mã anh hùng của nhạc sĩ Xuân Giao, và tiện luôn là bài Thanh Hóa anh hùng của nhạc sĩ Hoàng Đạm. Muốn biết lai lịch và những chuyện hay ho, hấp dẫn xung quanh 2 bài hát, xin các cụ hãy đọc thêm bài khá dài kèm theo đây của một chiến tướng Thanh Hóa, nhà báo Xuân Ba họ Trịnh, quê gốc Vĩnh Lộc, không biết chắt đời thứ mấy của tiên khởi Trịnh Kiểm.

Mình rất mê bài Chào sông Mã anh hùng, từ hồi chiến tranh cơ. Hoành tráng vô cùng, lại cực kỳ sâu lắng, thiết tha. Cứ mỗi lần đi tàu đi xe vào Nam ra Bắc, trên đường thiên lý đầy kỷ niệm, mỗi lần qua cầu Hàm Rồng bỗng dưng lại thầm thì “Chờ gió lên đưa thuyền về… ớ xuôi/Đôi bờ sông Mã lá hoa khoe màu, quê nhà mến yêu…”. Nhiều ca sĩ đã hát bài này, cả thần tượng Trần Khánh của mình nữa, nhưng tìm mãi không ra bản do ông hát; còn các giọng Thanh Vinh, Quý Dương, Trọng Tấn, Đăng Dương, Tạ Minh Tâm, Hồng Bốn mỗi người mỗi nét riêng, tuy nhiên mình thích nhất ca sĩ Thanh Vinh, trong trẻo mà ấm áp, có tình. Nhưng kèm bài này lại là bản clip do ca sĩ Trọng Tấn, một đứa con xứ Thanh hát, cho trọn nghĩa vẹn tình. Chả biết kỳ này Trọng Tấn có được phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú không, chứ cu cậu xứng đáng lắm rồi.

Bài Thanh Hóa anh hùng của Hoàng Đạm, ở góc độ nào đó cũng rất hay. Thích nhất là giọng Ngọc Hướng, đầy chất Thanh, các cụ cứ nghe mà xem mình nói có đúng không. Rất tiếc ít được nghe anh Ngọc Hướng hát, có lẽ do thời ấy lắm cây đa cây đề quá nên anh bị chìm khuất.

Khóa 17 Tổng hợp Văn, gớm, sao mà quân khu Thanh Hóa đông thế. Mình nhớ nhớ quên quên nhưng cũng còn biên ra đây được hầu như huyện nào của cái tỉnh đông nhất miền Bắc ấy cũng có đại diện trong khóa mình, không lớp A thì lớp B. Có thể kể ra Nga Sơn, Hậu Lộc, Quảng Xương, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Thọ Xuân… Trông anh nào anh ấy chững chạc từng trải, không giống bọn nhà quê đặc sệt như mình. Tuyền mặc áo đại cán sĩ quan 4 túi, rất oách. Hai lớp trưởng đều tỉnh tịch Thanh Hóa: Lê Xuân Sang (lớp A), Phạm Văn Sĩ (B), còn các sĩ quan lớp cũng phần lớn thu về tay xứ Thanh: Đặng Quốc Khánh, Lê Quốc Lập, Lê Văn Sơn, Đỗ Xuân Thanh, Trần Triều Nguyệt. Còn cùng đám bạch đinh, nhưng hễ dân Thanh cũng dễ nhận ra vì chúng khôn ngoan láu lỉnh hơn: Trịnh Xuân Ba, Nguyễn Thị Bé, Nguyễn Thị Xuân… Mình không tị với chúng nó vì biết thân biết phận, quê chúng nó sinh ra toàn vua chúa (vua Lê (Hoàn, Lợi), chúa Trịnh, chúa Nguyễn), còn quê mình tuyền nông dân, thế thì chúng hơn mình là phải rồi.

Sau mấy chục năm, tin tức thưa vắng, mình chỉ mang máng hầu hết các anh ấy về quê lập nghiệp, nghe nói cuộc sống bầm dập cũng nhiều. Các anh Sang, Sĩ, Khánh, Lập đã hưu, anh Thanh thi sĩ đã mất, các mụ Bé, Xuân cũng đã về an hưởng tuổi sồn sồn, anh Sơn vào Đại học Đà Lạt, rồi Đại học Tây Nguyên, nay con cái đã phương trưởng cả, tuy chưa phải cự phú cỡ Đoàn Nguyên Đức nhưng chắc giàu nhất trong quân khu Thanh. Mụ Bé sau hơn 30 năm gắn bó với nhà xuất bản Giáo dục, nay về làm nhiệm vụ nặng hơn là giáo dục thằng Nguyễn Khôi. Mụ Xuân thì thôi rồi, làm cán bộ phụ nữ (giống cái Thúy quê mình) nên mở khẩu ra là đám đàn ông cười lăn cười bò…

Kỷ niệm về các cụ lão Thanh Hóa thì nhiều lắm lắm, nhưng mình chỉ gợi ra 2 chuyện, chả biết có đứa nào nhớ không. Chuyện 1 là anh Lê Xuân Sang yêu chị Cận học trước 1 lớp (khóa 16). Anh Sang đẹp trai, bộ đội đi học, làm lớp trưởng, lại đảng viên, nhưng đảng viên khi yêu thì cũng giống như thằng quần chúng thôi, Hai anh chị ra công viên Thống Nhất ôm nhau, bị bảo vệ công viên nó bắt được, báo về trường về khoa. Họ hành tội anh ấy không gương mẫu, làm mất tư cách đảng viên v.v.., đường học hành công tác cả hai anh chị sau đều trắc trở, thật tội. Giá chỉ quần chúng như mình thì đâu đến nỗi. Yêu thoải mái, cứ ra bờ phi lao chạy suốt từ Mễ Trì lên Thượng Đình mà ngồi ôm nhau thì có đến sáng bạch cũng chả sao. Đêm nào mà chẳng cỡ hai tiểu đoàn khoa văn, sử ra đó... ngắm lúa đồng.

Chuyện 2 là sau ngày 30.4.75 thằng Xuân Ba có một ông anh họ dân lái xe, từ Nam ra. Ông ấy đem cho nó món chiến lợi phẩm đặc biệt: mấy trang Playboy. Ối giời, lần đầu tiên những đứa như bọn mình được biết thế nào là đờn bà khỏa thân. Sao đẹp thế không biết. Thằng Nguyễn Bá Tân thỉnh thoảng cột sợi dây thả xuống cho 2 phòng nữ tầng dưới xem, cứ tưởng bọn con gái sẽ chửi toáng lên, ai dè chúng cũng thích, lâu lâu không thấy thả lại giục gọi Tân ơi Tân ời.

Thôi, chuyện dài dòng. Các cụ đọc bài của thằng Xuân Ba xong thì hãy nghe nhé, cả hai bài luôn.

16.10.2011

Nguyễn Thông


BÀI CỦA XUÂN BA

Sáng thu vẩn vơ buồn. Trận nhậu đêm qua như dúi thêm cái mệt của tuổi gần lục tuần thêm một nấc khốn nữa. Vẩn vơ mở blog của Thông Cào. Lời thì nay nhưng ngữ nghĩa của liên tưởng đã vời xa đến cữ tận thu sơ đông thời sơ tán ở Sát Thượng Yên Phong Hà Bắc.

Lang thang đến mục Những bài hát thời máu lửa...

Bất ngờ cái mệt cùng những toan tính vẩn vơ như bay biến khi nghe những bài hát của một thời.

Cảm ơn Thông Cào yêu quý.

Người ấy. Tâm ấy làm sao mà khốn mãi được?

Vẩn vơ nghĩ thêm, nếu thằng này mà làm collection musique hoành tráng như thế thì chắc chả thể bỏ qua vài ca khúc của nhạc sĩ Xuân Giao?

Lẩn mẩn gửi đến Thông một bài viết cũ ( năm 2009).

Người vinh thăng Hàm Rồng, sông Mã

Xuân Ba

Người Hàm Rồng cuối cùng còn lại

Không biết trong những bề bộn chồng chất những phim ta tàu tây bây giờ, có bao nhiêu người còn nhớ đến Người Hàm Rồng thuở ấy? Thuở ấy tức là năm 1967, Người Hàm Rồng như là minh chứng cụ thể sinh động của Việt Nam chiến đấu và chiến thắng cả ở trong nước và quốc tế với nhiều giải thưởng (Bông sen vàng - LHP 1968); Giải thưởng Giô-rít I-ven (Đức)

Hoang mang lẫn lấn bấn với ý nghĩ ấy, tôi thử làm một chút trắc nghiệm. Trong lớp lớp nhà cửa san sát mênh mông của khu tập thể quân đội Nam Đồng, tôi gõ bừa vào một cánh cửa. Một chàng trai và một thiếu phụ lấp ló. Không biết. Chếch mấy dãy nữa (sau mới biết người đàn ông dáng vậm vạp từng hỏi thăm ấy là một đại tá) ông mang máng hình như trong khu này có nhà quay phim hay nhà báo quân đôi chi đó có cái tên như thế nhưng không biết ở khu nào? Lại Chệch đi hai dãy tiếp. Một ông già khó đoán tuổi có cái cười ẩn sau bộ ria À Lê Lâm quay phim Quân đội. Nhà ở gần đây, dãy C, số 17.

Vậy là tôi đã tìm thấy Lê Lâm, đại úy Lê Lâm đạo diễn phim Người Hàm Rồng của Xưởng phim QĐND.

Chả có chút gì hao hao giữa ông già sắp bát tuần tóc bạc trắng dáng xương xương và nhanh nhẹn này với ảnh chàng đại úy trẻ trung in trong một kỷ yếu các nhà làm phim QĐ? Trong kỷ yếu, địa chỉ chỉ ghi vắn tắt Lê Lâm đạo diễn phim QĐ, Nghệ sĩ ưu tú (Đợt I) Khu tập thể QĐ Nam Đồng. Chuyện một tẹo, hơi giật mình nhưng thấy có chút chi đó gặp may. Nhóm làm phim Người Hàm Rồng 4 người ( kịch bản nhà văn Hoàng Văn Bổn, đạo diễn Lê Lâm. Các tay máy cừ khôi Lê Văn Bằng hy sinh tại Mặt trận Đông Hà Quảng Trị, Vương Đức Cừ thì mất sau năm 1975. Nhà văn Hoàng Văn Bổn với những cuốn sách làm bần thần tuổi thơ của nhiều người như Trên mảnh đất này. Tướng Lâm Kỳ Đạt... đã biệt với dương thế mấy năm nay khi đang ở cương vị chủ tịch Hội văn bút Đồng Nai)

Khúc nhôi từ một chiến sĩ tự vệ thành ở làng Thổ Quan Hà Nội rồi thành công nhân ở xưởng quân giới Việt Bắc, chả qua trường lớp đào tạo nào được tuyển vào Đoàn văn công Tổng cục Hậu cần, ông kiêm đủ thứ vừa đàn hát, sáng tác ca khúc và trở thành một trong không nhiều thành viên đầu tiên của xưởng phim quân đội (1960). Rồi trở thành đạo diễn từ một người có chút ít năng khiếu văn nghệ, đối với ông là cả một câu chuyện dài. Lòng say mê nghệ thuật, mà cụ thể là điện ảnh đã khiến Lê Lâm vượt thoát bao gian nan để trở thành một đạo diễn gạo cội của Xưởng phim QĐND). Hai mươi bộ phim là con số không nhiều, nhưng ông đã có được rất nhiều Bông sen vàng, bạc với Quanh địa ngục Cồn Tiên, Cồn cỏ anh hùng; Chặng đường trên Điện Biên.

Đêm 30-3-1965 ấy, ông Lâm cứ xuýt xoa, phải là tin tình báo nhanh nhậy của trên thì mới biết được ý đó của bọn Mỹ nên đã kịp thời cử tổ làm phim QĐ đón lõng sớm trước như thế? Dự trận Hàm Rồng đầu tiên nhưng những mét phim của trận đầu ấy, phần thì tãi cho những chương trình thời sự, phần thì dùng làm tư liệu lưu trữ. Phải đến những lần đi sau nữa, tổ làm phim mới quyết định phải làm thứ chi đó ra tấm ra món đối với Hàm Rồng!

Trong câu chuyện ông Lâm có vẻ khoái với cung cách làm việc của nhà văn Hoàng Văn Bổn. Với Hàm Rồng không chỉ là những thước phim sao chép về nhiều khía cạnh ác liệt của những trận đánh. Hàm Rồng phải như một hình ảnh thu nhỏ của miền Bắc XHCN. Có cả sản xuất chiến đấu. Có sự phối hợp tác chiến nhịp nhàng ăn khớp của các lực lượng bảo vệ cầu và dân quân tự vệ. Có hơi thở thường nhật của đời sống người dân cấy lúa làm màu tăng gia. Có hình ảnh của các cháu nhà trẻ mẫu giáo trong bom đạn và nới sơ tán. Hàm Rồng như một bức tranh toàn cảnh của chiến tranh nhân dân, hình ảnh bộ đội thanh niên dân quân các cụ phụ lão các vị sư sãi... sao cho điển hình lẫn nhuần nhuyễn!

Ông Lê Lâm giở ra một bọc ni lông. Ông chậm chạp tãi ra bao thứ quý giá... Không biết có phải ông hiện độc quyền những tấm ảnh trích ra từ những mét phim quay những ngày trận mạc ấy không nhưng lần đầu tôi được chiêm ngưỡng hình ảnh cô dân quân Nguyễn Thị Hằng trẻ trung đang ghìm khẩu súng trường nhằm vào lũ cướp trời. Hình ảnh cô dân quân Ngô Thị Tuyển với hai hòm đạn trĩu trên vai gấp đôi trọng lượng cơ thể thì nhiều người đã chiêm ngắm nhưng cái cảnh cô dân quân Nam Ngạn ấy quần xắn cao đang cấy lúa vên chân cầu Hàm Rồng thì có lẽ hơi bị hiếm? Một chuyện thú vị liên quan đến tấm ảnh cô dân quân giải giặc lái qua cầu Hàm Rồng. Ông Lâm cho biết cô con gái của cô dân quân trong ảnh khi xem phim đã nhận ra mẹ mình khi đang làm nhiệm vụ như thế... Mãi sau người ta mới biết cô dân quân đó tên là Thơm, người ở xã Hoằng Anh huyện Hoằng Hóa Thanh Hóa.

Hai tháng trời bám trụ tại hang Mắt Rồng ngay sát trận địa C4, C5 ác liệt. Cấp bậc cao nhất tổ làm phim khi đó Lê Lâm là đại úy, Hoàng Văn Bổn, trung úy. Hai quay phim, trung úy thiếu úy. Tổ làm phim được sự cưu mang giúp đỡ của các lực lượng bảo vệ cầu như bộ đội pháo phóng không Công an nhân dân dân quân Nam Ngạn yên Vực.

Hành nghề chủ yếu là chiếc máy quay CônVat phim 35mm cổ lỗ xỉ bây giờ nhưng khi ấy là niềm tự hào của hết thảy mọi người. Lúc đó cả ngành Điện ảnh quân đội có 6 chiếc máy quay phim CO 350mm của Liên Xô nhưng đoàn làm phim Người Hàm Rồng được ưu tiên 1 chiếc. Hai sự kiện mà Lê Lâm nhớ nhất khi đưa được những mét quay quý vào phim là hình ảnh giải giặc lại Mỹ qua cầu Hàm Rồng. Bữa đó lực lượng bảo vệ cầu bằng mấy loạt đạn đã bắn cháy một máy bay Mỹ. Tên giặc lái vội bung dù. Lê Lâm được biết hiếm khi máy bay rơi tại chỗ mà cách Hàm Rồng cũng phải khá xa. Lường trước được thế rồi nhưng khi quyết có một cảnh quay máy bay rơi và bắt giặc lái các anh phải cơ động bằng xe ô tô hàng chục cây số. Nhưng chỉ quay được cảnh máy bay rơi xuống đất tan tành đang bốc khói còn cảnh bắt giặc lái thì không thực hiện được. Không biết tên giặc lái này đã lái chiếc dù dạt vào xứ nào? Hỏi thăm dân thì mỗi người chỉ mỗi hướng khó xác định. Cả nhóm chán nản quay về. Bửng tưng sáng hôm sau, tổ làm phim bị đánh thức dậy đột ngột. Người ta báo cho các anh chuẩn bị máy để quay một cảnh đặc biệt.

Cảnh đặc biệt ấy, mãi sau này mới biết đó là sáng kiến của một vị Bộ trưởng, ông Phan Trọng Tuệ. Ông Bộ trưởng hôm ấy đi công tác vào tuyến lửa Khu Tư qua Hàm Rồng đã trực tiếp chứng kiến chiến công của quân dân bảo vệ cầu. Và câu chuyện nuối tiêc buồn bực không quay được cảnh bắt giặc lái của tổ làm phim quân đội đã lọt đến tai ông. Sở dĩ ông biết được là do lúc đi thăm đội cầu 19-5 kiên cường luôn túc trực bám trụ cầu Hàm Rồng để khắc phục sự cố đảm bảo cho cầu thông suốt, ông Bộ trưởng đã nghe anh em kể lại. Không biết ông đã làm những gì để thương lượng với những là Tỉnh đội huyện đội Thanh Hóa nhưng một việc hy hữu đã diễn ra trên lộ trình áp giải tên giặc lái Mỹ là có đoạn dẫn giải nó qua cầu Hàm Rồng.

Chính vì thế, những thước phim quý giá, cảnh tên giặc lái cao lênh khênh, hai dân quân một nam một nữ ghìm súng dẫn qua cầu. Trên đầu viên phi công là những ánh lửa hàn của đội công nhân 19-5 sữa chữa cầu lóe sáng đã bay đi khắp năm châu bốn biển trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước khốc liệt! Rồi nữa, cái cảnh hàng chục những cột nước quanh cầu Hàm Rồng tung cao ngất khi Mỹ thả bom chệc cầu trong phim Người Hàm Rồng gây ấn tượng rất mạnh cho người xem. Có những cột nước cao hơn cả đỉnh núi Ngọc. Không phải hình ảnh đóng thế hay kỹ xảo của phim trường thời buổi hiện đại này đâu mà tổ làm phim đã phải chong máy trên trận địa đồi C5 trong một trận đánh dã man ác liệt của giặc Mỹ xuóng cầu Hàm Rồng. Anh em trong tổ làm phim đã phải trần mình giữa đạn bom mà quay như thế! Ăn ý giữa kịch bản cùng đạo diễn nên phần nhạc trong Người Hàm Rồng Lê Lâm đã chọn và láy đi láy lại giai điệu trong một ca khúc về xứ Thanh mang âm hưởng dân ca Hò sông Mã của Hoàng Đạm, khi đó đang là giảng viên trường âm nhạc mãi tận Bắc Giang. Còn người thể hiện lời bình là phát thanh viên trứ danh của Đài TNVN lại là người Thanh Hóa, Nguyễn Văn thuận tức Việt Khoa!

...Ông Lâm đang soạn ra một số ảnh thời trận mạc để mấy bữa nữa dùng làm quà vô Thanh. Ông là khách mời danh dự tham dự Lễ kỷ niệm 45 năm trận đầu Hàm Rồng chiến thắng kèm bài thơ ông soạn sẵn Qua hơn bốn chục mùa xuân/ Vui mừng gặp lại ngưòi thân Hàm Rồng/ Nhớ thời bom đạn mịt mùng/ Vuợt muôn gian khó ta cùng đứng lên/ Giữ vùng quê được bình yên/ Nhịp cầu vững chắc nối liền bờ Nam/ Những người dạ sắt gan vàng/ Phơ phơ tóc bạc tình càng nồng sâu/ Gặp nhau xin chúc một câu/ Hàm Rồng sáng mãi dưới bầu trời xanh.

Mãi Chào sông Mã anh hùng

Tôi cứ lẩn thẩn nghĩ, nếu như Chào sông Mã anh hùng của nhạc sĩ Xuân Giao ra đời sớm hơn ca khúc của Hoàng Đạm thì nhạc phim chính cho Người Hàm Rồng không biết đạo diễn Lê Lâm sẽ chọn ai nhỉ?

Sau này nhiều người, có lẽ cũng vì quý mến lẫn hâm mộ nhạc sĩ Xuân Giao đã phỏng đoán đại loại, những ngày Hàm Rồng Nam Ngạn sôi lên dưới mưa bom bão đạn, không quân Mỹ bất lực trước lưới lửa dầy đặc phòng không kết tinh bởi lòng dũng cảm của quân dân Hàm Rồng - sông Mã đã thôi thúc Xuân Giao viết nên Chào sông Mã anh hùng vừa lãng mạn, vừa hào hùng. Ta chào sông Mã kiên cường đời đời/ Chào cô dân quân giữ quê nhà/ Cho thuyề trên nước sông trời thu trong xanh/ ơi! Đất quê anh hùng vùi chốn nơi đây xác bao giặc Mỹ vv...

Cũng đúng, cũng phải cả thôi. Nhưng cái năm đã lâu theo chân anh bạn đồng nghiệp gọi nhạc sĩ Xuân Giao bằng bác ruột đến nhà riêng của nhạc sĩ trong khu tập thể nghèo Hồ Kim Ngưu, tôi được tường thêm hoàn cảnh sáng tác ca khúc nổi tiếng Em mơ gặp Bác Hồ viết năm 1969. Ông viết ca khúc này ngay sau khi Bác Hồ mất ít ngày, trong ngôi nhà cũ của gia đình tại 417 phố Bạch Mai. Lại được biết, sinh ra ở đất Như Quỳnh, Hưng Yên nhưng Trương Xuân Giao đã trưởng thành ở đất Kiến An Hải Phòng. Xuân Giao nhập với phong trào Hướng đạo Sinh rồi chịu ảnh hưởng sự giáo dục lẫn âm nhạc của nhạc sĩ tài danh đất Hải Phòng khi đó là nhạc sĩ Hoàng Quý.

Từ một học viên 19 tuổi, quân số thuộc đại đội C510 Khóa VI ( 1950-1952) của Trường Lục Quân, những nẻo đường trận mạc đã đưa người chiến sĩ trẻ Xuân Giao đến nhiều địa danh miền Bắc trong đó có vùng đất Hồi Xuân La Hán của miền Tây Thanh Hóa. Hồi ấy vùng thượng nguồn sông Mã này hẵng còn hoang vu. Những thiếu thốn đói khát bệnh sốt rét đến đái ra máu đến trọc đầu nhưng không dập tắt đi được những giờ phút lãng mạn của người chiến sĩ trẻ Xuân Giao đang tiềm ẩn tâm hồn của một nhạc sĩ. Khung cảnh đơn sơ hùng vĩ của vùng thượng lưu sông Mã của xứ Thanh, ngược lên không xa dòng sông hãy còn những đoạn quanh co khúc khuỷu xuôi một thôi đường ở địa phận Hồi Xuân là một dòng chảy mênh mang. Bản thân chiều dài của dòng sông Mã, chỉ riêng chảy qua địa phận xứ Thanh, những độ thác ghềnh nông sâu đã là tiềm ẩn là hơi hướng của một thứ tráng ca. Ngồi chuyện với nhạc sĩ, trong lúc nghe ông nhẩn nha một vài hồi ức chợt nghĩ không biết thời trai trẻ ấy, nhạc sĩ có phác thảo những nét nhạc sơ khởi nào về dòng sông Mã ấy không nhưng tôi chắc nếu không viết lên khuông nhạc thì thể nào trong sâu thẳm đã tiềm ẩn một cái chi đó, một thứ bột để gột lên những giai điệu hào sảng của Chào Sông Mã anh hùng sau này?

Có thể nói mà không sợ sái rằng, cái thuở ban đầu sông Mã cũng với ký ức sâu đậm của những vùng quê trên những nẻo đường chiến dịch có lẽ đã xui khiến ông có một bước ngoặt lớn trong cuộc đời. Diễn viên hát nhạc trầm của Đoàn văn công Tổng Cục Chính trị Xuân Giao đã chuyển sang viết ca khúc?

Chiến tranh leo thang của giặc Mỹ lan rộng khắp miền Bắc. Nhiều đoàn nghệ thuật, văn nghệ sĩ thay nhau vào tuyến lửa Khu Tư mà Nam Ngạn Hàm Rồng là một trọng điểm ác liệt. Như nhiều nhạc sĩ sáng tác khác, nhạc sĩ Xuân Giao năm 1966 rồi năm 1967 đã đến với Hàm Rồng Sông Mã. Đến đây đối diện với một Hàm Rồng Nam Ngạn thép cùng Sông Mã những ngày máu lửa, những hành động anh hùng từ những con người bình dị bên dòng sông hiền hòa... Những ký ức le lói về một sông Mã mang hơi hướng tráng ca chợt bừng dậy... Nhạc sĩ bộc bạch rằng trên tuyến lửa khu Tư trở về sau chuyến đi gian nan ấy, về Hà Nội ông hoàn thành ca khúc Chào Sông Mã anh hùng khá dễ dàng. Cứ như thể chỉ chép lại những giai điệu những khúc thức ngay trên đường về đã ăm ắp trong đầu!

Tôi để ý đến chiếc đàn mandoline tòn ten trên đầu giường phòng ngủ của nhạc sĩ. Lại chợt nhớ nhiều nhạc sĩ sáng tác vẫn kè kè chiếc piano sang trọng. Không rõ với những piano hoặc gì gì nữa, sang trọng cồng kềnh bóng bẩy hơn măng đô lin ( thứ nhạc cụ vốn thông dụng với số đông) đã trợ giúp các nhạc sĩ chế ra những giai điệu khoát hoạt sang trong sâu sắc tình cảm này khác? Nhưng có lẽ cũng chả nên so sánh thế khi nhạc sĩ Xuân Giao đây không có điều kiện để sắm piano mà thôi. Lại thử nhẩm sơ sơ một con tính. Những Cô gái mở đường/ Chào sông Mã anh hùng/ Giữ biển trời Quảng Bình-Vĩnh Linh/ Em mơ gặp Bác Hồ/ Đất mỏ anh hùng. Chứng chỉ của Chủ tịch nước Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật tặng nhạc sĩ về những ca khúc trên đang ghim trên tưòng kia thì đã là quý. Nhưng quý hơn lạ hơn là hàng triệu người Việt, con tim chí ít một lần xao xuyến khi nghe khi cất lên giai điệu của Cô gái mở đường, của Chào sông Mã... thì quả là phần thưởng lớn với NS. Có một anh bạn tuyên huấn xứ Thanh kể lại với tôi, không biết có thật không là, cứ 8 nguời xứ Thanh thì có một người biết lẫn thuộc toàn bài hoặc một vài giai điệu của Chào sông Mã anh hùng, nếu trúng thì cũng là một sự lạ vậy? Hình như phổ biến rộng lẫn phổ cập thế cũng có một duyên do. Năm 1979, Đài phát thanh truyền hình Thanh Hóa đã lấy Chào sông Mã anh hùng làm nhạc hiệu trước mỗi buổi phát tiếng phát hình. Đài truyền hình, truyền thanh cứ mỗi bửng tưng, cứ mỗi trưa, chiều lại rổn rảng giai điệu đó. Đã ba muơi mốt năm dân xứ Thanh quen với giai điệu ấy rồi! Mà đâu như ca khúc Chào sông Mã anh hùng còn góp phần bầu nên những ca sĩ vang danh, thành danh như Trung Kiên, Trung Đức, Trọng Tấn... Trong những vật dụng đơn sơ trong nhà nhạc sĩ, có một lọ cắm hoa được chế từ chiếc vỏ đạn 57 ly. Viên đạn của chiếc vỏ đạn này đã vút lên từ những ngày máu lửa ấy. Người nhà nhạc sĩ cho hay, thời điểm lấy Chào sông Mã anh hùng làm nhạc hiệu, Thanh Hóa đã mang ra làm quà...

Những ngày này ông chả thể vô Thanh để dự Lễ kỷ niệm 45 năm trận đầu quân dân Hàm Rồng đánh thắng. Không phải cái tuổi sắp 80 mà ba lần tai biến kiêm cuộc phẫu thuật túi mật... Những cơn trọng bệnh ấy khiến nhạc sĩ phải nằm một chỗ. Nói khó khăn, nhưng ông vẫn tỉnh táo nghe tốt. Trong câu chuyện nhát được nhát không, đến đoạn chi tâm đắc ánh mắt người nhạc sĩ cao niên lại như sáng hẳn lên. Cái đầu vẫn sáng cái tâm vẫn hồng. Lời chúc ấy của các bạn chiến đấu Lục quân Khóa VI năm ông 70 tuổi hình như chả phải ở tuổi 70 mà là cả cuộc đời nhạc sĩ tài danh Xuân Giao!

Sắp thanh minh năm Dần

X.B

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Bằng cấp, ghế, và nhố nhăng

Dư luận, nhất là làng báo, đang xì xầm chuyện ông Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai, kiêm Giám đốc Đài phát thanh-truyền hình Đồng Nai, me-xừ Mai Sông Bé có sự “không bình thường” trong vấn đề học vấn, bằng cấp.

Nhiều người biết chuyện, tặc lưỡi: chuyện nhỏ. Bằng cấp của quan chức to nhỏ xứ này, nếu bới ra, bịt mũi 24/24. Thôi thì cứ kệ các ngài, rút dây chẳng những động đến rừng mà còn động tới cả trời nữa ấy chứ.

Nghe xì xào mãi, mình cũng tò mò. Xưa nay tò mò là đặc tính của loài người, đàn ông cũng như đàn bà. Cụ cố Hồng trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng đó, miệng xoen xoét “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, nhưng sau đó lại ghé sát tai thì thào “thế nào, thế rồi sao?”. Mình là con cháu cụ cố Hồng mà lị.

Từng nghe, sau khi Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai tiến hành kiểm lên kiểm xuống, xác minh (thực ra mình không tin vào các vị kiểm tra lắm), có kết luận rằng ông Mai Sông Bé đã học hết chương trình trung học phổ thông hệ 12/12 và hoàn thành lớp 12 niên khóa 1975-1976. Kết luận ỡm à ỡm ờ, rút cục chả rõ ông ấy có bằng tốt nghiệp hay không. Theo mình thì không, bởi nếu có thì ủy ban kiểm tra lại chẳng mừng hú lên rồi, chí ít ra cũng giúp được đồng chí đang trốn trong đống rơm thoát nạn. Lạ nhỉ. Hoàn thànhhọc hết mà không tốt nghiệp, không có mảnh bằng lận lưng. Ở cái xứ mà giáo dục đang bị đẩy phổ cập (hình thức) tới gần mức người người đại học, nhà nhà đại học thì bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hắt hơi cũng ra cả đống. Bằng tốt nghiệp phổ thông chứ có phải thạc sĩ, tiến sĩ đâu mà một quan chức tại vị suốt bao năm vẫn tròn trĩnh số không tuyệt đối. Hay là có văn bằng nhưng bằng giả, giờ phải giấu đi? Hay là học mà không được thi? Mỗi chuyện cỏn con thế mà nghĩ nhức cả đầu.

Điều oái oăm là không tốt nghiệp lớp 12 (trình độ văn hóa tối thiểu để làm quan) nhưng vẫn được bổ nhiệm vào chức này vị nọ. Xứ mình có cả bộ máy tổ chức, tuyển dụng, cất nhắc, bãi bỏ chặt chẽ lắm kia mà. Có thể xảy ra nhiều tình huống:

-Không căn cứ vào bằng cấp mà chỉ dựa vào công lao, đóng góp để xếp ghế. Khi chiến tranh chấm dứt, nhiều vị trong rừng ra, nào được học hành gì, chỉ mải đánh nhau, công tích đầy mình, giữ tước vị này nọ là đúng rồi, không mấy ai thắc mắc. Nhưng ông Mai Sông Bé không thuộc diện từ R.

-Người có tài năng đặc biệt, xuất chúng thì được trọng dụng, dù học hành không đến nơi đến chốn. Trường hợp này hơi hiếm, nhất là ở xứ ta bởi quy định về tổ chức nhân sự rất chặt chẽ, muốn vào làm nhà nước, gì thì gì cũng phải bằng cấp, bằng nhỏ ghế thấp, bằng lớn ghế cao. Và ông Mai Sông Bé không phải người tài đến mức vượt được ba-ri-e.

-Mua quan bán tước. Nạn này xưa nay đều có. Mua bằng tiền, bằng gái, bằng mưu mô thủ đoạn. Ngày xưa ngôi vua còn có thể mua được, ghế quan là cái đinh gì. Mình không biết mấy về ông Mai Sông Bé nên không dám đề cập khả năng này, mong rằng không phải như vậy.

Hồi trước giải phóng, ở miền Nam nếu học hết lớp 11, được lên lớp, thì xã hội cho cái danh tú tài bán phần. Tốt nghiệp 12 thì danh giá hơn, đeo “học vị” tú tài toàn phần, có bằng cấp xác nhận đàng hoàng. Trường hợp ông Mai Sông Bé, gọi chính xác là tú bán, tú non.

Hỡi ôi

Cả tỉnh Đồng Nai, vốn được coi là vùng văn hiến của miệt Nam bộ, sừng sững Văn miếu Trấn biên, vậy mà lục lọi khắp chốn cùng nơi không kiếm được mảnh bằng tú tài nên phải tiến cử ông tú non. Ở thời “ra ngõ gặp cử nhân, về nhà đụng thạc sĩ” thì cõi này quả thật “Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”, thảm quá.

Ta đừng vội trách ông Bé. Chỉ băn khoăn chút, giá như ông đừng ỡm ờ trình độ học vấn của mình, cứ có thế nào khai ra như thế, chả làm ông nọ bà kia thì thôi, đâu đến nỗi vỡ tổ con chuồn chuồn, bị tố cáo này nọ. Vả lại, vụ của ông, so với nhiều, rất nhiều vụ khác; so với nhiều, rất nhiều ông khác, chỉ nhỏ như con thỏ. Đáng bàn ở chỗ khác kia.

Như đã nói, việc đề bạt, xếp chỗ cho quan chức xứ ta vốn chặt chẽ bài bản lắm. Chưa bàn đến cấp trung ương, chỉ cần thấy ở mỗi tỉnh thành, về mặt đảng đã có ban tổ chức, về mặt chính quyền lại thêm sở nội vụ, cơ cấu xong còn đệ trình qua ba bốn cửa xét duyệt, đố sai sót . Vậy mà cái bộ máy nhân sự nhà nước tưởng chừng cực kỳ thâm nghiêm, chặt chẽ, con kiến chui chả lọt huống chi con người, hóa ra lại hết sức lỏng lẻo, mù mờ, lắm chuyện. Theo tìm hiểu của tôi, ông Bé làm quan hàng tỉnh cũng kha khá thâm niên, tức đã trải qua bao lần xét duyệt. Cán bộ xứ ta, hồ sơ lý lịch mỗi lần cơ cấu là mỗi lần khai, nhiều vị đến lúc nghỉ hưu hồ sơ cá nhân cao gần bằng đầu người. Cả một bộ máy nặng nề, chồng chéo sinh ra chỉ cốt để chọn đúng người đúng việc, rút cục voi vẫn chui lọt lỗ kim. Lâu lâu dư luận lại ồn lên một chập vị này bằng giả, vị kia khai man, vị nọ gian dối... Sự thật phơi bày, hầu hết đều từ tố cáo của những người trung thực chứ bộ máy tổ chức gần như bất lực, có vào cuộc cũng chỉ dọn dẹp cho êm thấm kẻo người ta trông vào lại “xấu chàng hổ ai”.

Cả một xã hội sính bằng cấp nên mới sinh ra nạn chạy chọt, giả dối để đạt cho được mục đích dù biết mình không đủ tiêu chuẩn, không có khả năng (tôi sẽ đào sâu thêm về vấn đề này trong bài tới). Ngày lại ngày, năm lại năm, bộ máy tổ chức cứ tồn tại một cách nhí nhố vô trách nhiệm, người ta cứ mua danh bán tước, kẻ không đủ tài đức cứ tiếp tục chễm chệ ngai đủ dạng thấp cao. Cuối cùng chỉ xã hội và người dân chịu thiệt, lãnh đủ.

10.2011

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

Những bài hát của một thời (7)

Lần này phá lệ, đáng nhẽ mỗi tuần đưa 1 bài nhưng có bác gợi ý sao không thấy bài Chiều dài biên giới của nhạc sĩ Trần Chung, hợp với lòng mình, bởi mình cũng rất yêu, quý mến, kính trọng nhạc sĩ họ Trần. Vậy thì sớm một chút để tỏ sự ngưỡng mộ nhạc sĩ và ca khúc của một thời oanh liệt.
Mình có vinh dự được là đồng hương Hải Phòng với nhạc sĩ Trần Chung. Thế hệ mình 5X thế kỷ 20 chả mấy ai không thuộc những bài hát của ông như Bài ca Trường Sơn, Đêm Trường Sơn nhớ Bác, Chiều biên giới, Chiều dài biên giới, Đất nước tôi, Khi chúng tôi vào lò, Hát lên em cô gái xã viên, Em ơi mùa xuân đến rồi đó... Tuy nhiên, những bài hay nhất của ông, theo mình, là viết về Trường Sơn và biên giới, khớp với hai chặng thời gian chống Mỹ, và chống Trung Quốc gây chiến tranh biên giới phía bắc. Mình mù tịt về nhạc lý, nhưng cảm thấy bài nào của ông cũng đều hết sức hào hùng mà lại mượt mà đằm thắm.
Nhạc sĩ Trần Chung mất năm 2002.
Năm 1971, Trường cấp 3 Kiến Thụy (HP) tổ chức hội diễn văn nghệ. Một đứa cháu mình, nhưng học trên 1 lớp, tên Nguyễn Minh Trí lên hát Bài ca Trường Sơn. Nó hát hay lắm, chỉ có điều đến câu cuối hết hơi, nó hát bậy, đáng nhẽ phải "hát khúc hào hùng giải phóng miền Nam" thì nó lại "hát khúc hào hùng giải phóng miền... thôi". Thôi có nghĩa là thôi, không hát nữa, hết hơi rồi, nhưng thầy hiệu trưởng Nguyễn Mạnh Thường ngồi dưới nghe, giận quá. Hôm sau thầy gọi nó lên để kỷ luật, thầy bảo, em hát thế thì chúng ta không giải phóng miền Nam nữa à, rồi thì làm sao động viên được ai đi bộ đội, v.v... Ấy, cái thời đó nó vậy, dễ bị quy vào chuyện này nọ lắm. Cũng chả thể trách thầy. Cu Trí xin lỗi thầy. Tốt nghiệp lớp 10 (1971) nó đi bộ đội, bị thương bỏ lại 1 cánh tay ở chiến trường miền Nam, sau về học 10+3 Kiến An, giờ làm hiệu trưởng trường THCS Thụy Hương quê nhà.
Xin giới thiệu 2 bài của nhạc sĩ Trần Chung. Bài Bài ca Trường Sơn với giọng hát của nghệ sĩ Quốc Hương (không ai qua được ông bài này), còn Chiều dài biên giới do tốp ca nam đài Tiếng nói Việt Nam trình bày.

10.2011

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Những bài hát của một thời (6)

Mình rất thích nhạc sĩ Hoàng Vân.
Kỳ này điểm bài, không phải Quảng Bình quê ta ơi nổi tiếng đâu, mà là Bài ca giao thông vận tải.
Những năm chiến tranh ở miền Bắc, giao thông vận tải là chiến trường ác liệt, hàng trăm ngàn người đã hy sinh để bảo vệ con đường, "dù mạch máu ta ngừng, thân ta ngã xuống; mạch máu giao thông thề quyết không hề ngưng". Làng Trà Phương quê mình cũng có nhiều anh chị, không được vào bộ đội ra chiến trường, thì lại gia nhập TNXP xông pha trên những tuyến đường, suốt từ phía bắc vào tận Quảng Bình, Vĩnh Linh. Nhiều người đã không về.
Hồi xưa mình có nghe người ta nói này nọ về nhạc sĩ Hoàng Vân, rằng ông không chịu đi B nên ông Tố Hữu không ưa, cho ai suất đi nước ngoài thì cho chứ nhất quyết không cho Hoàng Vân. Nhạc sĩ tức khí theo bộ đội lăn vào khu 4, bám với dân công, TNXP, và Quảng Bình quê ta ơi, Bài ca giao thông vận tải cùng nhiều bài khác lần lượt chào đời. Phải công nhận ca khúc của Hoàng Vân rất hay, giai điệu trữ tình mà hào hùng, tình cảm trong sáng, dễ hát. Nói đến nhạc CM thời chống Mỹ ở miền Bắc mà thiếu Hoàng Vân thì chả khác gì để một khoảng trống cực kỳ quan trọng trong di sản.
Mình biên ra đây lời của bài hát để nếu ai đọc sẽ thấy nhạc sĩ Hoàng Vân viết lời ca giản dị mà hay, đẹp như thế nào.
Bài hát này do ca sĩ Doãn Thịnh và dàn hợp xướng đài Tiếng nói Việt Nam trình bày.



Trên những nẻo đường rực cháy

Sau tay lái đã mấy đêm ngày

Xe anh đã vượt được bao sông bao núi

Chỉ những con đường mới biết mà thôi

Ơi, những con đường ta yêu biết mấy

Đường vào nhà máy, đường về nông thôn

Qua những năm trường quê hương kháng chiến

Tất cả mọi con đường đều hướng ra tiền phương

Đây những chuyến hàng nặng tình đất nước

Hàng ngược miền núi, hàng về miền xuôi

Bên những chiếc cầu bao đêm thao thức

Tất cả mọi tấm lòng đều hướng ra tiền phương

Qua mỗi một mùa mưa lũ

Tay ai đã giữ vững tuyến thông đường

Bom rơi đã bao lần trên bao tấc đất

Chỉ những con đường mới biết mà thôi

Nghe tiếng chim rừng cất cao tiếng hót

Mừng đường thông tuyến chào đoàn xe qua

Nghe những tiếng còi vui sao vui thế

Tất cả để thắng giặc giải phóng miền Nam

Đây những con tàu đi trong sóng gió

Tàu vượt đường xá, tàu vượt trùng dương

Đây những chuyến hàng mang bao thân thiết

Góp phần giành thắng lợi thẳng tiến ra tiền phương

Như cánh tay dài vươn tới

Ta ôm lấy sông núi ruộng đồng

Ta vây kín quân thù không cho chúng sống

Đường nối tiếp đường ta tiến ra tiền phương

Ta nhớ những ngày đi thăm tuyến mới

Trèo đèo vượt suối lặn lội rừng sâu

In dấu chân đầu tiên trên vách núi

Hướng thẳng ra chiến trường mở những con đường xa

Qua những đêm dài hiên ngang chống Mỹ

Một lần chúng phá ngàn lần ta đi

Ta bước trên đầu giặc thù xông tới

Tất cả mọi con đường đều hướng ra tiền phương

Trên những nẻo đường rực cháy

Lòng sục sôi ghi nhớ mối thù này

Dù mạch máu ta ngừng thân ta ngã xuống

Mạch máu giao thông thề quyết không hề ngưng

Ta bước trên đường đi tới chiến thắng

Rì rào biển hát dọc đường Trường Sơn

Ta sẽ nối lại nhịp cầu Nam Bắc

Suốt đời ta sẽ còn mở những con đường vui

Ta hát ca ngợi chiến tranh nhân dân

Đường hòa mạch máu chảy ngược tim ta

Trên mỗi bước đường mang bao thân thiết

Góp phần giành thắng lợi thẳng tiến ra tiền phương


10.10.2011
Nguyễn Thông

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Đi xem bọ Lập

Hồi bé thì thường đi xem phim xem kịch ngoài bãi, giờ nhớn lại đi xem bọ Lập ở quán cà phê.

Điểm giống nhau là xem miễn phí, chỉ khác tí ti, trước kia không mất tiền do trốn trong đống rơm hoặc nấp vào bụi chuối từ chiều, còn bi giờ cứ diện quần jean áo pull xênh xang vào thoải mái, móc ví mua ly cà phê hay trái dừa là ngồi đến khuya.

Chả là nghe cô bạn Kixu nhắn rằng Cà phê thứ bảy có hội thảo hay lắm, rồi bọ Lập cũng thông tin từ mấy ngày trước rằng sẽ ra mắt hoành tráng tại quán của bác Dương Thụ, thế là mình trốn các quan tiên sinh Hải Thành, Ngọc Chênh đi một lát, chút về làm tiếp (hôm nay đúng phiên làm công ăn lương, mình không dám gọi là ca trực bởi có ông nọ bà kia gì đâu mà trực với chả trực).

Đến nơi thì “hội trường” bé bằng cái phòng hạnh phúc đã chật cứng. Từ cửa thấy mấy tấm phướn phấp phới, nội dung Bọ Lập ra mắt Chuyện đời vớ vẩn. Mưa lất phất. Mình vội chen vào. Đông khiếp. Chả hiểu sao trong cái không gian đặc quánh đó mà người ta lại thở được nhỉ, lại còn nói hăng nữa. Lúc đầu mình chỉ đứng ngoài cửa kính nhòm vào. Thấy rõ, nào là bọ Lập ngồi giữa, ông Dương Thụ bên phải, ông Đỗ Trung Quân bên trái, chồng sách cao trên bàn trước mặt, cái mi-cờ-rô chuyền hết người này đến người khác. Nhao nhao cả lên. Nhạc sĩ chủ quán ít nói, tủm tỉm suốt, hèn chi bọn con gái trẻ có sồn sồn có, mê là phải. Bác nhà thơ Đỗ Trung Quân vẫn quắc thước tinh anh, giọng nhỏ nhẹ, MC “chuyên nghiệp” có khác, các em Hải Chuyền, Quỳnh Hương (theo mình) còn phải học khướt.

Đứng mãi mỏi chân, lại vì bên ngoài áp tai vào kính nên nghe lõm bõm, tức quá ra mua trái dừa, châm điếu thuốc. Một cô thâm thấp váy nâu rất xinh bước vào, nhìn thấy mình, trố mắt, nhận không ra; mình cũng trố mắt, nhận không ra. Hỏi nhau thì kỳ, đến xem bọ Lập chứ có phải để làm quen nhau đâu mà hỏi. Sau xem cái ảnh trên blog Quê choa, mình thấy nàng đứng giữa, đang chờ bọ ký sách. Nếu có đọc dòng này thì đại xá cho kẻ hèn Nguyễn Thông này nhé.

Lại vào. Nhân vật chính đang chúi mồm vào chiếc mi-cờ-rô. Khuôn mặt tươi tắn, tóc bạc húi cua, áo trắng một màu thanh khiết (hệt anh Nguyễn Văn Trỗi). Tất cả hội trường lặng đi. Đang nói cái gì nhỉ? À, sợ vợ. Bọ bảo ai cũng sợ vợ, bọ cũng sợ. Niềm vui cuộc đời là gì ư? Là cặm cụi làm việc, phục vụ cho đời và cho vợ con. Nói xong bọ cười. Thính giả thấy bọ cười cũng choàng ra cười.

Có bạn trẻ hỏi đời bọ nhiều khúc khuỷu mà lúc nào cũng lạc quan, vậy bí quyết của bọ là gì. Mình nghe một anh đứng bên cạnh càu nhàu, hỏi như trẻ con, suốt ngày bí quyết bí quyết. Bọ trả lời hơi nhỏ, mình nghe không rõ. Chả thấy ai cười. Một chị dõng dạc xin bọ cho biết suy nghĩ về nghề văn. Bọ hơi nhổm lên chút, đẩy ông Trung Quân nhích ra, hình như nói về điều này nó hệ trọng lắm, cần phải không gian thoáng đạt. Theo bọ, với ai không biết, chứ với bọ, viết văn nó không phải nghề mà là cái nghiệp mất rồi (mình nghe đến đây, gật gù đồng tình, lẩm nhẩm: Đã mang lấy nghiệp vào thân/cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa). Đã là nghiệp thì sống với nó, chết với nó. Bọ bảo vậy, lại hơi nhổm lên, chỉ hơi thôi, chắc cái chân tàn tật chưa hết đau. Bọ cười, đời tôi chỉ biết viết văn, nếu không viết văn, tôi chả biết làm cái gì.

Mình phải công nhận ông bọ này thật thà, nghĩ sao nói vậy. Giá ông ấy là thủ trưởng mình thì thích quá.

Mình là dân Bắc, nghe giọng Trung đã khó, được cái suốt 4 năm ở chung với bọn thằng Bính thằng Vương quê bọ nên cũng phần nào phá vỡ rào cản ngôn ngữ. Nhưng với dân Nam thì quả là đánh đố. Mình nghe bọ nói rất thật thà, hay, tếu, rất thích nhưng để ý thính giả cứ căng ra nghe, nhiều người chăm chú nghệt cả mặt. Nhưng hình như họ không hiểu gì, chủ yếu họ đọc trên khuôn mặt bọ thôi. Thấy người xung quanh cười thì mình cũng cười chứ hoàn toàn chả biết cười vì cái gì, người ta vỗ tay thì mình cũng vỗ tay. Mình từng đọc một bài bọ Lập đăng trên tuần san TN về cái thứ tiếng Quảng bọ tai quái của bọ, nay thì mình thấy trên thực tế đúng trăm phần trăm. Được cái, không hiểu bọ nói gì, nhưng hầu hết vẫn ngồi yên, đứng yên chăm chú lắng nghe, nhìn bọ với ánh mắt đằm thắm yêu thương thực lòng, chen nhau chờ cho bằng được để xin chữ ký của con người ấy, đủ biết họ idol bọ Lập thế nào. Trên đời, trong đám nhà văn xứ mình mấy người được vậy. Thế mới quái.

Cuộc vui đang trôi chảy nhưng mình phải về cơ quan làm tiếp. Kể cho mọi người nghe chuyện đi xem bọ Lập thế nào. Hải Thành bảo giá có phiên dịch thì chắc thành công hơn. Hehe.

9.10.2011

Nguyễn Thông