Như đã kể, công trình đại thủy nông Bắc Hưng Hải được coi là dòng sông nhân tạo lớn nhất miền Bắc suốt mấy chục năm trước khi đất nước thống nhất (1975). Đó là kết quả của ý chí “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “thay trời chuyển đất làm lại giang sơn” mà chính quyền luôn kêu gọi dân thực hiện. Cũng khiếp. Lúc đầu, người ta (nhất là bộ máy tuyên truyền, báo Nhân Dân, đài Tiếng nói VN) gọi nó là kênh, kênh Bắc Hưng Hải, sau thấy phải xứng với quy mô, sự đồ sộ, hoành tráng của nó, gọi lại bằng tên kiểu Tàu, thành “đại thủy nông Bắc Hưng Hải”, còn dân thì cứ giản dị “sông đào”, “kênh Bắc Hưng Hải”.
Lúc còn bé, tôi chỉ biết nó qua bài học lớp 3 “Đại thủy nông Bắc Hưng Hải”, nhưng anh tôi đọc nhiều biết nhiều bảo rằng nó là dòng sông nhân tạo lớn thứ nhì từ trước tới nay tại Việt Nam. Thứ nhất là kênh/kinh Vĩnh Tế ở miền Nam thời nhà Nguyễn. Kênh này do ông quan trấn thủ Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu) khởi xướng, chỉ huy dân đào đắp, chạy dài mấy chục cây số, kéo từ An Giang tới tận Kiên Giang, vừa là công trình thủy lợi (cấp nước tưới và thoát lũ lụt, nói ngắn gọn là tưới tiêu) cho đồng ruộng mấy tỉnh, vừa cho giao thông, và nhất là tạo tuyến phòng thủ bảo vệ biên cương, v.v.. Đào xong, ông Thoại xin vua đặt tên kênh. Vua quyết ngay, kênh Vĩnh Tế, tên bà vợ ông Thoại. Công nhận vua thế mới là vua. Vì vậy, nó có tên kênh Vĩnh Tế. Còn dân kính phục, biết ơn ông Thoại thì gọi bằng cả tên kênh Thoại Ngọc Hầu, kênh Nguyễn Văn Thoại. Đều là một. Yêu vợ, trọng vợ, nước nam ta nhất ông Thoại, cụ Tú Mỡ cũng không bằng, mấy anh tôi bảo vậy.