Những năm 80 Sài Gòn đói rài đói rạc, phòng thầy Duyệt ở tầng 5, phòng tôi ở tầng 4 ký túc xá lúc nào cũng quang quác tiếng gà. Chả là chúng tôi mỗi nhà nuôi gần chục con gà công nghiệp đẻ, lấy trứng đem ra chợ An Đông bán cho người Tàu, thêm chút ít tiền lời lãi vào đồng lương chết đói. Cám cảnh nhau, hễ có gì ngon, thầy lại lấy cọc màn dộng xuống nền nhà rủ tôi lên nhắm. Nhớ lần đàn gà của thầy chẳng biết trúng phải thứ chi đó bị động kinh, cứ đi giật lùi trong chuồng rồi lăn quay ra ngáp ngáp. Thầy tu xuất lo lắm. Một đứa học trò mách cho nó ăn thịt bò thì khỏi. Thầy ra ngã sáu mua 2 lạng thịt bò, thái nhỏ, bóp mỏ gà há ra nhét vào họng. Nhưng rồi thịt bò mất, đàn gà vẫn toi. Thầy Duyệt than với tôi, khổ, người bao nhiêu năm không dám ăn miếng thịt bò, nhường cho gà mà nó cũng không thương mình.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhạc vàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhạc vàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022
Cung Tiến và Hoài cảm (kỳ 2)
Tôi biết những chuyện ấy (về Cung Đình Vận) qua lời kể của một đồng nghiệp cùng trường, thầy Cung Bỉnh Duyệt. Thầy là cháu gọi quan tuần Cung bằng bác, sau cơn gia biến, cả nhà phải trôi giạt vào Sài Gòn. Thầy từng học trường dòng nhưng không theo đến đầu đến đũa, người nửa chừng như vậy ta quen gọi là thầy tu xuất. Thầy xuất Duyệt học Đại học Khoa học Sài Gòn và thành giáo viên dạy vật lý. Một người giỏi chuyên môn, thạo tiếng Pháp tiếng Anh, làu tiếng Latinh.
Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022
Cung Tiến và “Hoài cảm”
Nhạc sĩ danh tiếng ở miền Nam trước biến cố năm 1975 Cung Tiến, tên đầy đủ là Cung Thúc Tiến, vừa qua đời tại Mỹ. Nhắc tới ông, tôi nhớ ngay mấy câu trong bài hát “Hoài cảm”, nghe bảo ông viết khi mới 14 - 15 tuổi. Ở tuổi ấy, tôi gần như chửa biết gì ngoài đi học và chăn trâu cắt cỏ, làm ruộng. Khôn chả ra khôn, dại thì đầy dại. Nhưng với Cung Thúc Tiến thì “chờ nhau hoài cố nhân ơi/sương buồn che kín nguồn đời/cố nhân xa rồi có ai về lối xưa”…
Hồi ở miền Bắc, tất nhiên trước năm 1975, đám chúng tôi bị phong tỏa trong vòng kim cô văn nghệ cách mạng, gần như rất ít biết những gì xảy ra trong đời sống văn học nghệ thuật ở miền Nam. Thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên thuộc làu, nhạc Phạm Tuyên, Hoàng Vân, Xuân Giao hát suốt ngày, nhưng lại rất xa lạ, mơ hồ, nhợt nhạt với những Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, những Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Trịnh Công Sơn. Và gần như kiến thức cực mỏng về Cung Tiến. Thời chuyên chính nó thế, nếu tò mò tìm hiểu về văn nghệ “bên kia vĩ tuyến” có thể bị bắt, bị đi tù. Nghĩ mà thương cho những ca sĩ kiểu Lộc vàng, chỉ vì biết sớm quá mà lụy đến thân. Mọi thứ chỉ bị vỡ òa sau tháng 4.1975.
Hồi ở miền Bắc, tất nhiên trước năm 1975, đám chúng tôi bị phong tỏa trong vòng kim cô văn nghệ cách mạng, gần như rất ít biết những gì xảy ra trong đời sống văn học nghệ thuật ở miền Nam. Thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên thuộc làu, nhạc Phạm Tuyên, Hoàng Vân, Xuân Giao hát suốt ngày, nhưng lại rất xa lạ, mơ hồ, nhợt nhạt với những Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, những Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Trịnh Công Sơn. Và gần như kiến thức cực mỏng về Cung Tiến. Thời chuyên chính nó thế, nếu tò mò tìm hiểu về văn nghệ “bên kia vĩ tuyến” có thể bị bắt, bị đi tù. Nghĩ mà thương cho những ca sĩ kiểu Lộc vàng, chỉ vì biết sớm quá mà lụy đến thân. Mọi thứ chỉ bị vỡ òa sau tháng 4.1975.
Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020
Nhớ lại thời ‘Thái Thanh cũng bị cấm’
Từ sáng sớm, thứ tư 18.3.2020, nếu tính theo lịch ta thì trùng với ngày 25.2 Canh Tý, gần như đồng loạt trên các báo tiếng Việt, tất nhiên là bản điện tử chứ bản giấy phải đợi tới sáng hôm sau, xuất hiện bản “cáo phó”, đăng cái “tin buồn”, rằng nữ ca sĩ Thái Thanh từ trần.
Vẫn biết luật tự nhiên và cũng là luật đời, sinh lão bệnh tử, dù có bậc thánh nhân hay hoàng đế vĩnh cửu, dù có là “giọng hát vượt thời gian”, là Thái Thanh chăng nữa, cũng không thoát được, nhưng khi nghe tin bà ra đi, thọ 86 tuổi (bà sinh năm 1934), vẫn thấy buồn, vì nhiều lẽ.
Có nhẽ chưa khi nào một ca sĩ hải ngoại (cách gọi quen thuộc để chỉ những ca sĩ người Việt bỏ nước ra đi, hành nghề ca hát ở nước ngoài) được báo chí trong nước nhanh nhảu đưa tin nóng sốt, mến mộ, tiếc thương như vậy. Thử điểm nhặt trên các báo, đủ dạng thông tin, nào là bài, tin, là chuỗi ký ức, kỷ niệm xưa, là những câu chuyện kể, và nhiều nhất là hình ảnh nữ danh ca lừng lẫy một thời. Tất cả đều gắn với cái tên đã bám chặt, đi vào cuộc sống âm nhạc xứ ta: Thái Thanh.
Lứa chúng tôi, sinh giữa thập niên 1950, lại ở miền Bắc, lớn lên trong thời chiến tranh đối địch bắc - nam nên càng ít biết về Thái Thanh. Nguồn thông tin thì thào, kín đáo, loáng thoáng chỉ hé ra rằng nữ danh ca vốn là con gái Hà thành, theo nghiệp cầm ca từ hồi kháng chiến 9 năm, rồi cùng gia đình bỏ kháng chiến, bỏ cách mạng di cư vào Nam. Những người hiểu biết hơn về thời ấy, về những con người ấy thì ‘hé” thêm Thái Thanh là em vợ Phạm Duy, một nhân vật mà cách mạng rất ghét, họ nói xong còn đưa ngón tay lên miệng suỵt suỵt, chỉ biết thế thôi, đừng nói ra mà lụy. Mở rộng hơn nữa, chị của Thái Thanh là ca sĩ Thái Hằng, vợ Phạm Duy (lại nhắc Phạm Duy, lại suỵt suỵt), em của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương. Chỉ cần biết tới bấy nhiêu thôi là có vẻ đã có kiến thức hơi bị nhiều về thứ văn nghệ bên kia chiến tuyến.
Vẫn biết luật tự nhiên và cũng là luật đời, sinh lão bệnh tử, dù có bậc thánh nhân hay hoàng đế vĩnh cửu, dù có là “giọng hát vượt thời gian”, là Thái Thanh chăng nữa, cũng không thoát được, nhưng khi nghe tin bà ra đi, thọ 86 tuổi (bà sinh năm 1934), vẫn thấy buồn, vì nhiều lẽ.
Có nhẽ chưa khi nào một ca sĩ hải ngoại (cách gọi quen thuộc để chỉ những ca sĩ người Việt bỏ nước ra đi, hành nghề ca hát ở nước ngoài) được báo chí trong nước nhanh nhảu đưa tin nóng sốt, mến mộ, tiếc thương như vậy. Thử điểm nhặt trên các báo, đủ dạng thông tin, nào là bài, tin, là chuỗi ký ức, kỷ niệm xưa, là những câu chuyện kể, và nhiều nhất là hình ảnh nữ danh ca lừng lẫy một thời. Tất cả đều gắn với cái tên đã bám chặt, đi vào cuộc sống âm nhạc xứ ta: Thái Thanh.
Lứa chúng tôi, sinh giữa thập niên 1950, lại ở miền Bắc, lớn lên trong thời chiến tranh đối địch bắc - nam nên càng ít biết về Thái Thanh. Nguồn thông tin thì thào, kín đáo, loáng thoáng chỉ hé ra rằng nữ danh ca vốn là con gái Hà thành, theo nghiệp cầm ca từ hồi kháng chiến 9 năm, rồi cùng gia đình bỏ kháng chiến, bỏ cách mạng di cư vào Nam. Những người hiểu biết hơn về thời ấy, về những con người ấy thì ‘hé” thêm Thái Thanh là em vợ Phạm Duy, một nhân vật mà cách mạng rất ghét, họ nói xong còn đưa ngón tay lên miệng suỵt suỵt, chỉ biết thế thôi, đừng nói ra mà lụy. Mở rộng hơn nữa, chị của Thái Thanh là ca sĩ Thái Hằng, vợ Phạm Duy (lại nhắc Phạm Duy, lại suỵt suỵt), em của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương. Chỉ cần biết tới bấy nhiêu thôi là có vẻ đã có kiến thức hơi bị nhiều về thứ văn nghệ bên kia chiến tuyến.
Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015
Bài hát tặng bạn ngày chủ nhật: NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI
Những năm 60 đầu 70 ở miền Bắc, nhạc vàng bị cấm tiệt. Nghe hoặc hát nhạc vàng phải lén lút, nếu bị phát hiện, nhẹ thì chịu phê bình, kiểm điểm, nặng thì có thể bị tịch thu “phương tiện nghe nhìn” truyền bá văn hóa đồi trụy. Các cán bộ, nhất là cán bộ đoàn nói với chúng tôi rằng nó làm mất sức chiến đấu của con người, là thứ văn hóa độc hại, độc hơn cả thuốc phiện, chớ có dính vào. Nghe vậy thì biết vậy.
Theo cách định nghĩa của nhà chức trách, nhạc vàng là thứ nhạc não nề, ủy mị, thương vay khóc mướn, sướt mướt buồn đau. Nhạc cách mạng, những bản anh hùng ca thời đại đang đầy ra kia, sao không nghe hằng ngày để bồi dưỡng tư tưởng, lập trường và tình cảm cách mạng, lại đi nghe mấy thứ nhạc vàng làm gì. Mà thực ra muốn nghe nhạc vàng cũng khó bởi hầu như hệ thống phát thanh truyền thanh của nhà nước chỉ phát những bài hát cách mạng, như Giải phóng Điện Biên, Qua miền Tây Bắc, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Cô gái vót chông… chứ còn có gì nữa đâu mà nghe.
Cứ hiểu nôm na như các cán bộ giải thích thì nhạc vàng là những bài “yếu đuối” ra đời thời kháng chiến chống Pháp như Thiên thai, Suối mơ (Văn Cao), Cô láng giềng (Hoàng Quý), Dư âm (Nguyễn Văn Tý), Ngày trở về, Mời anh đến thăm quê tôi (Phạm Duy)… và nhừng bài hát ở miền Nam lúc hai miền còn chia cắt của các nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Thế Mỹ…
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)