Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn hưng yên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hưng yên. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

Hết thời

Chú phó Trần Đăng Khoa tuyên bố năm nay hội thơ nguyên tiêu Bính Ngọ 2026 không thả thơ bay lên giời nữa. Kể cả thơ "ôm vợ thấy mình giật thót thương thuyền đầu bãi chơ vơ" cũng neo lại.

Vậy là đúng cmnr, hiểu đời, biết thân biết phận (ấy là tôi nói hội văn bút chứ không phải chú phó Khoa).

Không bay lên giời nữa, bởi đã có "Hưng Yên bay lên", không tin cứ hỏi nữ sĩ Vi Thùy Linh.

Đường lên giời chật hẹp
Không thể cùng nhau bay
Hưng Yên đã chiếm chỗ
Thơ chịu lời đắng cay

Nguyễn Thông

(Gió đưa cây cải về trời/Rau răm ở lại chịu lời đắng cay) - Ca dao

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 9, cuối)

Cuốn “Nhãn đầu mùa” viết về cái gì mà đến nỗi hai tác giả Xuân Tùng - Trần Thanh bị đánh lên bờ xuống ruộng? Đọc nó lâu lắm rồi, từ đầu thập niên 60 tới giờ đã hơn 60 năm, tôi không còn nhớ chi tiết nữa, nhưng vẫn mang máng rằng “Nhãn đầu mùa” là chuyện về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Hưng Yên. Nơi này có đội nữ du kích Hoàng Ngân (bà Ngân là cán bộ phụ nữ, bị quân Pháp bắt, quyết không khai, chịu xử bắn. Sau khi bà Ngân mất, đội du kích nữ ở Hưng Yên lấy tên bà đặt cho đội) chiến công lẫy lừng, giặc cũng phải khiếp sợ. Hưng Yên thời Pháp có bà Hoàng Ngân, Hải Dương có bà Mạc Thị Bưởi (giờ ngay trung tâm Sài Gòn, quận 1, nối với đường Đồng Khởi có đường Mạc Thị Bưởi, nghe đâu giá đất chục tỉ mỗi mét vuông), Thái Bình có bà Nguyễn Thị Chiên “tay không bắt giặc”…

Cùng sát cánh chiến đấu với đội nữ Hoàng Ngân là một đơn vị bộ đội vệ quốc, tất nhiên đàn ông. Cứ có đàn ông đàn bà, lại trẻ nữa, là sinh chuyện. Yêu nhau, để ý nhau, hẹn hò, tỏ tình.Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Yêu nhau đâu có tội. Trong chiến tranh, tình yêu thường đẹp đẽ và bi thương. Ông Nguyễn Đình Thi chả viết “Anh yêu em/Và yêu khẩu súng trường trên vai em” là gì. Các tác giả “Nhãn đầu mùa” kể về mối tình như vậy. Nói thật, chuyện của cô du kích Tý với anh bộ đội, chỗ tả mùi mẫn nhất cũng chỉ là cái hôn nhè nhẹ lên… trán, là ôm nhau thấy bộ ngực nóng bỏng phập phồng, rạo rực rạo rực. Chỉ tả bạo đến thế thôi, bọn trẻ bây giờ mà đọc lại chẳng lăn ra cười, tưởng “trái cấm” thế nào, chứ văn chương bây giờ đầy thứ gấp tỉ lần, còn đưa vào cả sách giáo khoa cho trẻ con học nữa, gọi là giáo dục giới tính.

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 8)

Ấy, đã nhắc Hưng Yên thì chớ quên nhãn. "Dừa ngon Bình Định, Vĩnh Long/Thanh trà xứ Huế, nhãn lồng Hưng Yên". Hồi dạy chúng tôi văn học dân gian phần ca dao, thầy Chu Xuân Diên ví dụ câu "Hỡi cô cắt cỏ bên sông/Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây" rồi giải thích kiểu chơi chữ này chắc xuất phát từ vùng Hưng Yên bởi chỉ đất Phố Hiến cũ mới có nhãn lồng.

Nhãn lồng nức tiếng cả nước, nghe thiên hạ nói vậy, chứ ngay cả lúc há hốc mồm nghe thầy Diên giảng, tôi cũng chưa được ăn nhãn lồng bao giờ. Miền Bắc những năm thập niên 60 - 70 là thế, vùng miền có đặc sản, nhưng do chiến tranh, do đi lại khó khăn, nhất là nghèo không có tiền, nên cứ tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu. Trái cây ư, quê tôi quanh đi quẩn lại cũng chỉ quả táo quả ổi quả bòng quả khế, người quê tôi chả bao giờ (trừ số ít chả mấy khi) biết vải thiều Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, cam Xã Đoài, táo Thiện Phiến, hạt dẻ Trùng Khánh... Chúng chỉ xuất hiện trong sách giáo khoa, thơ văn, sách vở, lời kể, nghe bảo ngon thì biết là ngon thôi.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 7)

Như đã kể, công trình đại thủy nông Bắc Hưng Hải được coi là dòng sông nhân tạo lớn nhất miền Bắc suốt mấy chục năm trước khi đất nước thống nhất (1975). Đó là kết quả của ý chí “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “thay trời chuyển đất làm lại giang sơn” mà chính quyền luôn kêu gọi dân thực hiện. Cũng khiếp. Lúc đầu, người ta (nhất là bộ máy tuyên truyền, báo Nhân Dân, đài Tiếng nói VN) gọi nó là kênh, kênh Bắc Hưng Hải, sau thấy phải xứng với quy mô, sự đồ sộ, hoành tráng của nó, gọi lại bằng tên kiểu Tàu, thành “đại thủy nông Bắc Hưng Hải”, còn dân thì cứ giản dị “sông đào”, “kênh Bắc Hưng Hải”.

Lúc còn bé, tôi chỉ biết nó qua bài học lớp 3 “Đại thủy nông Bắc Hưng Hải”, nhưng anh tôi đọc nhiều biết nhiều bảo rằng nó là dòng sông nhân tạo lớn thứ nhì từ trước tới nay tại Việt Nam. Thứ nhất là kênh/kinh Vĩnh Tế ở miền Nam thời nhà Nguyễn. Kênh này do ông quan trấn thủ Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu) khởi xướng, chỉ huy dân đào đắp, chạy dài mấy chục cây số, kéo từ An Giang tới tận Kiên Giang, vừa là công trình thủy lợi (cấp nước tưới và thoát lũ lụt, nói ngắn gọn là tưới tiêu) cho đồng ruộng mấy tỉnh, vừa cho giao thông, và nhất là tạo tuyến phòng thủ bảo vệ biên cương, v.v.. Đào xong, ông Thoại xin vua đặt tên kênh. Vua quyết ngay, kênh Vĩnh Tế, tên bà vợ ông Thoại. Công nhận vua thế mới là vua. Vì vậy, nó có tên kênh Vĩnh Tế. Còn dân kính phục, biết ơn ông Thoại thì gọi bằng cả tên kênh Thoại Ngọc Hầu, kênh Nguyễn Văn Thoại. Đều là một. Yêu vợ, trọng vợ, nước nam ta nhất ông Thoại, cụ Tú Mỡ cũng không bằng, mấy anh tôi bảo vậy.

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 6)

Lại nói, hai anh em cứ mải miết đạp xe để làm sao vào được nội thành Hà Nội trước 9 - 10 giờ tối. Ông đạp xe là anh họ, ông có nhà phố Triệu Việt Vương cũng anh họ. Ông này cùng vợ con vẫn bám thủ đô, không đi sơ tán. Gan cóc tía. Phải tới sơm sớm bởi nhà chỉ là nửa căn hộ, chia đôi với một gia đình khác, mỗi nửa độ chừng hơn chục mét vuông. Anh tôi gia đình 5 - 6 người gói ghém trong diện tích chật chội ấy, như cá hộp. Nếu tới muộn quá, cổng vào đầu hẻm bị khóa, họ đi ngủ cả thì hai anh em chỉ có nước ngủ vườn hoa hoặc lề đường. Đang cuối thu, trời đêm rất lạnh. Chưa năm nao mùa thu và mùa đông giá lạnh như năm 1972.

Đi được một đoạn khá dài, trong ánh tà dương, anh tôi chỉ về nơi xa bảo đó là nông trường Tam thiên mẫu. Nghe cái tên thì vận ra ngay, nông trường rộng 3 nghìn mẫu, mà mẫu theo cách gọi mới tức hecta. Rộng kinh. Miền Bắc thời mắt nhắm mắt mở cứ thấy Liên Xô, Trung Quốc có gì thượng vàng hạ cám là học cho bằng chết, bê về thực hành. Phần lớn là cám, kể cả cái có tên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 5)

Ai đã từng từ Hải Phòng lên Hà Nội bằng xe khách Ba Đình những năm thập niên 60 - 70 chắc còn nhớ điều này. Đường số 5 nối 2 thành phố lớn nhất miền Bắc khi ấy được xem như tuyến đường bộ đẹp nhất miền Bắc. Dài 104 cây số, nó chạy qua 3 tỉnh thành Hải Phòng, Hải Hưng (sáp nhập Hải Dương + Hưng Yên) và Hà Nội. Quả thật người Pháp đã xuất sắc về xây dựng đường sá, công trình giao thông, để lại cho xứ này di sản đáng nể, dùng tiếp cả trăm năm.

Suốt bao năm, sau khi Pháp rút về nước, chính quyền mới không chịu thừa nhận điều ấy, thậm chí còn đưa vào sách giáo khoa, vào các cuốn sử quốc doanh rằng nó (Pháp) làm đường sá, cầu cống, nhà ga cũng chả phải tốt đẹp gì, mà chỉ để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, bóc lột vơ vét tài nguyên bản xứ, để thuận tiện chuyên chở nguyên vật liệu về chính quốc. Nó làm cho nó chứ cho gì dân mình. Không ơn huệ chi cả, chỉ có căm thù. Giờ đây, không hiểu những người ngồi trong tòa nhà dinh toàn quyền Đông Dương (nay là phủ chủ tịch nước) hoặc coi biểu diễn ở nhà hát lớn Hà Nội - hai tòa nhà đẹp nhất Đông Nam Á, có còn suy nghĩ vậy không.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2024

Vụn về Hưng Yên (phần 4)

Đầu tháng 10.1972, tôi nhận được giấy báo nhập học. Khoa văn sơ tán tuốt tận ven sông Cầu, nằm rải rác ở hai huyện Yên Phong, Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc, muốn từ huyện này qua huyện kia phải lụy phà Đông Xuyên (nghe đâu giờ đã có cầu Đông Xuyên đẹp lắm). Cái tên tỉnh thực ra chẳng gắn gì với tên 2 tỉnh cũ Bắc Ninh, Bắc Giang nhập lại. Đơn giản nó ở phía bắc Hà Nội nên gọi là Hà Bắc thôi, nghe người nhớn bảo vậy.

Lúc này chiến tranh phá hoại lần 2 của Mỹ ở miền Bắc rất ác liệt. Đường số 5, con đường duy nhất từ Hải Phòng lên Hà Nội (và ngược lại, từ Hà Nội xuống Phòng) bị bom đánh tan nát. Ngày nào cũng bom rơi đạn nổ, nhất là trên 3 cây cầu chiến lược trọng yếu Long Biên, Phú Lương, Lai Vu. Cầu Long Biên được tên lửa và súng cao xạ bảo vệ kỹ lưỡng nên còn, chứ Phú Lương và Lai Vu đã bị đánh sập, phải thay tạm bằng cầu phao. Ở Hải Phòng, mấy cầu Niệm, Rào, Thượng Lý sập hết. Tới đợt 12 ngày đêm tháng 12 thì cả cầu Long Biên cũng bị bom laser cắt đứt luôn.

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 3)

Thời thập niên 70 thế kỷ trước (thêm chữ thế kỷ vào nghe xa xôi quá nhưng thực ra cách nay mới hơn 50 năm), từ Hải Phòng quê tôi lên Hà Nội có 2 cách (2 lối) là đường sắt và đường bộ (đường số 5). Đường sắt, đi riết nhớ tên từng ga, nếu tính từ Hà Nội về Phòng qua các ga Hàng Cỏ, Long Biên, Gia Lâm, Phú Thụy, Như Quỳnh, Lạc Đạo, Cẩm Giàng, Cao Xá, Hải Dương, qua một số ga trên đất Hải Dương nữa thì tới đất Phòng với Dụ Nghĩa, Chợ Hỗ, Vật Cách, Thượng Lý, rồi đích cuối là ga Hải Phòng trên đường Lương Khánh Thiện, đường này từ thời Pháp dân quen gọi phố ga. Trên đất Hưng Yên, tàu hỏa chỉ dừng ở 2 ga Như Quỳnh, Lạc Đạo, mươi phút rồi lại xọc xạch xọc xạch đi, có nhẽ vì thế hiểu biết của tôi về vùng đất nhãn cũng chả được nhiều.

Nhưng bù lại, nếu mua được vé ô tô theo đường bộ số 5 thì ngó nhìn cảnh sắc Hưng Yên cũng khơ khớ. Đường 5 là quốc lộ, con đường to nhất ở miền Bắc lúc ấy, còn hơn cả đường số 1 xuyên Việt khi đó bị chặn lại trên đất Vĩnh Linh, chỗ đầu cầu Hiền Lương bờ bắc sông Bến Hải. Suốt 4 năm rưỡi đại học, mỗi năm đi về ít nhất 2 lần hè và tết, tôi thường chầu chực, xếp hàng mua vé xe khách, hai đầu bến là bến Quần Ngựa (Hải Phòng) và bến Nứa (bến Long Biên, Hà Nội). Giờ nhớ lại cảnh “tham gia giao thông” xe khách thuở ấy, như có dòng ớn lạnh dọc sống lưng, sởn gai ốc, bởi sự kinh hoàng, khốn nạn không thể tả còn hằn trong ký ức.

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2024

Vụn về Hưng Yên (kỳ 2)

Không phải chỉ có các cụ văn nghệ sĩ như Khương Hữu Dụng, Nguyễn Văn Tý, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu nhắc nhỏm về Hưng Yên. Trong thơ văn nhạc miền Bắc thời trước 75 người ta vẫn biết tới Huy Cận với bài “Cô gái Hưng Yên đi mở mang Tây Bắc” (bài này được đưa vào sách Trích giảng văn học, tức sách giáo khoa bây giờ), với Chế Lan Viên chỉ vài câu thoáng qua thôi nhưng khá ấn tượng “Ong bay khu nhà Tỉnh ủy Hưng Yên/Mật đồng bằng mùa nhãn ngọt môi em” (một tay bạn tôi thời lớp 10, anh Vũ Trường Thành, có lần bảo tao mà biết làm thơ ngọt như ông Chế, tao tán thì khối con chết), rồi thơ về chị Phạm Thị Vách “giỏi thay con gái đàn bà mà ghê” chiến sĩ thi đua toàn quốc ngành thủy lợi, sau được phong anh hùng lao động… Hưng Yên tuy “nhỏ nhưng có võ” chứ không nhàn nhạt như nhiều tỉnh miền Bắc.

Thời tôi học cuối cấp 2 (lớp 7) và những năm cấp 3, nhà trường và đoàn thanh niên thường xuyên kêu gọi phải học tập 4 tấm gương, bây giờ gọi là idol: Pavel Corsaghin, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Mã Lương và Vương Đình Cung.

Pavel thì ai cũng biết mà không biết, bởi chỉ nghe người ta tán tụng qua sách, cuốn “sách gối đầu giường” “Thép đã tôi thế đấy”, nhất là cái câu “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận bởi những năm tháng đã sống hoài sống phí” (chả biết ông Thép Mới dịch có thêm câu này vào cho hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam không), vừa rồi có một ông to trích dẫn lại nhưng giấu nguồn khiến thiên hạ khen nức nở sao cụ ấy lập ngôn thấm thía thế.

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2024

Vụn về Hưng Yên

Bây giờ mà nhắc tới Hưng Yên, thiên hạ gọi là “đu trend”, nhưng bài này đã ủ trong ký ức nhà cháu lâu rồi, giờ mới biên ra thôi.

Do nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long nên vùng Hưng Yên, Hải Dương xưa được gọi là xứ đông, tỉnh đông. Tôi nhớ hồi còn bé học cấp 1, hình như lớp 4, được học bài thơ “Nhi đồng Nguyễn Văn Bảo” của cụ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu. Cụ Tú ca ngợi em thiếu nhi tên Bảo người tỉnh đông, “Nguyễn Văn Bảo mới lên mười tuổi/Quê quán em ở dưới tỉnh đông/Em là con một nhà nông/Cha mẹ vất vả sống trong bần hàn/May nhờ có bình dân học vụ/Em Bảo ta cũng đủ học hành/Người lanh lợi trí thông minh/Em là một cậu học sinh hoàn toàn”… Những ai sinh thập niên 50 ở miền Bắc mà có đi học đều thuộc bài này.

Nhà thơ kể em Bảo yêu nước thương nòi, tham gia kháng chiến “trong đoàn thể nhi đồng cứu quốc/Em là tay gân guốc dạ gan/Nhiều phen giúp việc giỏi giang/Cho bộ đội hoặc cho đoàn dân quân”. Rồi “Đến hôm mùng sáu tháng tư/Bỗng đâu giặc Pháp lù lù kéo sang/Qua Kẻ Sặt ngang tàng hung dữ/Khác nào như một lũ sài lang”, em Bảo nhập đội quân du kích, làm giao liên cho bộ đội đánh giặc, rơi vào ổ phục kích, “Bị chúng bắn tứ tung em ngã/Chết thiêng liêng em đã hả lòng/Tuổi thơ chí khí anh hùng/Nêu gương anh dũng nhi đồng Việt Nam”. Đó là người Hưng Yên đầu tiên mà tôi biết qua văn nghệ. (ở đây ghi chú thêm: Kẻ Sặt thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, giáp Hưng Yên. Nơi này có đồn rất lớn của quân Pháp, đánh Hưng Yên cũng kéo từ Kẻ Sặt). Lạ là bây giờ gõ tìm khắp nơi, kể cả Gu gồ cũng không thấy bài này. Nó chỉ còn trong trí nhớ U70, U80, họ về chầu ông bà vải là mất luôn.

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Bạn dân cày

"Thương ôi những bạn dân cày
Chân bùn tay lấm suốt ngày gian lao
Lại còn thuế nặng sưu cao
Được đồng nào đều lọt vào túi Tây"
(Ca dân cày - Hồ Chí Minh)

Nay cách mạng đã thành công rồi, người cày có ruộng rồi, còn vác cờ đi làm cách mạng chi nữa, hỡi bạn dân cày Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên)?

(Ảnh của tác giả Phương Bích, from BoxitVN blog).



11.6.2012
Nguyễn Thông

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Cái giây phút ấy (thơ Thái Kế Toại)

Vài người hỏi mình đã đọc bài thơ của anh Toại chưa, mình bảo rồi. Bạn nói mày lưu lại đi, sau này cần đấy. Vậy thì mình xin chép lại đây bài thơ của anh ấy (tức nhà thơ Lê Hoài Nguyên), tức Thái Kế Toại, vị đại tá của A25.
Bản này được lấy theo blog của bác nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com). Xin cám ơn bác Tạo và anh Toại.

CÁI GIÂY PHÚT ẤY
LÊ HOÀI NGUYÊN


Cái giây phút
Anh nhà báo đàng hoàng bấm ảnh cuộc cưỡng chế
Có thể anh vẫn còn tin
vào sự minh bạch của cầm quyền tỉnh Hưng Yên
(những tên như Nguyễn Khắc Hào).

Cái giây phút
Lũ người mặc sắc phục công an, cảnh phục bảo vệ
Xông vào anh đánh hội đồng
Như một bầy chó dữ.

Có thể chúng ngu xuẩn, mù quáng vì thứ đức tin cũ rích
Có thể chúng đang được giáo dục chó hóa dần
Làm tay sai cho những kẻ lắm tiền
Sẵn sàng nhảy vào cắn xé Nhân dân.

Cái giây phút
Những đòn đánh có nghiệp vụ bài bản
Bằng dùi cui, bằng cả chân tay
Nhằm vào những nhà báo tay không
Cũng đánh vào tôi
Một đồng nghiệp nhà báo
Đã từng quay phim, đã từng viết bài ca ngợi những đồng đội công an hy sinh vì đất nước, vì nhân dân
Một nỗi đau nhục nhã…

Cái giây phút ấy
Vợ con chúng sẽ xấu hổ
Bố mẹ chúng sẽ xấu hổ
Dòng họ chúng sẽ xấu hổ
Cả dân tộc xấu hổ
Rồi một ngày chúng cũng xấu hổ
Khi lịch sử vất lũ chúng ra lề đường.

Cái giây phút đi vào lịch sử của báo chí nhân loại
Không phải của thời trung cổ
Mà là Việt Nam thế kỷ XXI
Đã được ghi lại
Như một vết nhơ…

Tháng nóng 2012