Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2023

Sự khác biệt

Nhà cháu biết, biên mấy điều sau đây chả khác gì cà khịa, chuốc sự mắng mỏ, nhưng nghĩ sao nói vậy.

Hôm trước nhà cháu coi cái kênh gì đó trên tivi (bệnh coi tivi mậu dịch đã mạn tính, chữa mãi không khỏi), vô tình nghe/nhìn một chương trình ca nhạc, người hát là ca sĩ Quang Dũng.

Phải thực thà thú nhận rằng lâu nay nhà cháu ngại nghe ca sĩ hò hát trên tivi bởi quá nhiều sự nhố nhăng làm mình chán nản. Vả lại, mỗi người mỗi cách cảm nhận, chả nên áp đặt thứ của mình cho ai. Mình bảo không hay, người ta nói rằng hay, chả nhẽ cãi nhau.

Coi Quang Dũng hát, không chỉ thích mà cònthầm biết ơn anh ấy. Đó là một ca sĩ chững chạc, tử tế, chuẩn mực trên sân khấu, một thứ đẳng cấp khi xưa rất sẵn nhưng thời nay cực hiếm hoi. Từ giọng hát, trang phục, cách biểu cảm, cách đi đứng, khó có thể "bới" được ở anh ấy thứ gì.

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2022

Than khóc mà làm gì

Việc lãnh đạo "nhà hát lớn" Hà Nội ngang nhiên lấy lý do sửa điện để "hủy" đêm diễn của ca sĩ Khánh Ly tối 24.9 không có gì lạ.

Đó là bản chất của họ, thích thì làm, bất cần phải trái, ăn vào máu rồi không bỏ được. Cũng trong mạch cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, chống xét lại, cải tạo công thương, ngăn sông cấm chợ, đổi tiền... thôi. Cũng là kiểu cúp điện tại các phiên tòa xử này nọ thôi, cúp điện tại những cuộc hội họp mà họ không thích, không thể công khai nhảy xổ ra ngăn cấm thôi.

Khi không tìm ra lý do, cớ hợp lỗ nhĩ nào thì họ dùng cách cúp điện, biện pháp của Chí Phèo.

Tôi nói thật, nhà sản xuất chương trình đêm diễn bị hoãn của Khánh Ly đừng có than vãn than thở bị thiệt hại gì gì đó. Than chúng cũng chẳng thèm nghe. Cứ căn vào hợp đồng mà kiện, kiện trong nước không được (chắc chắn không được bởi chúng sẽ bênh nhau) thì kiện ra tòa án quốc tế. Một nước có thể vô pháp chứ chả nhẽ cả thế giới cũng vô pháp. 

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Cung Tiến và Hoài cảm (kỳ 2)

Tôi biết những chuyện ấy (về Cung Đình Vận) qua lời kể của một đồng nghiệp cùng trường, thầy Cung Bỉnh Duyệt. Thầy là cháu gọi quan tuần Cung bằng bác, sau cơn gia biến, cả nhà phải trôi giạt vào Sài Gòn. Thầy từng học trường dòng nhưng không theo đến đầu đến đũa, người nửa chừng như vậy ta quen gọi là thầy tu xuất. Thầy xuất Duyệt học Đại học Khoa học Sài Gòn và thành giáo viên dạy vật lý. Một người giỏi chuyên môn, thạo tiếng Pháp tiếng Anh, làu tiếng Latinh. 

Những năm 80 Sài Gòn đói rài đói rạc, phòng thầy Duyệt ở tầng 5, phòng tôi ở tầng 4 ký túc xá lúc nào cũng quang quác tiếng gà. Chả là chúng tôi mỗi nhà nuôi gần chục con gà công nghiệp đẻ, lấy trứng đem ra chợ An Đông bán cho người Tàu, thêm chút ít tiền lời lãi vào đồng lương chết đói. Cám cảnh nhau, hễ có gì ngon, thầy lại lấy cọc màn dộng xuống nền nhà rủ tôi lên nhắm. Nhớ lần đàn gà của thầy chẳng biết trúng phải thứ chi đó bị động kinh, cứ đi giật lùi trong chuồng rồi lăn quay ra ngáp ngáp. Thầy tu xuất lo lắm. Một đứa học trò mách cho nó ăn thịt bò thì khỏi. Thầy ra ngã sáu mua 2 lạng thịt bò, thái nhỏ, bóp mỏ gà há ra nhét vào họng. Nhưng rồi thịt bò mất, đàn gà vẫn toi. Thầy Duyệt than với tôi, khổ, người bao nhiêu năm không dám ăn miếng thịt bò, nhường cho gà mà nó cũng không thương mình.

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

Cung Tiến và “Hoài cảm”

Nhạc sĩ danh tiếng ở miền Nam trước biến cố năm 1975 Cung Tiến, tên đầy đủ là Cung Thúc Tiến, vừa qua đời tại Mỹ. Nhắc tới ông, tôi nhớ ngay mấy câu trong bài hát “Hoài cảm”, nghe bảo ông viết khi mới 14 - 15 tuổi. Ở tuổi ấy, tôi gần như chửa biết gì ngoài đi học và chăn trâu cắt cỏ, làm ruộng. Khôn chả ra khôn, dại thì đầy dại. Nhưng với Cung Thúc Tiến thì “chờ nhau hoài cố nhân ơi/sương buồn che kín nguồn đời/cố nhân xa rồi có ai về lối xưa”…

Hồi ở miền Bắc, tất nhiên trước năm 1975, đám chúng tôi bị phong tỏa trong vòng kim cô văn nghệ cách mạng, gần như rất ít biết những gì xảy ra trong đời sống văn học nghệ thuật ở miền Nam. Thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên thuộc làu, nhạc Phạm Tuyên, Hoàng Vân, Xuân Giao hát suốt ngày, nhưng lại rất xa lạ, mơ hồ, nhợt nhạt với những Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, những Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Trịnh Công Sơn. Và gần như kiến thức cực mỏng về Cung Tiến. Thời chuyên chính nó thế, nếu tò mò tìm hiểu về văn nghệ “bên kia vĩ tuyến” có thể bị bắt, bị đi tù. Nghĩ mà thương cho những ca sĩ kiểu Lộc vàng, chỉ vì biết sớm quá mà lụy đến thân. Mọi thứ chỉ bị vỡ òa sau tháng 4.1975.

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022

Ca sĩ một bài

Báo chí hai bữa nay đưa tin một nhạc sĩ hơi tre trẻ, nhạc sĩ Ngọc Châu qua đời. “Đi” do bệnh tim mạch chứ không liên quan gì tới cô vít. Anh này sinh năm 1967, kém lứa tôi hơn chục tuổi. Ngọc Châu là tác giả của nhiều bài hát khá hay như Thì thầm mùa xuân, Cô Tấm ngày nay, Mùa thu vàng…

Có những điều mà nhiều người trong đám ta biết, chẳng hạn Châu là con của nữ ca sĩ nổi tiếng Vũ Dậu, anh ruột của nữ ca sĩ trẻ cũng có tiếng Khánh Linh. Nhưng điều nữa thì ít người biết, cha của Châu và Linh là nghệ sĩ ưu tú Ngọc Hướng, tên đầy đủ là Phạm Ngọc Hướng. Ông là nghệ sĩ đàn bầu, cùng với vợ (Vũ Dậu) công tác tại đoàn ca múa nhân dân trung ương. Cả nhà cùng làm nghệ thuật, tài năng, danh tiếng.

Nhưng điều này nữa thì gần như thật ít người biết, kể cả những tờ báo đang lăn xả vào việc việc thông tin đám tang nhạc sĩ Ngọc Châu, không biết ông Ngọc Hướng chính là ca sĩ Ngọc Hướng, người duy nhất hát bài “Thanh Hóa anh hùng” của nhạc sĩ Hoàng Đạm. Cho tới giờ, tìm trên bất cứ trang tải âm nhạc nào, ta cũng chỉ có mỗn bài do Ngọc Hướng thể hiện.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Một bài hát thời thơ ấu: Tuổi thơ đất nước anh hùng

Tặng các bạn tôi K17 và bố già Đào Lê Bình

Phải nói ngay từ đầu, trên địa chỉ lưu trữ, nó (bài hát) có tên “Tuổi nhỏ đất nước anh hùng” nhưng mình thì nhớ như in là “Tuổi thơ đất nước anh hùng”, bởi hát hoài đến mỏi cả mồm thì nhớ khó sai lắm.

Có nhẽ trong đám lứa tuổi K17 chúng ta, ít ai không biết bài này, giai điệu của nó, rồi những lời ca như “Đường chúng ta đi/Hoa lá nở tươi xanh/Mương máng chảy bao quanh/Cho dù tiếng bom rơi/Nhưng không ngăn nổi tiếng cười/Bạn ơi, nhanh chân bước tới trường/Cùng hô thiếu niên ta đã sẵn sàng”… Có chi tiết mương máng bởi đây là hình ảnh nông thôn, tuy nhiên nhân vật không phải chỉ có đám trẻ con nông dân mà cả lũ trẻ ranh dân sơ tán, như đám Bùi Thị Lập, Nguyễn Thu Thủy, Bùi Lan Hoa, Cao Kim Phương… chẳng hạn

Tới giờ mình cũng không nhớ mình được kết nạp đội khi nào, mà chả biết có được kết nạp không nữa, nhưng sinh hoạt đội thì có, nhất là hồi học cấp 2. Cả đời hoạt động chính trị với tư cách đội viên thiếu niên, tốn mỗn cái khăn quàng đỏ mua ở hiệu sách trên huyện, hình như giá 2 hào. Đeo tới khi hết lớp 7, nó chuyển thành màu cháo lòng, nhờn nhợt, đỏ không ra đỏ, trắng không ra trắng, chỉ như thứ khái niệm về màu, lại rách te tua. Ai đời khăn quàng đỏ mà phải vá bao giờ. Lên lớp 8, học cấp 3 không còn tổ chức đội, nhưng mình là đối tượng chậm tiến, nhất là hay trêu bọn con gái, vẽ mực vào làn áo cộm sau lưng chúng nó, nên bị hệ thống chính trị từ chối, không được đối tượng đoàn, cảm tình đoàn, kết nạp đoàn. Mình cứ vô chính phủ như vậy tới cuối năm lớp 10.

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

Tìm lại được thứ hơn cả tình yêu

Kính tặng các tiên sinh Phạm Chuyên, Đào Lê Bình

Thế hệ tôi sinh giữa thập niên 1950 ở nông thôn, thực thà mà nói đời sống văn hóa tinh thần rất nghèo. Phần lớn thì giờ dồn vào việc làm ruộng giúp thày bu anh chị, rồi học hành ở trường ở nhà, nếu còn tí ti thời gian lại tranh thủ đi dậm đi câu, mò cua bắt ốc. Đôi lúc chơi bời thì cũng chỉ đợi trăng lên ra đình đánh trận giả, ngo ngoe chút rảnh rỗi thì chơi bật tường ăn diêm, đánh khăng đánh đáo, trốn tìm, thả đỉa ba ba, chơi đánh vụ (con quay gỗ), chọi cỏ gà. Tuổi thơ và thanh niên cứ thế trôi, lặng lẽ, êm đềm trong sự nghèo đói thiếu thốn.

Giờ đôi lúc ngồi ngẩn ra nghĩ lại thấy đám tuổi mình sống ở làng quê thiệt thòi đủ thứ, nhất là về văn hóa, tinh thần. Hầu như không đứa nào biết chơi đàn, được học nhạc, học đàn, ghi ta hoặc đàn măng đô lin… Cùng lắm là tự tìm ống trúc, mày mò dùi chiếc sáo, âm thanh sai lạc, thổi bập bẹ sòn sòn sòn đô sòn. Ông Uy nhà tôi rất giỏi vụ chế tác nhạc cụ này. Sách truyện cũng cực thiếu, mượn được cuốn truyện hay còn hơn nhặt được tiền, chuyền nhau đọc tới nát.
 
Cũng may, bù vào phần thiếu hụt tinh thần ấy là chiếc “đài” loa kim.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

Nhớ lại thời ‘Thái Thanh cũng bị cấm’

Từ sáng sớm, thứ tư 18.3.2020, nếu tính theo lịch ta thì trùng với ngày 25.2 Canh Tý, gần như đồng loạt trên các báo tiếng Việt, tất nhiên là bản điện tử chứ bản giấy phải đợi tới sáng hôm sau, xuất hiện bản “cáo phó”, đăng cái “tin buồn”, rằng nữ ca sĩ Thái Thanh từ trần.

Vẫn biết luật tự nhiên và cũng là luật đời, sinh lão bệnh tử, dù có bậc thánh nhân hay hoàng đế vĩnh cửu, dù có là “giọng hát vượt thời gian”, là Thái Thanh chăng nữa, cũng không thoát được, nhưng khi nghe tin bà ra đi, thọ 86 tuổi (bà sinh năm 1934), vẫn thấy buồn, vì nhiều lẽ.

Có nhẽ chưa khi nào một ca sĩ hải ngoại (cách gọi quen thuộc để chỉ những ca sĩ người Việt bỏ nước ra đi, hành nghề ca hát ở nước ngoài) được báo chí trong nước nhanh nhảu đưa tin nóng sốt, mến mộ, tiếc thương như vậy. Thử điểm nhặt trên các báo, đủ dạng thông tin, nào là bài, tin, là chuỗi ký ức, kỷ niệm xưa, là những câu chuyện kể, và nhiều nhất là hình ảnh nữ danh ca lừng lẫy một thời. Tất cả đều gắn với cái tên đã bám chặt, đi vào cuộc sống âm nhạc xứ ta: Thái Thanh.

Lứa chúng tôi, sinh giữa thập niên 1950, lại ở miền Bắc, lớn lên trong thời chiến tranh đối địch bắc - nam nên càng ít biết về Thái Thanh. Nguồn thông tin thì thào, kín đáo, loáng thoáng chỉ hé ra rằng nữ danh ca vốn là con gái Hà thành, theo nghiệp cầm ca từ hồi kháng chiến 9 năm, rồi cùng gia đình bỏ kháng chiến, bỏ cách mạng di cư vào Nam. Những người hiểu biết hơn về thời ấy, về những con người ấy thì ‘hé” thêm Thái Thanh là em vợ Phạm Duy, một nhân vật mà cách mạng rất ghét, họ nói xong còn đưa ngón tay lên miệng suỵt suỵt, chỉ biết thế thôi, đừng nói ra mà lụy. Mở rộng hơn nữa, chị của Thái Thanh là ca sĩ Thái Hằng, vợ Phạm Duy (lại nhắc Phạm Duy, lại suỵt suỵt), em của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương. Chỉ cần biết tới bấy nhiêu thôi là có vẻ đã có kiến thức hơi bị nhiều về thứ văn nghệ bên kia chiến tuyến.

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019

Nhân chuyện "Dư âm", nhớ lại...

Cụ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vừa qua đời, thọ 94 tuổi. Trong đội ngũ sáng tác nhạc sau cách mạng tháng 8 đứng về phía “cách mạng” thì cụ là nhạc sĩ nổi tiếng, thậm chí thuộc hàng top 5, top 10 của nền nhạc này.

Cụ Tý từng được giải thưởng Hồ Chí Minh của chế độ năm 2001, còn được xét trao trước cả nhạc sĩ Phạm Tuyên, không cần phải đặc cách, ưu tiên, xin xỏ gì. Ngay cả giai thoại cụ có dính tới nhóm Nhân văn giai phẩm cũng không ảnh hưởng bao nhiêu tới việc xét giải, mà thực ra, theo như tôi biết, cũng chả dính bao nhiêu. Bây giờ, trong mắt và suy nghĩ của dân chúng, những văn nghệ sĩ Nhân văn giai phẩm có thể được xem như những anh hùng, những con người có khí tiết, tử tế, đáng kính trọng nhất của một thời bi kịch văn nghệ.

Hôm trước, trong cuộc tụ họp vui vẻ nhân lễ Giáng sinh 2019, mấy anh em chúng tôi ngồi với nhau theo lời mời của CEO Công ty du lịch Hoàn Mỹ - anh Nguyễn Thế Khải, có cả người con rể của GS toán Đặng Đình Áng. Nhân nhắc tới GS Áng, lại quành sang người anh ruột cụ Áng là nhạc sĩ Đặng Đình Hưng, một “nhân văn giai phẩm”, cha ruột của tay đàn piano lừng danh Đặng Thái Sơn. Cụ Hưng cũng một thời chìm nổi, khổ vì cái tội “nhân văn”, cuối đời may nhờ ông con nổi danh mà bớt phần nào khốn khó. Một đàn anh của tôi trong nghề, anh Nguyễn Khắc Nhượng, người rất mê Nhân văn giai phẩm, tôi từng nghe anh đọc thơ Hoàng Cầm nhiều bài không sót một chữ, anh bảo trong những người có khí tiết thời ấy tớ chỉ phục nể nhất cụ Hữu Loan, dứt là dứt hẳn, chứ ngay cả Nguyên Hồng có giận dỗi bỏ về Yên Thế vẫn còn chút lừng chừng, còn những vị kia về sau đều ít nhiều “tự diễn biến” không được như cốt cách ban đầu. Có nhẽ trong số “những vị kia”, anh Nhượng gộp cả những người như Đặng Đình Hưng, Nguyễn Văn Tý, tất nhiên có cả Hoàng Cầm, Lê Đạt, Văn Cao… Tôi thì tôi nghĩ, ẩn trong cái dấu 3 chấm kia chắc không có những tên tuổi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Phùng Quán.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Nhạc và nhạc

Dư luận đang um về phát ngôn của ông nhạc sĩ phong trào Trần Long Ẩn. Cũng chưa rõ ổng có nói hẳn vậy không, chỉ thấy trên mạng xã hội và vài tờ báo, nhưng sự phản đối thì khá quyết liệt. Ai muốn biết ông Ẩn Long nói gì, cứ vào gu gồ gõ chữ Trần Long Ẩn thì ra ngay kết quả, nhà cháu không mất công thuật lại.

Chỉ nói riêng rằng, ông này có nhẽ được mỗi bài Tình đất đỏ miền Đông, còn những bài viết về sau, như Một đời người một rừng cậy, Đi qua vùng cỏ non... chỉ tinh lý sự, triết lý vớ vẩn, chẳng hạn "khi nghĩ về cuộc đời, tôi thường nghĩ về rừng cây", "ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai"... nghe rất chối, nổ mìn vào lỗ tai. Mọi người cứ thử ngẫm mà xem, không phải cứ hô hào triết lý mà ra lẽ đời đâu. Anh nào càng kêu to, càng nói lắm, càng rỗng tuếch. Ngược lại, đọc những ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà coi, không hề lên giọng dạy dỗ, lý sự, nhưng câu nào chữ nào cũng là chiều sâu cuộc đời, là thân phận con người. À, mà thôi, đem so ông Ẩn Long với cụ Trịnh, quá khập khiễng.

Nhân tối hôm qua "bàn" về âm nhạc, lại nhớ chuyện này.

Có một hôm, tôi ngồi lai rai với các đồng nghiệp, cả bắc cả nam. Mọi người bảo bây giờ đến tiết mục hát. Mấy anh Đoàn Khắc Xuyên, Nguyễn Duy Thông cười bảo ông Thông hát một bài nghe coi. Các bác ấy thừa biết giọng thuốc lào của tôi thì hát hò cái gì. Nhưng họ không biết gót chân Asin mà tôi giấu kín. Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra. Nhà báo Bùi Anh Tú cùng dân bắc như tôi buột mồm anh Thông chỉ biết nhạc đỏ thôi, muốn hát nhạc đỏ thì anh ấy chơi được, chứ nhạc khác thì chịu.

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Văn nghệ khác văn gừng

Ông bạn tôi, giáo học về hưu, xưa nay nổi tiếng nghiêm cẩn và tử tế, quan tâm đến cả thời cuộc và văn học nước nhà, ghé tai tôi: này ông, bọn Tàu xâm chiếm biển đảo thiêng liêng của tổ quốc (gớm, nói như đài) như thế, mà sao đéo thấy bọn văn nghệ sĩ lên tiếng gì cả.

Cái lão này bậy. Nhưng tôi hiểu, khi lão văng tức là dồn nén lắm rồi, có thể thông cảm được. Văn hóa cũng tùy. Có khi những từ không văn hóa được đặt đúng chỗ đúng lúc lại là văn hóa nhất.

Tôi giải thích, không hẳn thế ông ạ. Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường. Văn nghệ cũng vậy. Ông mà chờ sự lên tiếng của các vị Hữu Thỉnh, Đỗ Hồng Quân, Nguyễn Thị Thu Huệ... thì chờ tới mục thất. Đó không phải văn nghệ mà là văn gừng văn tỏi. Cán bút, nốt nhạc trong tay các vị ấy còn mải véo von nịnh nọt sống cầm hơi, “kiếp người cơm vãi cơm rơi, biết đâu nẻo đất phương trời mà đi", kể làm gì.

Nhưng vẫn có người làm văn nghệ tử tế đấy, tôi bảo với ông bạn vậy, những Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Xuân Hưng, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Quang Long, Đỗ Hoàng Diệu, Tuấn Khanh, Bùi Chí Vinh, Phạm Xuân Nguyên, Từ Ngàn Phố, Võ Đắc Danh... lên tiếng dữ dội đó. Nhiều chứ chả ít đâu. Họ là văn nghệ thứ thiệt, thứ "cán bút làm đòn xoay chế độ", rất đáng để chúng ta khuyên cho một nét son, trân trọng.

Trong số “sĩ” của list vàng ấy, tôi cũng chơi thân với khá nhiều người. Tôi biết họ từ ngày xửa ngày xưa, hiểu tính tình, khí tiết, bản lĩnh, tâm hồn của họ nhất quán cho tới tận bây giờ. Nguyễn Việt Chiến chẳng hạn, cần được tuyên dương là anh hùng, nghệ sĩ nhân dân trong thời đại bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nếu đảng và nhà nước còn lấn cẩn vướng víu gì chưa chịu phong thì nhân dân phong, riêng tôi phong ông Chiến ngay từ hôm nay.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Nhà hát Thủ Thiêm và cái gốc của âm nhạc

Tôi muốn nói với ông Bí thư Nguyễn Thiện Nhân thế này: 

Tôi hoàn toàn đồng tình với ông việc xây nhà hát và bồi thường cho dân là hai chuyện khác nhau.
Quá đúng, cái nào phải ra cái ấy, đừng có linh tinh.

Tôi cũng đồng tình với ông Nhân và cả ông Phong chủ tịch khi các ông bảo rằng dự án nhà hát đã có từ rất lâu rồi, hơn chục năm nay rồi, đến giờ mới triển khai cũng đã là chậm, là muộn.

Quá đúng, rất muộn là đằng khác, phải làm thôi.

Nhưng, vâng ạ, tôi có tí "nhưng", các ông cần nghe cho rõ: 

Cả việc xây nhà hát lẫn việc bồi thường có điểm giống nhau, đó là: Thủ Thiêm, và tiền.

Người dân ở Thủ thiêm bị cướp đất, đòi mà không được giải quyết rốt ráo những 20 năm nay rồi, đến bây giờ đang vẫn rất bức xúc, đang sôi sùng sục, sao không thấy nói? Dự án đòi đất này dài và lâu hơn dự án nhà hát nhiều.

Tiền trả cho dân, những đồng tiền chính đáng từ mồ hôi nước mắt, từ số phận cha ông họ, sao không thấy trả, cứ ngâm mãi, ngâm mãi, neo đến bao giờ? Tiền này cần kíp hơn tiền chi cho nhà hát nhiều.

Và cái chính là trong khi Thủ Thiêm còn vang tiếng khóc hờn oán ngất trời, chỉ thiếu điều dân và chính quyền hò hét lôi nhau ra ngã ba Cát Lái nện nhau "lành làm gáo, vỡ làm muôi", thì các ông lại định xây nhà hát vang những âm điệu du dương réo rắt cho át tiếng oán hờn kia. Ông có nhớ cụ Nguyễn Trãi xưa nói về cái gốc của nhạc là gì không, hở ông Nhân?

Tôi trích một đoạn cho ông ngẫm nhé: "Thần vâng chiếu soạn nhạc, không dám không dốc hết tâm sức. Nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật , khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than, như thế mới không mất cái gốc của nhạc”. (Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển 19).

Còn ông làm ngược lại. Chán ông như cơm nếp nát ăn kèm thịt mỡ, ông ạ.

Không làm gì được những điều tốt thiết thực cho dân, thì tụt mẹ nó xuống đi, cứ đứng bấm bấm điện thoại nhắn tin, ngứa mắt, dở hơi bỏ mẹ.

Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

Bài hát cho cuối tuần (1): Tình cầm


Cứ mỗi cuối tuần tôi lại muốn tìm một bản nhạc hay, dù vui dù buồn, để rót vào khoảng chống chếnh khó san lấp.

Cái bài nhạc này, “Tình cầm”, chẳng hiểu sao lúc mò mò rê rê con chuột lại hiện ra trước nhất. Một bài hát cho cuối tuần, hay là cho chặng cuối đời, cho những người mang cái tâm trạng “Cộng thùy tranh tuế nguyệt/Doanh đắc mấn như ti” (thơ Đỗ Mục). Đua tranh với người qua năm tháng/để nay được mái tóc trắng như tơ, các cụ nhỉ.

“Tình cầm” là tên nhạc phẩm nhưng tên gốc của bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc là “Nếu anh còn trẻ”. Nhắc tới Phạm Duy là ta đã giật mình trước một đại thụ của làng nhạc Việt, và nhắc “Nếu anh còn trẻ” ta lại giật mình bởi cái tên cũng hoành tráng rợp bóng chẳng kém gì: nhà thơ Hoàng Cầm. Và rồi ta lại gật gù kinh hãi thêm chút nữa, người hát “Tình cầm” là ca sĩ mang cái tên quen thuộc mấy thế hệ ở miền Nam: Duy Quang. Quả thật, trong đời sống văn nghệ, sự hội tụ những đỉnh cao như ở tác phẩm trứ danh này không phải không có, nhưng rất hiếm.

Hoàng Cầm và Phạm Duy là đôi bạn văn nghệ nổi tiếng một thời. Những ngày chống Pháp 9 năm họ còn rất trẻ, tuổi đôi mươi, lòng tràn đầy lãng mạn. Họ đã sống những ngày thật đẹp, làm cách mạng cũng như làm văn nghệ. Tướng Nguyễn Sơn, vị tư lệnh quân khu 4, viên tướng đánh giặc khét tiếng, máu văn nghệ chứa đầy huyết quản, từng rất quý chuộng Phạm Duy và Hoàng Cầm. Đã có một thời thơ, nhạc nói riêng, văn nghệ nói chung được sống cuộc sống tự do của nó chứ không bị kìm nén kiềm tỏa dã man như chỉ vài năm sau.

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Khi nào còn có thể hát lên?

NGUYỄN XUÂN HƯNG (nhà văn)

Trả lời: tự nhiên thôi.

Có những bài hát không cấm, có khuyến khích cũng không hát nổi. Ví dụ 1: chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê, tàu bay Mỹ đến đây chú bắn cho tan tành. Đó là bài hát của một thời. Ca từ thô thiển. Mất tính thời sự. Hát lên tự thấy không ổn chứ không chính chị chính em gì.

Nhưng có bài hát qua thời gian rồi vẫn hát và thấy ổn. Ví dụ 2: em đi đưa cơm cho mẹ em đi cày. Giai điệu đẹp, tình yêu mẹ trong gian khó... Nói ra thì thế, chứ cứ hát thôi, mấy khi tách bạch rõ. Nay, có người giả sử tìm hiểu chi li, hỏi đi cày là đi cày ở đâu, à cày HTX, HTX thì bỏ lâu rồi, làm HTX chỉ có chết đói nhé. Mà sao phải đưa cơm cho mẹ? Thế là lạm dụng lao động trẻ em...

Đó là giả sử một điều hấp hơi như trên. May thay các em thời cơm hộp, máy cày, vẫn hát bài hát ấy. Vì sao? Không biết, bài hát hay tự nó không chết.

Có một số bài hát ca từ rất vô nghĩa, nếu nghiêm túc ngẫm thì nên không hát nữa. Ví dụ 3: bài Tiếng đàn ta lư, đi đánh nhau vui như hội, hát mà đếm xác chết khoái chí. Không cấm. Nhưng người làm chương trình tự thấy được vấn đề mà thôi, chỉ thế thôi.

Một số bài hát của Trịnh bị cấm một thời, giờ hát mãi, hay vẫn hay, nhưng lứa trẻ chả hát nữa, vì chúng nó có bài hát thời của nó. Hát rap thì nói lải nhải gì đó, lứa cha ông không sao sực nổi. Những kiểu hát ấy có lẽ không ai bảo cấm thì rồi chả sống lâu được.

Vậy thì, cuộc sống nếu mà hát lên được thì người ta hát thôi. Cái gì động đến sâu thẳm tâm can thì còn, cấm cũng không được. Đó gọi văn vẻ là tính nhân văn. Chính chị không nhân văn thì chết, chỉ còn chính em. Ở nước ta, từ lâu ít giáo dục nhân văn, hòa bình, dân chủ. Toàn những thành tựu hàng nghìn năm của thế giới thì mình sợ...

Con tôi hát: tóc bà trắng bà trắng như mây. Bà nó thời nay tóc xanh mướt, vẫn hát và vẫn hay. Vì người ta hát lên cái tình, chứ không hát cái mầu tóc thô thiển.

Nguyễn Xuân Hưng 
(Facebook Nguyễn Xuân Hưng, https://www.facebook.com/nguyenx1/posts/1626979790648793)

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Quang Lý vội đi để lại khoảng trống buồn

Sáng 1.12. Ngày đầu tiên của tháng cuối cùng năm 2016. Đang giờ làm việc, theo thói quen tôi rà rà con chuột vào các kênh tin tức xem có gì hay gì mới không. Bàn tay chợt khựng lại, như không tin vào mắt mình. Dường như có luồng khí lạnh toát chạy dọc sống lưng. Đập vào mắt là cái tít trên một tờ báo điện tử báo tin ca sĩ Quang Lý đột ngột qua đời.

Hỡi dòng thông tin lạnh lùng kia, lẽ nào đó là sự thực? Không muốn cũng chả được: Ca sĩ Quang Lý qua đời do nhồi máu cơ tim lúc 9 giờ sáng nay (1.12) sau khi đi tập thể dục về. Người đàn ông mạnh khỏe mới… 65 tuổi tây ấy hôm qua còn tràn đầy sinh lực, chỉ một cơn gió tai nghiệt sáng đầu đông vùng đất phương nam vốn đầy nắng ấm đã quật ngã anh rồi. Tôi sực nhớ đến thầy tôi hồi đại học, thầy Phan Cự Đệ, cũng đang rất khỏe, tưởng như còn phải viết thêm vài chục công trình nghiên cứu nữa mới chịu chấp nhận quy luật sinh tử, vậy mà chỉ cơn gió lạnh tiết trọng thu 2007 lúc thầy mở toang cửa ngắm phố phường đã ập vào kéo thầy đi.

Tôi ít gặp anh Quang Lý bởi mỗi người mỗi việc, chỉ biết nhau thôi. Anh lớn hơn tôi, lại là “người của công chúng”, danh tiếng, đẹp trai, hào hoa phong nhã… nên tôi thường “kính nhi viễn chi”. Tôi vẫn ngầm hãnh diện là đồng hương đất Phòng (Hải Phòng) với anh, cái chất sóng gió mặn mọi xứ biển đã ngấm vào lời ăn tiếng nói. Có lần tôi nửa đùa nửa thật nói bọn tôi coi anh là thần tượng, anh cười bảo “vớ vẩn”.

Quang Lý vốn gốc gác người đâu xứ mình, tôi chưa kịp hỏi, chỉ biết anh là con gia đình Việt kiều bên Thái Lan. Dạo ấy, rất nhiều Việt kiều từ Thái Lan, Pháp, Tân đảo (Tân Caledonia, thuộc Pháp) nghe theo lời chính phủ bỏ lại tất cả nhà cửa, tài sản, ruộng vườn, công ăn việc làm ổn định… để về miền Bắc xây dựng đất nước. Nếu chúng ta thường nói đến Việt kiều yêu nước, thì đó có lẽ đây là thế hệ Việt kiều yêu nước đầu tiên trở về. Hồi ấy là những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 thế kỷ trước. Gia đình anh Quang Lý về định cư ở nội thành Hải Phòng. Ngay làng Lái (xã Thanh Sơn, huyện Kiến Thụy) sát làng tôi cũng có một gia đình Tân đảo về định cư. Ông chủ nhà tên Cam, bọn trẻ con chẳng biết nghe ai cứ gọi là Cam “sũng”. Người dân địa phương nhìn họ với con mắt kính phục, ghen tị bởi cách ăn nói, đi đứng, hiểu biết họ đều có gì đó hơn hẳn mình một bậc. Đương nhiên tài sản thì không bì được. Nhà bác Cam cùng lúc có 2 chiếc xe đạp Peugeot, điều không dễ gì những nhà giàu thời ấy đạt được, nói kiểu bây giờ ví như đại gia có 2 xe Toyota Lexus cũng chưa chắc đã bằng. Nhưng như nhiều gia đình Việt kiều Tân đảo khác, chẳng biết nhà anh Quang Lý có vậy không, họ cứ nghèo dần nghèo dần, 2 chiếc xe đạp Peugeot lần lượt ra đi, thời chiến tranh phá hoại mỗi lần đi ngang qua căn nhà xanh rêu của gia đình bác Cam “sũng” chúng tôi cứ thấy ngậm ngùi, thương thương.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

Bài hát tặng bạn chủ nhật: Tình khúc chiều mưa

Hôm qua thứ bảy, hôm nay chủ nhật, trúng vào ngày giỗ tổ của dân Việt, nhà nước cho mọi người nghỉ bù nên ăn chơi thoải mái, vấn đề là có tiền để tung tẩy hay không thôi.
Bác nào ở nhà, chả đi đâu, nghe bài này cho mau hết vòng nhật nguyệt.
“Tình khúc chiều mưa”, theo tôi, là một trong những ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Thú thực lúc đầu tôi cũng chả biết mấy về ông. Đám Bắc kỳ di cư sau 75 chúng tôi không có vốn liếng bao nhiêu về văn nghệ miền Nam trước đó bởi có ai cho nghe đâu mà biết. Vào Sài Gòn, mới dần dà tìm hiểu Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Phạm Đình Chương, Thái Thanh, Khánh Ly, Thanh Thúy, Lệ Thu, Duy Khánh, Miên Đức Thắng… và hiểu rằng có cả một nền văn nghệ, âm nhạc đầy bản sắc mà suốt bao năm, do chiến tranh, mình như kẻ điếc, đui mù.
Năm 1982, dành dụm tích cóp mãi đồng lương còm dạy học, tôi đánh liều mua chiếc máy cassette Sharp 2 băng stereo trên phố điện tử Hùng Vương (Q.5), quy ra vàng khoảng 6 chỉ, mà nhà đất hồi ấy chỉ cần vài cây là có chỗ chui ra chui vào. Ông anh cọc chèo khai trương đồ trân bảo ấy bằng việc tặng cho cuộn băng cassette thu giọng hát Kim Anh, trong đó có bài “Tình khúc chiều mưa” của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Tôi cứ thắc mắc, sao không phải Nguyễn Ánh mà lại còn đèo thêm 9 vào làm chi. Thắc mắc vậy thôi chứ cũng phải gần 2 chục năm sau mới có dịp tỏ tường, bởi chả cần hỏi ai, chỉ cần tra khảo ông Gu gồ là có câu giả nhời chính xác.
Từ bấy mê Nguyễn Ánh 9. Cái ấn tượng đầu tiên kỳ lạ lắm. Tự dưng có cảm giác không ai hát bài này hay bằng ca sĩ Kim Anh, dù là Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương… đi chăng nữa. Cũng như ta từng bồi hồi với ánh mắt đầu tiên mà người con gái thuở đó trao cho ta lúc đầu đời biết yêu, cứ theo mãi, theo mãi chả thể nào tắt được.
Giờ thì nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã xa cây đàn, bỏ lại 76 năm theo dấu chân loài người, nhưng ông còn nằm ngủ đó, ngày mai 18.4 mới chính thức lên đường. Cầu cho ông nhẹ bẫng bước chân xa cái cõi tạm này, và đâu đó ta lại vẳng nghe “Tình khúc chiều mưa” như một lời chia tay người hiền ấy.
Sài Gòn mấy hôm nay thật nóng. Nóng dữ dội. Cả thời tiết và lòng người. Tự dưng tôi thầm mong có những cơn mưa chiều để làm dịu lại. Và để mát mẻ tiễn Nguyễn Ánh 9 lên đường.
Nguyễn Thông

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

Bài hát tặng bạn chủ nhật: TIẾN VỀ HÀ NỘI

Nhạc sĩ Văn Cao viết bài này năm 1949, tức là cuộc kháng chiến chống Pháp mới diễn ra được 3 năm. Ai mà biết nó sẽ kéo dài thêm bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm nữa, nhưng Văn Cao cũng như nhiều người vẫn tin rằng sẽ có ngày ca khúc khải hoàn. Lại được về Hà Nội, đi trên những con đường xưa cũ, gặp lại người thương. Cho nên, đừng vội khen rằng nhạc sĩ có cái nhìn sáng suốt, lãng mạn cách mạng, thấy được tương lai tươi sáng trong những ngày gian nan vất vả chết chóc. Lâu nay, các nhà lý luận văn nghệ của chế độ này thích phán xét, đánh giá theo công thức ấy. Còn theo tôi, chỉ đơn giản là, đi kháng chiến thì mong có ngày chiến thắng. Xa Hà Nội thì mong có ngày về.

Đây là một trong khá nhiều bài hát về Hà Nội thời ấy, tuy nhiên số phận chúng khác nhau. Khi nhà cai trị thích tác giả nào thì bài của những người đó được phổ biến, lưu hành bằng đủ mọi cách, ví dụ: Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Du kích sông Thao của Đỗ Nhuận, Sẽ về thủ đô của Huy Du... Nhưng những anh "có vấn đề", như Văn Cao (tham gia Nhân văn Giai phẩm), Lương Ngọc Trác (quá lãng mạn, không chịu phục vụ chính trị)... thì ca khúc của họ, dù hay đến mấy cũng bị xếp xó. Thế hệ chúng tôi trưởng thành những năm 60-70 hầu như không được hát những bài của Văn Cao thời kháng chiến 9 năm chứ nói gì những bài như Thiên thai, Buồn tàn thu hồi trước 1945; ngay cả những bài như Làng tôi, Ngày mùa cũng chả ai phổ biến, họa chăng chỉ biết mỗi bài Tiến quân ca (quốc ca).

Nói vậy để thấy rằng, một khi văn nghệ bị chính trị đè đầu cưỡi cổ thì nó hoặc trở thành thứ công cụ thô thiển, hoặc phải biến đi khỏi đời sống. Suốt bao nhiêu năm, một nền văn nghệ bị chính trị hóa đã đối xử bất công với bao nhiêu văn nghệ sĩ chân chính và giá trị nghệ thuật.

Nguyễn Thông

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Hải Phòng qua một khúc "tỉnh ca"

Xin kính tặng những người Hải Phòng mà tôi yêu mến.

Trên thế giới, nước nào cũng có quốc ca. Ở Việt Nam ta, già trẻ lớn bé đều thuộc “Đoàn quân Việt Nam đi…” bởi đó là bài hát chung của cả nước. Nhưng nước ta còn có cái lạ là các tỉnh thành đều có “tỉnh ca”, ca khúc mang đặc trưng vẻ đẹp mỗi tỉnh thành. Nhiều bài rất nổi tiếng, chẳng hạn “Quảng Bình quê ta ơi” tỉnh ca Quảng Bình, “Chào sông Mã anh hùng” (Thanh Hóa), “Dáng đứng Bến Tre” (Bến Tre), “Thành phố hoa phượng đỏ” (Hải Phòng), “Người Hà Nội” (Hà Nội), “Tôi là người thợ lò” (Quảng Ninh), “Hà Giang mến yêu” (Hà Giang), “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” (Hà Tĩnh)… Cứ đến những nơi ấy, vào giờ phát thanh là nghe tỉnh ca vang lên trong nhạc hiệu.
Hải Phòng quê mình, ngoài bài về hoa phượng của hai bác: nhạc sĩ Lương Vĩnh - nhà thơ Hải Như, còn có một bài khác cũng xứng đáng tỉnh ca không kém, là bài “Thành phố chúng ta, nhà máy chúng ta” của nhạc sĩ Hoàng Vân. Thời niên thiếu và thanh niên, chúng tôi đều thuộc bài này, hát với tất cả sự rạo rực, yêu mến tự hào về thành phố quê hương mình.
Nhạc sĩ Hoàng Vân viết bài “Thành phố chúng ta, nhà máy chúng ta” sau chuyến đi thực tế ở Hải Phòng năm 1965. Trong lời bài hát không có nhiều địa danh quen thuộc với người Hải Phòng như sau này ta bắt gặp ở bài “Thành phố hoa phượng đỏ” nhưng chỉ vài hình ảnh thôi cũng đủ làm ta xao xuyến. Vẻ đẹp của thành phố thợ, của đất Hải Phòng, người Hải Phòng khó lẫn vào đâu được: “Đồng lúa đây, nhà máy này, công sức ta hơn mười năm trời. Tay búa đây, nòng súng này, giông tố phong ba thề không rời. Hải Phòng đang tiến lên, đã sẵn sàng”.

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Bài hát tặng bạn ngày chủ nhật: Hồi tưởng

Tôi tặng các bạn bài hát này, có ai đó sẽ nghĩ lão Thông chắc là mật vụ cho nhà nước hay sao ấy, hoặc ít ra lão cũng có chân trong tuyên giáo, là đồ hai mang, sọc dưa, phải cảnh giác. Mặn mà với công việc tuyên truyền cho cộng sản thế này, đích thị là dư luận viên có hạng rồi.

Quan điểm của tôi rằng, có những sản phẩm văn học nghệ thuật sinh ra trong một thời kỳ nhất định dù chịu ảnh hưởng của bộ máy cầm quyền, của thể chế chính trị xã hội đương thời nhưng nó vượt qua những ngăn trở, cách biệt về tư tưởng, thái độ chính trị, thời gian, lòng người... và sống mãnh liệt. Khi ấy, nó tồn tại như một giá trị nghệ thuật, giá trị cảm xúc chứ không phải tính này tính nọ (tính đảng, tính dân tộc...) mà chế độ quen áp đặt.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Bài hát tặng bạn ngày chủ nhật: TÌNH EM BIỂN RỘNG SÔNG DÀI

Thú thực rằng, những bài hát ở miền Nam trước năm 1975 tôi ít biết. Phần lớn chút ít kiến thức có được tập trung vào Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, còn lại thì rất lơ mơ. Nhưng nhạc miền Nam trước 75 đâu phải chỉ có vậy mà còn biết bao nhạc sĩ, ca sĩ đã chiếm chỗ trong lòng hàng chục triệu người, càng về sau tôi càng thấy mình ếch ngồi đáy giếng.

Bài hát "Tình em biển rộng sông dài" của nhạc sĩ Thông Đạt tôi rất thích bởi nó là khát vọng hòa bình cất lên từ trong bom đạn, máu lửa, mất mát đau thương. Nhiều lúc cứ lăn tăn tự hỏi, những giai điệu ngọt ngào ấm áp như thế này mà phải thua nhịp hào hùng "giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước; diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước" thì kể cũng đau lòng. Giá đừng có chuyện thua nhau. Điều rõ ràng là quốc gia đã thua cộng sản ở sự tuyên truyền. Bài kiểu này mà ở phe cộng sản là bị cấm tiệt bởi làm nhụt nhuệ khí ba quân.

Tôi chỉ thực sự nghe giọng hát Tuấn Vũ trong một lần về quê nghỉ hè. Năm 1986, ông em rể tôi Núi Trà Phương ở cùng bố mẹ vợ có cái cassette, kiếm đâu được băng Tuấn Vũ, nghe suốt ngày, thế rồi thấm dần. Hồi năm ngoái, nghe đâu Tuấn Vũ về Hà Nội hát, có những phụ nữ Hà thành chắc đã nghe Tuấn Vũ nhiều gấp mấy nghìn lần tôi nên lập thành hội mê Tuấn Vũ, bao cho ca sĩ ăn uống, chiều chuộng đi đây đi đó, chỉ cốt được nghe anh hát, âu cũng là thứ phần thưởng dành cho người có giọng hát ngọt ngào. Ai bảo Tuấn Vũ sến chứ tôi chả thấy sến tí nào.