Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn dự bị đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dự bị đại học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Điều chưa biết về chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (kỳ 2)

Đúng ra phải kể ngay về thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm, nhưng thôi, gác lại để sau, sợ mọi người sốt ruột.

Tôi dỡ cái áo mưa ra, không đi công chuyện nữa, ngồi nghe thầy Năm rủ rỉ qua điện thoại. Và đây là lời thầy:

Mày nhớ không, hồi sau giải phóng, trường ta được thành lập để thu nạp các đối tượng chính sách, bồi dưỡng cho họ một năm trước khi họ vào đại học. Đối tượng thì mày rõ rồi, gồm bộ đội, cán bộ, con em cán bộ, con em gia đình cách mạng, thanh niên xung phong. Ban đầu chỉ tập trung vào những người ấy, sau nữa mới mở ra người dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa…

Năm 1977, tao bất ngờ nghe báo có khách, nói với ông Can bảo vệ cho mời vào. Nghe khách giới thiệu, tao biết mình đang nói chuyện với ông Nguyễn Hữu Hạnh, chuẩn tướng quân đội Sài Gòn, người có công rất lớn với cách mạng, nhất là ở chặng cuối cùng. Ông bảo, tôi nghe người quen thân giới thiệu anh có thể giúp được nên mạo muội tìm đến anh. Nhìn ông, thấy ngay cả sự bức xúc, dồn nén, buồn bã, thất vọng bộc lộ ra ngoài, mặc dù khuôn mặt rất hiền, nói năng nhỏ nhẹ. Tao bảo, anh cứ nói, liệu tôi có giúp được gì chăng.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Điều chưa biết về chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh

Nói đến chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhiều người biết, lẽ đâu dám viết rằng “điều chưa biết”. Nhưng quả thật, tôi nghĩ điều tôi sắp kể ra đây, người biết chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Trước khi kể, vòng vo chút đã, như các cụ ngày xưa bảo phải “nói có đầu đuôi”. Tất nhiên tôi không khề khà tới mức, kiểu thưa ông con tằm nó nhả ra tơ, người ta đem tơ bán cho người tàu, người tàu dệt thành the rồi bán sang ta, ông đi mua the về may thành áo… Tôi chỉ làm chút lý lịch trích ngang thôi.

Ông Hạnh là chuẩn tướng, sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam cộng hòa, mà người cộng sản gọi là “quân đội ngụy, ngụy quân”. Ông được mặt trận (tức phe cách mạng) móc nối, dụ dỗ nên ngả theo cách mạng. Thời trước 1975 ở miền Nam có câu “Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”, dạng này nhiều lắm, trong đó có ộng Hạnh. Ông Hạnh thuộc nhóm “ăn cơm” kiểu Nguyễn Thành Trung, Tôn Nữ Thị Ninh, chứ không thể xếp chung vào nhóm Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức, Vũ Ngọc Nhạ… bởi những ông vừa kể ăn cơm cộng sản, giả vờ phụng sự quốc gia. Một dạng là tình báo, điệp viên, còn một dạng là hai mang, bề tôi thờ hai chúa.

Dân đen như chúng tôi tất nhiên trước ngày đất nước thống nhất chả biết gì về ông Ẩn, ông Nhạ, lại càng không biết những người như ông Hạnh. Chỉ sau năm 1975, chỗ này chỗ kia xì ra, có lúc um lên, nhà văn nhà veo ghi chép thì công tích, sự nghiệp của họ mới rõ dần. Người ta biết ông Hạnh chủ yếu ở những giây phút cuối cùng, khi ván bài đã chuẩn bị ù, ông giúp cho tướng Dương Văn Minh có những động tác và chỉ thị mang tính quyết định để… đầu hàng, có lợi cho cách mạng. Nói gì thì nói, chỉ cần một lời khuyên của ông Hạnh với tướng Minh khi ấy, đã cứu được hàng nghìn người, thậm chí cả vạn người khỏi cái chết, giúp cho Sài Gòn gần như còn nguyên vẹn. Tất nhiên cả ông Hạnh lẫn tướng Minh big đều không hình dung ra được về sau lời ca của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã bị cải biên thành “tiến về Sài Gòn, ta chiếm nhà mặt tiền; tiến về Sài Gòn, ta chiếm nhà thật toooo…”.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Chiều ngày này, 40 năm trước

Ngày này tức là ngày 17 tháng 2. Còn 40 năm trước, tức vào buổi chiều 17.2.1979. Khi ấy tôi dạy tại Trường dự bị đại học TP.HCM. Mới gần 2 tuổi nghề, hăng lắm, trường giao việc gì cũng nhận, thậm chí chưa giao cũng xung phong. Hồi ấy không biết, hoặc chưa có bài vè “Tiến lên ta quyết tiến lên/Tiến lên ta lại xông lên hàng đầu”, hăng bởi đang là đoàn viên.

Sáng 17.2.1979, cả trường vẫn hoạt động bình thường, thầy trò lên lớp, học hành theo lịch, chả có gì thay đổi. Chị Nguyễn Thị Huệ, giáo viên hóa, bí thư Đoàn trường còn dặn tôi sáng mai nhớ theo xe ông Thi già tài xế xuống cơ sở 2 dưới Tiền Giang để bồi dưỡng lớp đối tượng đoàn. Thầy Nghiệp, thầy Chi, anh Dương dưới ấy đã chuẩn bị xong cả rồi, lên lớp 2 buổi trong ngày, tới chiều tối sẽ quá giang xe đưa rước giáo viên về lại Sài Gòn.

Suốt buổi sáng 17.2, không có thông tin gì. Trưa, nghe thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm thông báo họp đột xuất các trưởng bộ môn, trưởng phòng ban, bí thư đoàn, chủ tịch công đoàn. Hình như có chuyện chi ghê gớm lắm. Tan họp, ai cũng căng thẳng. Chú Dương Cao Thăng, chủ tịch Công đoàn trường thông báo Trung Quốc nó đánh ta rồi. Có khi nó thốc xuống tận Hà Nội. Đánh từ sáng sớm nhưng hồi đó thông tin liên lạc kém nên tới trưa nghe đài Tiếng nói Việt Nam mới biết. Đài phát liên tục những thông tin mới nhất, nào là bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh trở mặt, nào là quân ta đang chiến đấu anh dũng cản bước tiến của quân thù, nào là sắp có lệnh tổng động viên trên cả nước, v.v..

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Chuyện đại học (5)

Như đã biên trong bài trước, đời dạy học của tôi gắn với Trường dự bị đại học TP.HCM 17 năm trời (từ năm 1977 đến 1993, và thêm năm 1995 sau đó). Gần như phần tuổi xuân, cái thời hăng hái nhất đời tôi gắn với nghề dạy, sau này bỏ nghề, những lúc vẩn vơ nghĩ lại cũng tiêng tiếc.

Khoảng mấy năm đầu thập niên 80, hình như năm 1982 thì phải, phong trào luyện thi đại học được khơi lên. Đành rằng do nhu cầu mà phát sinh nhưng có thể nói luyện thi đã dần dà làm hỏng chất lượng đại học. Những học sinh trình độ kém, ít tài năng sau cú trượt lần 1 đã dồn hết sức cho đợt luyện thi, chỉ học ròng rã 3 môn theo khối thi, làm gì mà không đủ khả năng đánh bật được những học sinh phổ thông mới tốt nghiệp, tuy khá và giỏi nhưng vừa trải qua kỳ thi vất vả, đã mệt nhoài nên khó đua tranh.

Trong suốt gần hai chục năm trời, Trường dự bị đại học TP.HCM nổi tiếng là trung tâm luyện thi uy tín, mỗi năm thu hút hàng nghìn học sinh khắp cả miền Nam. Có những năm, vào thời điểm hoàng kim luyện thi, thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm phải ra lệnh hạn chế nhận thí sinh vào trường mặc dù nhận vào là có tiền, bởi không đủ chỗ học, giáo viên dồn giờ dạy cho luyện thi nhiều quá nên chểnh mảng nhiệm vụ chính. Đồng tiền kiếm từ luyện thi giúp cho đời sống giáo viên khá hơn nhưng hầu như chả mấy ai nghĩ rằng chính họ đã góp phần làm hư hỏng hệ đại học. Tôi có anh bạn là giảng viên Trường đại học Tổng hợp, bên ấy cũng căng ra luyện thi, anh kể có ngày dạy luyện thi tới 10 tiết, sáng 4, chiều 4, tối 2, chỉ kịp nhét miếng cơm vào mồm rồi cuống cuồng lên lớp. Lúc nào cũng thèm ngủ. Sài Gòn những năm đó trong giới giáo viên tồn tại một câu lạc bộ có tên CLB 30 triệu. Ai dạy luyện thi thu nhập 30 triệu đồng/tháng thì đương nhiên được gia nhập CLB này. Đồng tiền khiến nhiều thầy cô bị say, say tiền. Một thầy ở trường tôi cũng vậy, thầy Nguyễn Loan dạy toán, dạy nhiều đến mức bị kiệt sức, suy nhược cơ thể, vào bệnh viện được vài hôm thì mất.

Nhưng không phải thầy cô nào cũng khá lên nhờ luyện thi đại học. Chủ yếu là các môn phục vụ khối thi A và B (toán, lý, hóa, sinh) thôi chứ đám văn sử địa hầu hết vẫn đói dài. Tôi cố trụ mãi nhưng học sinh luyện thi môn văn cứ ngày càng ít dần. Chả muốn kéo dài tình trạng vừa lên lớp, vừa giữ xe cho học trò, vừa nuôi gà công nghiệp… nên đầu năm 1993 tôi quyết định xin nghỉ, đi làm thuê cho nước ngoài. Thầy Nguyễn Văn Vy bạn tôi đùa bảo giá dấn bước thêm tí nữa ra bến Nhà Rồng nhân tiện tìm đường cứu nước cứu nhà luôn có phải một công đôi việc không. Tôi xuống phòng hành chính ký nhận cái quyết định nghỉ việc và qua phòng tài vụ lĩnh cục tiền, được hơn 3 triệu đồng, tính ra sau 16 năm làm việc cho nhà nước được gần 7 chỉ vàng. Số tiền ấy chưa kịp dùng vào việc gì thì một người quen cùng quê là bộ đội ở Cần Thơ lên hỏi mượn, hẹn 1 tuần trả. Vợ chồng tôi nể quá, đưa rồi mà cứ lo lo. Sau 2 tuần chả thấy y đâu, từ bấy bặt luôn không gặp lại con nợ nữa. Xuống Cần Thơ dò hỏi, hóa ra anh ta bị quân đội loại ngũ, đã lừa một lượt tất tật người quen rồi đùm đúm cả vợ con kéo nhau bùng mất. Sau 16 năm, tôi quay lại thời ban đầu với hai bàn tay trắng.

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Chuyện đại học (4)

    Bài trước, tôi có nhắc về cái trường đặc biệt mà đầu năm 1977 tôi ba lô, khăn gói quả mướp từ Hải Phòng vào Sài Gòn nhận công tác. Tiền thân của nó là Viện đại học cộng đồng Tiền Giang, một mô hình mới mẻ của giáo dục đại học ở miền Nam. Sau 1975, viện được chuyển tên thành Trường đại học cộng đồng Tiền Giang, rồi đến năm 1982 đổi lần cuối thành Trường dự bị đại học TP.HCM. Lai lịch vắn tắt như vậy để lý giải vì sao nó lại có 2 cơ sở, chính thì ở khu của Đại học Văn khoa cũ tại 91 Nguyễn Chí Thanh, Q.5, Sài Gòn, còn phụ (lúc đầu là chính) ven quốc lộ 4, cách ngã ba Trung Lương khoảng 2km, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Những năm đầu trong nghề, tôi phải thường xuyên dạy cả hai cơ sở, nửa đầu tuần ở Sài Gòn, nửa cuối tuần thì Tiền Giang.
    Như đã nói, học viên của trường chỉ học 1 năm học rồi vào đại học. Tuy thiếu vài ba điểm để được vào thẳng đại học sau kỳ thi tuyển sinh nhưng trong số họ có nhiều cô cậu rất giỏi. Trò của tôi sau này vào đời nhiều người thành đạt, thậm chí làm quan to, không phải bởi thầy cô giỏi mà chủ yếu là họ rất thông minh, có tài. Họ lỡ một nhịp chẳng qua do số phận, kể cả học tài thi phận, chứ không như ai nói “vào dự bị là thuộc diện ngu rồi”.
    Tôi nhớ không chính xác, năm học 1979-1980 hoặc 1980-1981 thì phải, tôi xuống dạy ở cơ sở 2 Tiền Giang. Ngoài lớp C chuyên về văn sử địa (anh Lê Đình Khẩn, chị Huỳnh Thanh Diệu, chị Kim Chi… học lớp này) còn có 2 lớp B1, B2 của khối B cũng phải học môn văn, 5 tiết/tuần. Lớp B2 có một chị dù thi khối B nhưng học rất giỏi môn văn của tôi. Hồi thi cuối học kỳ 1, tôi ra đề luận về bi kịch cá nhân trong truyện Kiều, chị ấy viết cực hay, nhiều ý mới mẻ táo bạo, thoát hẳn những quan niệm suy nghĩ phổ biến lúc bấy giờ, tôi đọc hết sức sửng sốt, không ngờ một người học khối B lại giỏi văn đến thế. Cho điểm 10. Điểm 10 duy nhất trong đời dạy học của tôi. Tôi đưa bài cho một đồng nghiệp là thầy Nguyễn Văn Vy (anh Vy học khóa 16 khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, đầu năm 1976 đã có mặt ở Sài Gòn, đã mất), anh bảo tôi, nếu có điểm 11 thì sẽ cho điểm đó. Chả biết người viết có còn giữ được bài văn không. Sau này chị ấy học Trường đại học Tổng hợp TP.HCM, ra trường về các cơ quan báo chí, đã từng là Phó tổng biên tập một tờ báo của TTXVN, tổng biên tập một tờ báo của TP.HCM, một blogger nổi tiếng (tuy cái nickname hơi dữ). Một người rất có cá tính và có tài, tôi rất phục. Từ bấy đến giờ tôi không gặp chị ấy, nhưng có dạo suýt nữa thì chỉ là sếp của tôi. Đời người chẳng ai ngờ được chữ ngờ.
    Trường tôi cũng giống như nhiều trường đại học khác của miền Nam sau 1975, đội ngũ giáo viên có rất nhiều giáo viên cũ, được lưu dung. Thú thực, lúc đầu nhiều giáo viên, giảng viên, cả già lẫn trẻ ở miền Bắc vào, mang tư thế của Bên thắng cuộc nên thường ra vẻ ta đây, coi trời bằng vung. Ngược lại, số lưu dung kia thì mặc cảm, rụt rè, e ngại, cam chịu. Nhưng môi trường khoa học chứ có phải cơ quan hành chính đâu mà đè nén được nhau mãi. Một thời gian sau, đám Bắc chúng tôi phải công nhận rằng những giảng viên cũ nhiều người rất giỏi, cực giỏi, nhất là về chuyên môn và ngoại ngữ. Chúng tôi, đám giáo viên Bắc chỉ hơn họ được mỗi cái lập trường giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể kể tên một số anh chị như Cung Bỉnh Duyệt, Huỳnh Công Sanh, Đỗ Trung Hưng, Nguyễn Hữu Nghiệp, Võ Thanh Long, Trần Mạnh Hảo, Chu Đức Khánh, Hứa Hồ Ngọc, Nguyễn Thị Tố Quỳnh, Phạm Văn Ba, Phạm Văn Nhơn… Chúng tôi theo được họ cũng còn khướt. (còn tiếp) 

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Chuyện đại học (phần 3)

Lại nói, từ ngày 26 đến 28.12.1976, khóa 17 văn khoa, đại học Tổng hợp chúng tôi bảo vệ luận văn xong, cuối tháng tụ họp lại làm bữa bánh cuốn Thanh Trì lặc lè rồi chia tay.

Tôi về quê nhà Hải Phòng. Mùa đông năm 76 rét lắm, mà sao suốt từ năm 1972 đến giờ hình như đông năm nào cũng buốt giá, có những lúc xuống chỉ còn 4 - 5 độ. Thực ra so với mấy chục năm sau thì vẫn chưa là cái đinh gì bởi năm 2015 miền Bắc xuống dưới 0 độ, các vùng Ba Vì, Tam Đảo ở thủ đô, thậm chí tận vùng núi Nghệ An còn có tuyết, nước suối đóng băng, nhưng hồi ấy đồ chống rét không nhiều, quần áo chăn mền chả có bao nhiêu, chủ yếu là “phong phanh áo vải hồn muôn trượng”, nên chịu không nổi. Tôi ở nhà với thày bu tôi, rét vẫn ra đồng, thỉnh thoảng lại ngóng lên Hà Nội, vừa nghe ngóng tin tức xem đã có gì chưa, vừa nhơ nhớ bởi vẫn còn người ấy trên đó. Phụ giúp việc nhà, cái chân cái tay từng quen làm lụng, thuận việc đồng áng nên cũng không đến nỗi nào.

Chưa kịp giúp thày bu thu hoạch vụ lúa chiêm thì tôi nhận được thư thông báo của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp kêu lên nhận quyết định phân công công tác. Quyết định do Thứ trưởng Hoàng Xuân Tùy ký, cầm trên tay mà cứ run run. Kể từ nay, mình chính thức bước vào cuộc mưu sinh. Cảm giác thật khó tả.

Hầu hết bạn bè đều được nhận việc ở Hà Nội, người được giữ lại khoa như Trần Ngọc Vương, Nguyễn Huy Hoàng, người về nhà xuất bản như Nguyễn Thu Hà, Bùi Trọng Cường, Lê Thanh Nga, người về các báo như Xuân Ba, Bá Tân, Hoàng Thanh Chương, Phạm Kim Dung, người về các viện như Phạm Văn Bích, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thanh Hương, ít nhất cũng được về quê như Ma Duy Giang (Thái Nguyên), Vũ Lệnh Năng (Hải Phòng), các anh Lê Xuân Sang, Phạm Văn Sĩ, Đỗ Xuân Thanh, Lê Quốc Lập, Đặng Quốc Khánh (Thanh Hóa), Phạm Xuân Hoàng, Lương Ngọc Bính (Bình Trị Thiên). Chỉ có tôi và anh Trần Ngọc Hồng là bị hành phương nam. Tôi được điều vào Trường dự bị đại học TP.HCM, còn anh Hồng làm phóng viên TTXVN ở miền Nam (vài tháng sau, anh Hồng xin chuyển qua Trường đại học Tổng hợp TP.HCM). Nếu chậm một chút thì có lẽ tôi đã về báo Hải Phòng bởi người trong họ nhà tôi có quen Tổng biên tập Kim Toàn, ông ấy đã hứa nhận, nhưng thôi, cái số mình, nghe ông thày bói bảo tuổi Ất Mùi phải thiên di, không được ở gần nhà, đành chịu. Thay vào suất ấy là bạn Đỗ Kim Cúc lớp ngữ, sau đóng chức Phó tổng biên tập.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Một thời lãng mạn: Vì đàn em thân yêu

Ngày này đúng 35 năm trước, mình có mặt ở Sài Gòn, lúc 12 giờ kém một chút. Và ở từ đó cho đến nay.
Nói rõ hơn để tránh sự hiểu lầm, mình không được theo những binh đoàn vào thành phố, chỉ đơn giản là gần 2 năm sau ngày 30.4, chính xác là ngày 15.4.1977 mình mới đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất này, sau 48 tiếng đồng hồ lênh đênh trên con tàu khách Thống Nhất.

Nhận tờ quyết định phân công công tác từ vụ Tổ chức, bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (hình như lúc ấy ở đường Trần Xuân Soạn) mình bắt xe quày quả về lại Hải Phòng để kịp lên đường. Dự định về công tác tại báo Hải Phòng thôi đành dở dang. Ra đi trĩu nặng nỗi buồn. Nhà có 4 chị em nhưng chị lấy chồng xa, em gái đang đi học sư phạm, anh trai cũng nơi xa tít, giờ mình lại đi nốt, chỉ còn thày mẹ ở nhà. Nhiều kỷ niệm vui buồn xen lẫn. Bước đi một bước giây giây lại dừng.

Ghé vào Ngân hàng nhà nước ở Hải Phòng, lối gần bến Bính, đổi 100 đồng tiền miền Bắc được 90 đồng tiền Nam. Một chiếc va li nho nhỏ (nay vẫn còn giữ, bà xã không hiểu mấy lần cứ bảo bỏ đi cho khỏi chật nhà). Tất cả chỉ có thế cho chặng đường mới chưa biết sẽ như thế nào. Còn nhớ mãi lúc xuống tàu, rồi bờ bãi xa dần, khuất dần... Thiếu một người. Lúc ấy mới hiểu thế nào là chia ly.
Cặp bến nhà Rồng, mình được mấy anh công an vũ trang, anh Vuôn, anh Trùng ra đón đưa về đồn (sau này anh Vuôn về lại HP, anh Trùng lên đại tá chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng cảng SG). Ăn chơi một ngày cho khuây khỏa, anh Vuôn lấy xe đạp đưa mình về nhiệm sở mới.
Trường Dự bị đại học TP.HCM (bấy giờ có tên là Tiền Giang) trên đường Nguyễn Chí Thanh, Q.5 gắn bó với mình 16 năm trời, sau đó dù không dạy nữa nhưng mình vẫn lưu luyến nó. Bao lứa học trò, biết bao kỷ niệm, bao tình yêu thương. Xin cám ơn tất cả những học trò đã giúp tôi nên người. Quãng đời dạy học này, xin hẹn dịp khác sẽ viết rõ hơn.

Kỷ niệm ngày này 15.4 của 35 năm trước, mình lại nhớ đến một quãng đời đã đi qua và giờ gửi gắm vào bài hát của ca sĩ- nhạc sĩ Trần Thụ. Đây là giọng ca mình rất yêu thích, từ hồi còn đi học cấp 3, sau này vào đời lại càng quý mến anh hơn. Hình như thế hệ mình, chả mấy ai không biết bài hát này.

Xin cám ơn nhà sưu tầm Zanhanoi.

Kỷ niệm tròn 35 năm lưu cư trên đất Sài Gòn
Nguyễn Thông