Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện đại học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Chuyện đại học (5)

Như đã biên trong bài trước, đời dạy học của tôi gắn với Trường dự bị đại học TP.HCM 17 năm trời (từ năm 1977 đến 1993, và thêm năm 1995 sau đó). Gần như phần tuổi xuân, cái thời hăng hái nhất đời tôi gắn với nghề dạy, sau này bỏ nghề, những lúc vẩn vơ nghĩ lại cũng tiêng tiếc.

Khoảng mấy năm đầu thập niên 80, hình như năm 1982 thì phải, phong trào luyện thi đại học được khơi lên. Đành rằng do nhu cầu mà phát sinh nhưng có thể nói luyện thi đã dần dà làm hỏng chất lượng đại học. Những học sinh trình độ kém, ít tài năng sau cú trượt lần 1 đã dồn hết sức cho đợt luyện thi, chỉ học ròng rã 3 môn theo khối thi, làm gì mà không đủ khả năng đánh bật được những học sinh phổ thông mới tốt nghiệp, tuy khá và giỏi nhưng vừa trải qua kỳ thi vất vả, đã mệt nhoài nên khó đua tranh.

Trong suốt gần hai chục năm trời, Trường dự bị đại học TP.HCM nổi tiếng là trung tâm luyện thi uy tín, mỗi năm thu hút hàng nghìn học sinh khắp cả miền Nam. Có những năm, vào thời điểm hoàng kim luyện thi, thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm phải ra lệnh hạn chế nhận thí sinh vào trường mặc dù nhận vào là có tiền, bởi không đủ chỗ học, giáo viên dồn giờ dạy cho luyện thi nhiều quá nên chểnh mảng nhiệm vụ chính. Đồng tiền kiếm từ luyện thi giúp cho đời sống giáo viên khá hơn nhưng hầu như chả mấy ai nghĩ rằng chính họ đã góp phần làm hư hỏng hệ đại học. Tôi có anh bạn là giảng viên Trường đại học Tổng hợp, bên ấy cũng căng ra luyện thi, anh kể có ngày dạy luyện thi tới 10 tiết, sáng 4, chiều 4, tối 2, chỉ kịp nhét miếng cơm vào mồm rồi cuống cuồng lên lớp. Lúc nào cũng thèm ngủ. Sài Gòn những năm đó trong giới giáo viên tồn tại một câu lạc bộ có tên CLB 30 triệu. Ai dạy luyện thi thu nhập 30 triệu đồng/tháng thì đương nhiên được gia nhập CLB này. Đồng tiền khiến nhiều thầy cô bị say, say tiền. Một thầy ở trường tôi cũng vậy, thầy Nguyễn Loan dạy toán, dạy nhiều đến mức bị kiệt sức, suy nhược cơ thể, vào bệnh viện được vài hôm thì mất.

Nhưng không phải thầy cô nào cũng khá lên nhờ luyện thi đại học. Chủ yếu là các môn phục vụ khối thi A và B (toán, lý, hóa, sinh) thôi chứ đám văn sử địa hầu hết vẫn đói dài. Tôi cố trụ mãi nhưng học sinh luyện thi môn văn cứ ngày càng ít dần. Chả muốn kéo dài tình trạng vừa lên lớp, vừa giữ xe cho học trò, vừa nuôi gà công nghiệp… nên đầu năm 1993 tôi quyết định xin nghỉ, đi làm thuê cho nước ngoài. Thầy Nguyễn Văn Vy bạn tôi đùa bảo giá dấn bước thêm tí nữa ra bến Nhà Rồng nhân tiện tìm đường cứu nước cứu nhà luôn có phải một công đôi việc không. Tôi xuống phòng hành chính ký nhận cái quyết định nghỉ việc và qua phòng tài vụ lĩnh cục tiền, được hơn 3 triệu đồng, tính ra sau 16 năm làm việc cho nhà nước được gần 7 chỉ vàng. Số tiền ấy chưa kịp dùng vào việc gì thì một người quen cùng quê là bộ đội ở Cần Thơ lên hỏi mượn, hẹn 1 tuần trả. Vợ chồng tôi nể quá, đưa rồi mà cứ lo lo. Sau 2 tuần chả thấy y đâu, từ bấy bặt luôn không gặp lại con nợ nữa. Xuống Cần Thơ dò hỏi, hóa ra anh ta bị quân đội loại ngũ, đã lừa một lượt tất tật người quen rồi đùm đúm cả vợ con kéo nhau bùng mất. Sau 16 năm, tôi quay lại thời ban đầu với hai bàn tay trắng.

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Chuyện đại học (4)

    Bài trước, tôi có nhắc về cái trường đặc biệt mà đầu năm 1977 tôi ba lô, khăn gói quả mướp từ Hải Phòng vào Sài Gòn nhận công tác. Tiền thân của nó là Viện đại học cộng đồng Tiền Giang, một mô hình mới mẻ của giáo dục đại học ở miền Nam. Sau 1975, viện được chuyển tên thành Trường đại học cộng đồng Tiền Giang, rồi đến năm 1982 đổi lần cuối thành Trường dự bị đại học TP.HCM. Lai lịch vắn tắt như vậy để lý giải vì sao nó lại có 2 cơ sở, chính thì ở khu của Đại học Văn khoa cũ tại 91 Nguyễn Chí Thanh, Q.5, Sài Gòn, còn phụ (lúc đầu là chính) ven quốc lộ 4, cách ngã ba Trung Lương khoảng 2km, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Những năm đầu trong nghề, tôi phải thường xuyên dạy cả hai cơ sở, nửa đầu tuần ở Sài Gòn, nửa cuối tuần thì Tiền Giang.
    Như đã nói, học viên của trường chỉ học 1 năm học rồi vào đại học. Tuy thiếu vài ba điểm để được vào thẳng đại học sau kỳ thi tuyển sinh nhưng trong số họ có nhiều cô cậu rất giỏi. Trò của tôi sau này vào đời nhiều người thành đạt, thậm chí làm quan to, không phải bởi thầy cô giỏi mà chủ yếu là họ rất thông minh, có tài. Họ lỡ một nhịp chẳng qua do số phận, kể cả học tài thi phận, chứ không như ai nói “vào dự bị là thuộc diện ngu rồi”.
    Tôi nhớ không chính xác, năm học 1979-1980 hoặc 1980-1981 thì phải, tôi xuống dạy ở cơ sở 2 Tiền Giang. Ngoài lớp C chuyên về văn sử địa (anh Lê Đình Khẩn, chị Huỳnh Thanh Diệu, chị Kim Chi… học lớp này) còn có 2 lớp B1, B2 của khối B cũng phải học môn văn, 5 tiết/tuần. Lớp B2 có một chị dù thi khối B nhưng học rất giỏi môn văn của tôi. Hồi thi cuối học kỳ 1, tôi ra đề luận về bi kịch cá nhân trong truyện Kiều, chị ấy viết cực hay, nhiều ý mới mẻ táo bạo, thoát hẳn những quan niệm suy nghĩ phổ biến lúc bấy giờ, tôi đọc hết sức sửng sốt, không ngờ một người học khối B lại giỏi văn đến thế. Cho điểm 10. Điểm 10 duy nhất trong đời dạy học của tôi. Tôi đưa bài cho một đồng nghiệp là thầy Nguyễn Văn Vy (anh Vy học khóa 16 khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, đầu năm 1976 đã có mặt ở Sài Gòn, đã mất), anh bảo tôi, nếu có điểm 11 thì sẽ cho điểm đó. Chả biết người viết có còn giữ được bài văn không. Sau này chị ấy học Trường đại học Tổng hợp TP.HCM, ra trường về các cơ quan báo chí, đã từng là Phó tổng biên tập một tờ báo của TTXVN, tổng biên tập một tờ báo của TP.HCM, một blogger nổi tiếng (tuy cái nickname hơi dữ). Một người rất có cá tính và có tài, tôi rất phục. Từ bấy đến giờ tôi không gặp chị ấy, nhưng có dạo suýt nữa thì chỉ là sếp của tôi. Đời người chẳng ai ngờ được chữ ngờ.
    Trường tôi cũng giống như nhiều trường đại học khác của miền Nam sau 1975, đội ngũ giáo viên có rất nhiều giáo viên cũ, được lưu dung. Thú thực, lúc đầu nhiều giáo viên, giảng viên, cả già lẫn trẻ ở miền Bắc vào, mang tư thế của Bên thắng cuộc nên thường ra vẻ ta đây, coi trời bằng vung. Ngược lại, số lưu dung kia thì mặc cảm, rụt rè, e ngại, cam chịu. Nhưng môi trường khoa học chứ có phải cơ quan hành chính đâu mà đè nén được nhau mãi. Một thời gian sau, đám Bắc chúng tôi phải công nhận rằng những giảng viên cũ nhiều người rất giỏi, cực giỏi, nhất là về chuyên môn và ngoại ngữ. Chúng tôi, đám giáo viên Bắc chỉ hơn họ được mỗi cái lập trường giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể kể tên một số anh chị như Cung Bỉnh Duyệt, Huỳnh Công Sanh, Đỗ Trung Hưng, Nguyễn Hữu Nghiệp, Võ Thanh Long, Trần Mạnh Hảo, Chu Đức Khánh, Hứa Hồ Ngọc, Nguyễn Thị Tố Quỳnh, Phạm Văn Ba, Phạm Văn Nhơn… Chúng tôi theo được họ cũng còn khướt. (còn tiếp) 

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Chuyện đại học (phần 3)

Lại nói, từ ngày 26 đến 28.12.1976, khóa 17 văn khoa, đại học Tổng hợp chúng tôi bảo vệ luận văn xong, cuối tháng tụ họp lại làm bữa bánh cuốn Thanh Trì lặc lè rồi chia tay.

Tôi về quê nhà Hải Phòng. Mùa đông năm 76 rét lắm, mà sao suốt từ năm 1972 đến giờ hình như đông năm nào cũng buốt giá, có những lúc xuống chỉ còn 4 - 5 độ. Thực ra so với mấy chục năm sau thì vẫn chưa là cái đinh gì bởi năm 2015 miền Bắc xuống dưới 0 độ, các vùng Ba Vì, Tam Đảo ở thủ đô, thậm chí tận vùng núi Nghệ An còn có tuyết, nước suối đóng băng, nhưng hồi ấy đồ chống rét không nhiều, quần áo chăn mền chả có bao nhiêu, chủ yếu là “phong phanh áo vải hồn muôn trượng”, nên chịu không nổi. Tôi ở nhà với thày bu tôi, rét vẫn ra đồng, thỉnh thoảng lại ngóng lên Hà Nội, vừa nghe ngóng tin tức xem đã có gì chưa, vừa nhơ nhớ bởi vẫn còn người ấy trên đó. Phụ giúp việc nhà, cái chân cái tay từng quen làm lụng, thuận việc đồng áng nên cũng không đến nỗi nào.

Chưa kịp giúp thày bu thu hoạch vụ lúa chiêm thì tôi nhận được thư thông báo của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp kêu lên nhận quyết định phân công công tác. Quyết định do Thứ trưởng Hoàng Xuân Tùy ký, cầm trên tay mà cứ run run. Kể từ nay, mình chính thức bước vào cuộc mưu sinh. Cảm giác thật khó tả.

Hầu hết bạn bè đều được nhận việc ở Hà Nội, người được giữ lại khoa như Trần Ngọc Vương, Nguyễn Huy Hoàng, người về nhà xuất bản như Nguyễn Thu Hà, Bùi Trọng Cường, Lê Thanh Nga, người về các báo như Xuân Ba, Bá Tân, Hoàng Thanh Chương, Phạm Kim Dung, người về các viện như Phạm Văn Bích, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thanh Hương, ít nhất cũng được về quê như Ma Duy Giang (Thái Nguyên), Vũ Lệnh Năng (Hải Phòng), các anh Lê Xuân Sang, Phạm Văn Sĩ, Đỗ Xuân Thanh, Lê Quốc Lập, Đặng Quốc Khánh (Thanh Hóa), Phạm Xuân Hoàng, Lương Ngọc Bính (Bình Trị Thiên). Chỉ có tôi và anh Trần Ngọc Hồng là bị hành phương nam. Tôi được điều vào Trường dự bị đại học TP.HCM, còn anh Hồng làm phóng viên TTXVN ở miền Nam (vài tháng sau, anh Hồng xin chuyển qua Trường đại học Tổng hợp TP.HCM). Nếu chậm một chút thì có lẽ tôi đã về báo Hải Phòng bởi người trong họ nhà tôi có quen Tổng biên tập Kim Toàn, ông ấy đã hứa nhận, nhưng thôi, cái số mình, nghe ông thày bói bảo tuổi Ất Mùi phải thiên di, không được ở gần nhà, đành chịu. Thay vào suất ấy là bạn Đỗ Kim Cúc lớp ngữ, sau đóng chức Phó tổng biên tập.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016

Chuyện đại học (2)

Lại nói, hôm tôi đi thi tuốt tận bên huyện Vĩnh Bảo nổi tiếng thuốc lào, bu tôi đưa cho 12 đồng (trên Facebook tôi nhớ nhầm là 20 đồng, thành thật xin lỗi), cầm để chi tiêu và phòng thân, nhưng dặn cố gắng dè sẻn. Tôi biết, số tiền ấy lớn lắm, giá trị bằng cả một xe cải tiến dưa hấu mà tôi với thày tôi phải dậy từ 2 giờ sáng kéo bộ 20 cây số ra chợ An Dương ngoài Phòng bán mới được chừng ấy.
Lần đầu tiên trong đời, chưa bao giờ trong túi tôi có nhiều tiền thế. Gọi là nhiều bởi hồi đó không làm gì ra tiền, nhà nông chỉ trông vào bán vặt vãnh rau cỏ, quả dưa quả ổi, thuốc lào, con gà con qué… theo mùa chứ thóc thì chả đủ ăn, chỉ có những ông trốn vợ đi đánh bạc mới liều xúc vài ký thóc đi bán. Mười hai đồng, có thể mua được hơn chục cuốn sách dày cỡ cuốn Vỡ bờ (tập 1) của Nguyễn Đình Thi. Tôi cố gắng tằn tiện, nhưng tiền vào túi thủng anh nhà nghèo, ráng bóp mồm được nhưng có cái bắt buộc phải chi tiêu.
Xui xẻo, trên đường sang Vĩnh Bảo, đến gần bến phà Khuể bên An Lão, một con nghé đang ăn cỏ ở bờ cừ bất ngờ nhào ra, tôi đi xe đạp chưa quen, tránh nó nên đâm thẳng vào chiếc xe cải tiến đang chở vôi ra bến sông. Đương nhiên là xe cải tiến không sao, còn xe đạp bị cong vành, khung bị chùn. Khệ nệ lôi chiếc xe quý của ông anh họ đến quán sửa xe chỗ bến Khuể, sửa tới trưa mới xong, thợ tháo vành đi nắn vành, tháo khung đi rút khung, lắp ráp xong mất đứt 2 đồng, ông thợ còn bảo tôi thông cảm cho chú học trò đi thi tôi lấy rẻ đới. Món tiền đầu tiên được quyền tiêu pha trong đời để chi cho một tai nạn.
Buổi chiều tới Nam Am, Vĩnh Bảo, nộp tiền lệ phí thi và tiền dự phòng để sau này trường làm hồ sơ, gửi giấy báo về nếu trúng tuyển mất thêm 1 đồng 8 hào nữa. 3 ngày ở nhà chủ, họ quý mến nhường cho nơi ăn ngủ, mượn bếp tự nấu ăn, lúc về cảm ơn gia chủ, mấy đứa bàn nhau mỗi đứa biếu bác gái chủ nhà 2 đồng (3 đứa là 6 đồng) bởi thấy nhà nghèo quá, quần áo cái nào cái nấy vá chằng vá đụp. Vị chi mất toi gần 6 đồng bạc không được bỏ vào mồm, chỉ dám dè sẻn chi dùng trong hơn 6 đồng còn lại thôi. Tôi về trả lại bu 2 đồng dư, không dám khai thật, bu định không nhận nhưng có lẽ thấy tôi tiêu khiếp quá nên thu hồi lại.