Làng Trà Phương (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng) quê tôi thuần nông, dân làng chỉ tinh những nông dân cày cuốc chăm chỉ việc ruộng đồng, không có ai làm quan to, tướng lĩnh, nghệ sĩ này nọ. Nghe người ta ca ngợi “Bắc Hà Hành Thiện, Hoan Diễn Quỳnh Đôi” (nói về những làng quê nổi tiếng xứ này, làng Hành Thiện (Nam Định) ở miền Bắc, làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) ở miền Trung có nhiều danh nhân), hoặc làng Cổ Am bên huyện Vĩnh Bảo ngay quê Phòng mình, nhiều lúc cũng hơi ngậm ngùi, làng mình chả có gì. Ấy là mặc cảm thoáng chốc thế thôi, chứ yêu làng lắm. Làng mình dù nghèo, chẳng mấy ai biết nhưng “không phải dạng vừa đâu”, tại thiên hạ không tường tận đấy thôi.
Lớn lên trong chốn làng quê, sống với những người bình dị chân đất quê mình, mãi tới khi “thoát ly”, đi học xa tận thủ đô, rồi tốt nghiệp vào làm công cho nhà nước tận Sài Gòn, tôi mới ngẫm rằng làng Trà đã thành một phần không thể thiếu trong tình cảm, suy nghĩ của mình. Thứ ký ức tày tặn, chặt chẽ lâu lâu lại trồi lên, nhất là những khi chiều mưa ngồi miết trong nhà như thế này.
Ông em rể tôi, người bỏ ra khá nhiều công phu tìm hiểu về làng Trà, coi cái thế đất của làng rồi bảo, anh ạ quê mình vùng trũng, lưng tựa núi Chè, trông ra đầm bãi, có khoảnh ruộng đất hình gương lược, chỉ sinh ra đàn bà con gái đẹp thôi, chứ không phải đất phát tích quan. Mà thế thật. Con gái làng Trà ngày xưa đẹp nổi tiếng, tới mức thành điển tích “Trà Phương công chúa”. Tuy nhiên, sự học hành thì cũng bình thường, ít người đậu đạt cao, phần lớn làng nhàng, “hàm, vị” chủ yếu tú tài, cử nhân thời mới, còn “phẩm” đạt tới công nhân viên chức là quá lắm rồi. To như ông Trần Văn Sỹ xóm trong làm tới vụ phó hơi bị hiếm. Chiến tranh suốt bao năm, hết lớp này tới lớp khác lên đường ra trận, chẳng có ai tướng lĩnh, chỉ liệt sĩ là nhiều. Làng Trà tới năm 1975 khoảng hơn 1.500 khẩu nhưng có tới gần trăm liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ và đánh quân Tàu. Coi tấm bia đá khắc danh sách liệt sĩ đặt bệ vệ trong nghĩa trang liệt sĩ mới, thấy cả tên cậu em họ, Ngô Duy Lại, nhập ngũ tháng 1.1978, hy sinh năm 1979, ngày 6.3. Tức là bọn Trung Quốc gây chiến ngày 17.2, thì chỉ hơn nửa tháng sau Lại hy sinh. Hồi còn nhỏ chúng tôi chơi với nhau, cứ chế thằng Lại thò lò mũi xanh. Ngay cái khuôn mặt và nụ cười của Lại, bặt nhau kể từ năm 1972 tới giờ, vậy mà còn nhớ như in, chỉ tiếc mình không có khả năng truyền thần mà họa lại những khuôn mặt xưa, cứ chập chờn chập chờn trong ký ức.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện làng quê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyện làng quê. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019
Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018
Những vị tướng làng tôi
Nhà nước đang lôi một loạt tướng lĩnh cao cấp, có cả thượng tướng, trung tướng, ném vào lò chống tham nhũng. Leo lên đến tướng mà còn hư hỏng, thật quá thể. Sực nhớ về những vị “tướng” của làng.
Làng tôi là làng (thôn) Trà Phương thuộc xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng. Xã có 3 thôn làng, hai thôn kia là Quế Lâm và Phương Đôi, thôn Trà Phương nằm chính giữa, hai bạn kẹp hai bên. Hầu như mọi trụ sở của “bộ máy trung ương xã” như ủy ban, trường học, trạm xá, nhà văn hóa… đều đặt tại làng Trà. Ngày xưa giữa làng còn có cái đình rất to, nghe kể dựng từ thời nhà Mạc, được tu sửa thời nhà Nguyễn, hàng chục cột lim cả vòng tay người ôm, hành lang bao quanh bằng đá xanh núi Nhồi (Thanh Hóa) mỗi tảng nặng vài tấn, nhưng hồi năm 1964 bị hợp tác xã dỡ lấy gỗ đá xây trại chăn nuôi. Nơi đặt cái đình chính là trung tâm của xã, nay trường cấp 2 ngự trên nền đó.
Làng tôi từng được nhà nước thời Pháp thuộc cuối thế kỷ 19 chọn làm nơi đặt phủ Kiến Thụy với tòa thành phủ rất hoành tráng. Vị thế đắc địa, rất đẹp, trên bến dưới thuyền. Năm 1945 nổ ra cách mạng, phủ Kiến Thụy bị quân cách mạng đánh chiếm, sau đó bỏ hoang, qua thời kháng chiến 9 năm cứ hoang hóa tàn tạ đổ nát dần. Hồi tôi trẻ con, thấy tòa thành cũ bằng đất vẫn cao ngất mấy mét, chân rộng cả chục mét, giống như con trăn khổng lồ. Người dân tự động san lấp, phá từng đoạn trồng sắn, trồng tre, làm nhà ở trên mặt thành, còn hợp tác xã thì chọn những chỗ thuận tiện nhất xây trại chăn nuôi, làm lò gạch. Cứ việc cuốc đất thành phủ ra mà trộn đều đóng gạch bỏ vào lò nung, chẳng cần đào bới gì sất. Sau những buổi đi học, tôi thường mò ra thành phủ kiếm củi, đánh trận giả, lội xuống đầm Phương Đôi phía sau thành đánh dậm kiếm mớ tôm tép, có hôm tối mịt mới về.
Làng tôi là làng (thôn) Trà Phương thuộc xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng. Xã có 3 thôn làng, hai thôn kia là Quế Lâm và Phương Đôi, thôn Trà Phương nằm chính giữa, hai bạn kẹp hai bên. Hầu như mọi trụ sở của “bộ máy trung ương xã” như ủy ban, trường học, trạm xá, nhà văn hóa… đều đặt tại làng Trà. Ngày xưa giữa làng còn có cái đình rất to, nghe kể dựng từ thời nhà Mạc, được tu sửa thời nhà Nguyễn, hàng chục cột lim cả vòng tay người ôm, hành lang bao quanh bằng đá xanh núi Nhồi (Thanh Hóa) mỗi tảng nặng vài tấn, nhưng hồi năm 1964 bị hợp tác xã dỡ lấy gỗ đá xây trại chăn nuôi. Nơi đặt cái đình chính là trung tâm của xã, nay trường cấp 2 ngự trên nền đó.
Làng tôi từng được nhà nước thời Pháp thuộc cuối thế kỷ 19 chọn làm nơi đặt phủ Kiến Thụy với tòa thành phủ rất hoành tráng. Vị thế đắc địa, rất đẹp, trên bến dưới thuyền. Năm 1945 nổ ra cách mạng, phủ Kiến Thụy bị quân cách mạng đánh chiếm, sau đó bỏ hoang, qua thời kháng chiến 9 năm cứ hoang hóa tàn tạ đổ nát dần. Hồi tôi trẻ con, thấy tòa thành cũ bằng đất vẫn cao ngất mấy mét, chân rộng cả chục mét, giống như con trăn khổng lồ. Người dân tự động san lấp, phá từng đoạn trồng sắn, trồng tre, làm nhà ở trên mặt thành, còn hợp tác xã thì chọn những chỗ thuận tiện nhất xây trại chăn nuôi, làm lò gạch. Cứ việc cuốc đất thành phủ ra mà trộn đều đóng gạch bỏ vào lò nung, chẳng cần đào bới gì sất. Sau những buổi đi học, tôi thường mò ra thành phủ kiếm củi, đánh trận giả, lội xuống đầm Phương Đôi phía sau thành đánh dậm kiếm mớ tôm tép, có hôm tối mịt mới về.
Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017
Chuyện vặt thời đã qua (kỳ 3)
Hai lần trước tôi đã lẩn mẩn nhớ và biên lại những chuyện vặt còn nằm trong ký ức, gắn liền với tuổi thơ vất vả thiếu thốn nghèo đói của mình. Những việc vặt như châm dầu vào đèn, lau bóng đèn, rút rơm đem vào bếp để nấu ăn hoặc đưa ra chuồng cho trâu ăn đêm… thời ấy đứa trẻ nông thôn nào chả phải làm. Thời ấy tức là những năm 60 ở miền Bắc, còn nông thôn là vùng duyên hải Hải Phòng.
Tiếng là gần thành phố nhưng huyện Kiến Thụy quê tôi hồi đó nghèo lắm. Nghèo đến mức người nhớn lẫn trẻ con chỉ lo làm lụng chứ chả bao giờ dám nghĩ đến chuyện ăn mặc tươm tất một tí kéo nhau ra phố chơi. Mà nếu đi thì cũng cuốc bộ chứ chẳng có xe đạp. Vậy nên chỉ quanh quẩn làng trên xóm dưới, đồng xa đồng gần. Sáng (hoặc chiều) đến trường học, thì giờ còn lại thì đập nương, tát nước, nhổ mạ, cắt rạ, tỉa đỗ, đánh nhậy thuốc lào, đập lúa, phơi rơm, chăn trâu, đi câu, đánh dậm, băm rau lợn, quét sân, học bài… ôi giời trăm thứ việc. Thế mà vẫn còn thời gian để đánh trận giả.
Giờ nghĩ lại thấy hồi đó gớm thật. Mấy trò đánh khăng, đánh đáo, bật tường, nhảy chồng nụ chồng hoa, thả đỉa ba ba chơi mãi cũng chán. Chỉ có đánh trận giả là khoái nhất. Không biết ông bà nào nghĩ ra cái trò này, nhưng có lẽ tại dân mình máu, thích đánh nhau, thích chiến tranh nên trẻ con từ bé tí đã ham đánh trận. Đánh nhau sớm cho nó quen trận mạc, để 17 tuổi còn đi bộ đội, đi B, cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù. Đứa nào cũng được dạy như vậy.
Tiếng là gần thành phố nhưng huyện Kiến Thụy quê tôi hồi đó nghèo lắm. Nghèo đến mức người nhớn lẫn trẻ con chỉ lo làm lụng chứ chả bao giờ dám nghĩ đến chuyện ăn mặc tươm tất một tí kéo nhau ra phố chơi. Mà nếu đi thì cũng cuốc bộ chứ chẳng có xe đạp. Vậy nên chỉ quanh quẩn làng trên xóm dưới, đồng xa đồng gần. Sáng (hoặc chiều) đến trường học, thì giờ còn lại thì đập nương, tát nước, nhổ mạ, cắt rạ, tỉa đỗ, đánh nhậy thuốc lào, đập lúa, phơi rơm, chăn trâu, đi câu, đánh dậm, băm rau lợn, quét sân, học bài… ôi giời trăm thứ việc. Thế mà vẫn còn thời gian để đánh trận giả.
Giờ nghĩ lại thấy hồi đó gớm thật. Mấy trò đánh khăng, đánh đáo, bật tường, nhảy chồng nụ chồng hoa, thả đỉa ba ba chơi mãi cũng chán. Chỉ có đánh trận giả là khoái nhất. Không biết ông bà nào nghĩ ra cái trò này, nhưng có lẽ tại dân mình máu, thích đánh nhau, thích chiến tranh nên trẻ con từ bé tí đã ham đánh trận. Đánh nhau sớm cho nó quen trận mạc, để 17 tuổi còn đi bộ đội, đi B, cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù. Đứa nào cũng được dạy như vậy.
Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017
Chuyện vặt thời đã qua (phần 2)
Bây giờ, ở cả thành thị lẫn nông thôn người ta đã quen với sinh hoạt ăn uống 3 bữa. Sáng bữa phụ, trưa và chiều tối bữa chính. Nhưng hồi tôi còn bé, cho đến hết những năm 60, ở nhà quê (miền Bắc, vùng Hải Phòng quê tôi) chỉ ăn 2 bữa thôi. Bữa sáng vào lúc 5 rưỡi hoặc 6 giờ, bữa chiều tầm 12 giờ rưỡi hoặc 1 giờ chiều.
Buổi sáng ngủ dậy, đánh răng rửa mặt xong, cả nhà xúm vào mâm cơm. Thường thì mùa hè cũng như mùa đông, thày bu tôi hoặc chị tôi dậy từ sớm tờ mờ nấu nướng. Sau này tôi hỏi thày, sao mình không bắt chước dân thành phố ăn vào tầm trưa cho nó văn minh, đỡ vất vả, thày tôi cười, họ có thứ để ăn sáng nên họ mới ăn vào buổi trưa, còn nông dân sáng mà bụng đói thì chả hơi sức đâu cày bừa, gồng gánh. Phải chắc dạ mới làm được việc nặng. Nghe cũng có lý.
Người lớn sau buổi làm đồng sáng, trẻ con sau buổi học sáng thì lại được ăn bữa cơm chiều. Rồi lại ra đồng, lại đi học. Tới tối, nếu nhà nào có củ khoai củ sắn luộc, hay còn chút cơm nguội (mà cơm nguội thì rất hiếm) chia nhau lót dạ, chờ đến bữa sáng mai. Nhiều lúc ngẫm nghĩ, vị nào dùng chữ “lót dạ” đầu tiên quả là giỏi. Ăn mà có cảm giác chưa hề ăn, lót vào trong dạ một lớp dinh dưỡng mỏng mòng mong, suốt đêm cứ có cảm giác chống chếnh thế nào ấy. Lại khổ nỗi, khoai lang là chúa gây cồn cào nhãi ruột, nhưng không nuốt nó chắc sẽ cồn cào hơn. Những nhà vườn rộng trồng gài thêm củ dong riềng, mình tinh, sắn dây, lâu lâu bới một rổ luộc ăn cũng đỡ phết. Thích nhất có hôm chị tôi hoặc bu tôi chịu khó làm món khoai khô bung nấu nhừ với đỗ đen, thêm tí đường vàng vào, cả nhà cứ vui như tết.
Buổi tối không phải lo chuyện ăn uống, không mất thời gian vào bữa ăn nên tuy đói, bù lại có nhiều thời gian làm việc khác. Mà quả thật sao hồi ấy lắm việc vặt vãnh thế. Chuyện lau bóng đèn dầu hỏa tôi đã kể rồi, nay kể tiếp những điều vớ vẩn khác.
Buổi sáng ngủ dậy, đánh răng rửa mặt xong, cả nhà xúm vào mâm cơm. Thường thì mùa hè cũng như mùa đông, thày bu tôi hoặc chị tôi dậy từ sớm tờ mờ nấu nướng. Sau này tôi hỏi thày, sao mình không bắt chước dân thành phố ăn vào tầm trưa cho nó văn minh, đỡ vất vả, thày tôi cười, họ có thứ để ăn sáng nên họ mới ăn vào buổi trưa, còn nông dân sáng mà bụng đói thì chả hơi sức đâu cày bừa, gồng gánh. Phải chắc dạ mới làm được việc nặng. Nghe cũng có lý.
Người lớn sau buổi làm đồng sáng, trẻ con sau buổi học sáng thì lại được ăn bữa cơm chiều. Rồi lại ra đồng, lại đi học. Tới tối, nếu nhà nào có củ khoai củ sắn luộc, hay còn chút cơm nguội (mà cơm nguội thì rất hiếm) chia nhau lót dạ, chờ đến bữa sáng mai. Nhiều lúc ngẫm nghĩ, vị nào dùng chữ “lót dạ” đầu tiên quả là giỏi. Ăn mà có cảm giác chưa hề ăn, lót vào trong dạ một lớp dinh dưỡng mỏng mòng mong, suốt đêm cứ có cảm giác chống chếnh thế nào ấy. Lại khổ nỗi, khoai lang là chúa gây cồn cào nhãi ruột, nhưng không nuốt nó chắc sẽ cồn cào hơn. Những nhà vườn rộng trồng gài thêm củ dong riềng, mình tinh, sắn dây, lâu lâu bới một rổ luộc ăn cũng đỡ phết. Thích nhất có hôm chị tôi hoặc bu tôi chịu khó làm món khoai khô bung nấu nhừ với đỗ đen, thêm tí đường vàng vào, cả nhà cứ vui như tết.
Buổi tối không phải lo chuyện ăn uống, không mất thời gian vào bữa ăn nên tuy đói, bù lại có nhiều thời gian làm việc khác. Mà quả thật sao hồi ấy lắm việc vặt vãnh thế. Chuyện lau bóng đèn dầu hỏa tôi đã kể rồi, nay kể tiếp những điều vớ vẩn khác.
Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2017
Hoa đào
Gần 4 chục năm sống phận tha hương, mỗi khi nhớ về đất Bắc,
nếu không kể nỗi nhớ con người, tôi chỉ nhớ nhất hoa đào.
Cũng chả hẳn riêng hoa đào. Nhiều lúc cồn cào nhớ mùa đông bởi
trong này nóng quanh năm, chẳng biết mùa đông bao giờ. Dù có nhiều kỷ niệm về
mùa đông, nhưng mùa đông thường gợi lại cảm giác kinh hoàng, rét mướt, đói
rách, vất vả… nên tuy nhớ, bồi hồi thật đấy mà vẫn kinh kinh. Còn hoa đào lại
khác, trong trẻo, êm đềm, gợi bâng khuâng, xao xuyến, cứ chập chờn như thực như
mơ, lúc xa lúc gần. Hoa đào là vẻ đẹp của đất Bắc nhiều sương gió, lạnh lùng.
Từ bé đến nhớn 17 tuổi, tôi chỉ quanh quẩn nơi xóm làng, chẳng
mấy khi được đi xa. Làng Trà Phương (Hải Phòng) quê tôi nằm ngay chân núi Trà, còn gọi là
núi Chè, làng nhỏ bé, chật chội, sức trai đi một mạch hết từ đầu làng tới cuối
làng, vẫn chưa phải thở dốc, chưa đổ mồ hôi. Người làng hiền lành, từng họ tộc quây
quần với nhau thành nhóm chục hoặc hơn chục hộ, đến giờ sau gần nửa thế kỷ xa
quê (kể cả thời đi học), tôi vẫn nhớ như in chỗ quần cư của họ Nguyễn, họ Vũ, họ
Ngô, họ Đặng, họ Đỗ, họ Phạm; nhớ hồi ấy xóm Núi có những nhà nào, xóm Thành phủ
có nhà nào, lối đi làm sao; nhớ những nhà ai xây tường bằng đá núi, nhà ai lợp
ngói (hiếm lắm), nhớ những khoảnh vườn của từng nhà rào giậu ra sao. Nhiều lúc
thấy khiếp cho bộ não, nó chứa thứ trí nhớ bền bỉ vậy, nó lèn đầy hình ảnh, chi
tiết, nó không chịu xóa bớt đi để nhường chỗ cho cái mới, mà sao chả nổ tung
lên nhỉ. Thứ nồi áp suất này, phải tháo van xả bớt ra bằng những cuộc gõ bàn
phím tái hiện ký ức, âu cũng là cách giữ cho đầu mình được an toàn vậy.
Trong đám trí nhớ đó, hiện lên những sắc hoa đào. Hầu như
nhà nào, dù vườn rộng hay hẹp, cũng trồng một hoặc vài cây đào. Dường như tôi
thấy chỉ có nhà cụ Đẹn nghèo nhất làng là không trồng đào. Mảnh vườn trước sân
nhà cụ chỉ trồng khoai lang quanh năm, ngoài ra chả có thứ cây ăn quả nào. Có lẽ,
với vợ chồng cụ và các con cụ, khoai cần hơn tất cả, bởi ổi hay táo hay hoa đào
đều không cứu được đói.
Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016
Chuyện nước mắm (phần 3)
Không có mắm không phải bởi vì dân không có mắm. Bác nhà thơ Phạm Tiến Duật dưới âm ti mà nghe được câu này chắc gật đầu công nhận. Thôi thì hàng hóa hiếm hoi, bao nhiêu của ngon vật lạ nhà nước thu nắm hết, mắm chai chỉ dành cho cán bộ và dân thành thị, nên nông dân đành tự cấp tự túc như thuở kháng chiến. Chả cần mắm chai Cát Hải loại 3, những nhà nghèo ở quê, nghèo mấy đi chăng nữa, luôn có vại mắm cáy hoặc mắm còng. Nhà nào khá giả, dư dật hơn thì thêm những hũ mắm tôm, mắm tép. Tất cả đều tự làm, đúng tinh thần tự lực cánh sinh. Sau này, năm 1966, khi cụ Hồ ban cho thế nhân câu nói nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” thì dân gian cũng lập tức biến tấu ngay thành “Không có gì quý hơn độc lập tự lo”. Trông vào nhà nước có mà rã họng.
Cần phân biệt cái vại với cái chum. Cùng làm bằng đất sét nung già, gọi là sành, nhưng cái vại thì nhỏ và thẳng, cao cỡ hơn 55-60 phân, đường kính 40-45 phân, đựng mắm hoặc để muối dưa cải, nén cà… Còn chum có cái lớn cái nhỏ, lưng cong, đít chum và miệng chum thắt lại, giữa phình to ra. Có chum to đến mức đổ vào đó vài tạ thóc, hoặc đựng nước mưa ăn cả tuần. Chum là một thứ tài sản không phải nhà nông dân nào cũng có. Thày bu tôi, suốt mấy chục năm làm ruộng, chỉ sắm được 2 cái chum đựng thóc, cất kỹ trong buồng. Thóc phơi thật nỏ, đổ vào chum để cả năm chả sao. Lại nhớ hồi tôi ở nhà tập thể tại quận 5 Sài Gòn, dạo năm 1980 trở về sau hay bị cúp nước bèn xuống phố sành sứ đầu đường Nguyễn Chí Thanh mua cái chum 200 lít để chứa. Mấy thầy trò khệ nệ khênh lên tận tầng 5. Đến khi chuyển nhà năm 2000 không dùng nữa, cho chả ai lấy, bỏ thì thương vương thì tội, không hơi sức đâu đem xuống đất, bèn bỏ ngoài hành lang, viết chữ rõ to dán vào: “Chum tốt, ai lấy cũng được, miễn phí”. Thế mà mấy tháng giời mới có người khuân đi. Có lẽ đối với tôi đấy là ví dụ rõ nhất về mức sống đi lên.
Để làm mắm, dân quê tôi chỉ dùng vại sành. Bu tôi xuống mạn Bàng La, Đồ Sơn (Hải Phòng) mua cáy mua còng. Con cáy thuộc họ cua nhưng chỉ to hơn 2 đốt ngón tay, sống trong bãi ven biển, chân nó nhiều lông mịn nên dính đầy đất, rửa sạch bọn này mệt lắm, rất tốn nước. Bọn còng thì nhỏ hơn nhưng sạch, có 2 cái còng to màu đỏ, nhiều khi còng cái (còng lớn) còn to hơn cả thân nó. Người ta chỉ làm mắm cáy mắm còng mà không làm mắm rốc, mắm rạm bởi 2 con rạm rốc này sống ở nước ngọt, tanh lắm, chỉ để nấu chín, không ăn sống được.
Cần phân biệt cái vại với cái chum. Cùng làm bằng đất sét nung già, gọi là sành, nhưng cái vại thì nhỏ và thẳng, cao cỡ hơn 55-60 phân, đường kính 40-45 phân, đựng mắm hoặc để muối dưa cải, nén cà… Còn chum có cái lớn cái nhỏ, lưng cong, đít chum và miệng chum thắt lại, giữa phình to ra. Có chum to đến mức đổ vào đó vài tạ thóc, hoặc đựng nước mưa ăn cả tuần. Chum là một thứ tài sản không phải nhà nông dân nào cũng có. Thày bu tôi, suốt mấy chục năm làm ruộng, chỉ sắm được 2 cái chum đựng thóc, cất kỹ trong buồng. Thóc phơi thật nỏ, đổ vào chum để cả năm chả sao. Lại nhớ hồi tôi ở nhà tập thể tại quận 5 Sài Gòn, dạo năm 1980 trở về sau hay bị cúp nước bèn xuống phố sành sứ đầu đường Nguyễn Chí Thanh mua cái chum 200 lít để chứa. Mấy thầy trò khệ nệ khênh lên tận tầng 5. Đến khi chuyển nhà năm 2000 không dùng nữa, cho chả ai lấy, bỏ thì thương vương thì tội, không hơi sức đâu đem xuống đất, bèn bỏ ngoài hành lang, viết chữ rõ to dán vào: “Chum tốt, ai lấy cũng được, miễn phí”. Thế mà mấy tháng giời mới có người khuân đi. Có lẽ đối với tôi đấy là ví dụ rõ nhất về mức sống đi lên.
Để làm mắm, dân quê tôi chỉ dùng vại sành. Bu tôi xuống mạn Bàng La, Đồ Sơn (Hải Phòng) mua cáy mua còng. Con cáy thuộc họ cua nhưng chỉ to hơn 2 đốt ngón tay, sống trong bãi ven biển, chân nó nhiều lông mịn nên dính đầy đất, rửa sạch bọn này mệt lắm, rất tốn nước. Bọn còng thì nhỏ hơn nhưng sạch, có 2 cái còng to màu đỏ, nhiều khi còng cái (còng lớn) còn to hơn cả thân nó. Người ta chỉ làm mắm cáy mắm còng mà không làm mắm rốc, mắm rạm bởi 2 con rạm rốc này sống ở nước ngọt, tanh lắm, chỉ để nấu chín, không ăn sống được.
Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2016
Chuyện nước mắm (phần 1)
Bây giờ tự dưng lôi chuyện mắm miếc ra dễ bị thiên hạ mắng là ăn theo, cơ hội. Nhưng quả thật ý định viết về mắm của tôi chả dính dáng gì đến cái kết luận bậy bạ thạch tín (arsenic) trong nước mắm mà Vinastas công bố, nó đang bốc mùi, không phải mùi mắm mà là mùi tiền. Kệ, đường ai nấy đi.
Quê tôi huyện Kiến Thụy vùng duyên hải Hải Phòng nhưng nhà tôi tụt hẳn vào trong đất liền chứ không gần biển. Từ nhà theo đường chim bay tới biển phải gần chục cây số, đi lòng vòng theo mấy đường liên xã thì dài hơn, khoảng mười sáu mười bảy cây. Chính vì vậy, nhà chỉ cách biển Đồ Sơn có chừng ấy nhưng mãi ngoài 20 tuổi tôi mới được thò chân xuống biển. Hồi những năm 60-70 sự đi lại khó khăn, xe đạp chả có, chủ yếu lội bộ, vả lại việc đồng áng làm cả ngày đêm không bao giờ hết, ai mà nghĩ đến chuyện đi chơi tắm biển bao giờ.
Không biết biển nhưng biết mắm. Từ bé tí. Bu tôi là người đàn bà tháo vát, giỏi giang. Có nhẽ một phần thương người chồng vướng chút chữ nghĩa, bạch diện thư sinh, vụng về việc nhà nông nên bu tôi gánh tất. Hồi con gái bu ra Phòng làm công nhân thảm len, khi về quê lấy chồng rồi thì chỉ làm ruộng. Nhưng ruộng đất khó nuôi người, bu tôi tranh thủ buôn bán kiếm đồng ra đồng vào. Có bà bạn ở mạn Bàng La - Đồ Sơn rủ đi buôn mắm, bà bảo không giàu nhưng sống được, thế là dính nghề. Tôi nhớn lên trong sự buôn mắm của bu tôi. Sau này nhà nước không cho buôn bán tư nhân nữa, cấm tiệt, bởi làm ăn cá thể không phù hợp với con đường lớn đi lên chủ nghĩa xã hội, tư thương là buôn gian bán lận, tất cả phải quy vào thương nghiệp quốc doanh, vả lại đã vào hợp tác xã nông nghiệp việc đồng áng quá bận nên nghề “thương nghiệp mắm tư nhân” của bu tôi đành dẹp.
Quê tôi huyện Kiến Thụy vùng duyên hải Hải Phòng nhưng nhà tôi tụt hẳn vào trong đất liền chứ không gần biển. Từ nhà theo đường chim bay tới biển phải gần chục cây số, đi lòng vòng theo mấy đường liên xã thì dài hơn, khoảng mười sáu mười bảy cây. Chính vì vậy, nhà chỉ cách biển Đồ Sơn có chừng ấy nhưng mãi ngoài 20 tuổi tôi mới được thò chân xuống biển. Hồi những năm 60-70 sự đi lại khó khăn, xe đạp chả có, chủ yếu lội bộ, vả lại việc đồng áng làm cả ngày đêm không bao giờ hết, ai mà nghĩ đến chuyện đi chơi tắm biển bao giờ.
Không biết biển nhưng biết mắm. Từ bé tí. Bu tôi là người đàn bà tháo vát, giỏi giang. Có nhẽ một phần thương người chồng vướng chút chữ nghĩa, bạch diện thư sinh, vụng về việc nhà nông nên bu tôi gánh tất. Hồi con gái bu ra Phòng làm công nhân thảm len, khi về quê lấy chồng rồi thì chỉ làm ruộng. Nhưng ruộng đất khó nuôi người, bu tôi tranh thủ buôn bán kiếm đồng ra đồng vào. Có bà bạn ở mạn Bàng La - Đồ Sơn rủ đi buôn mắm, bà bảo không giàu nhưng sống được, thế là dính nghề. Tôi nhớn lên trong sự buôn mắm của bu tôi. Sau này nhà nước không cho buôn bán tư nhân nữa, cấm tiệt, bởi làm ăn cá thể không phù hợp với con đường lớn đi lên chủ nghĩa xã hội, tư thương là buôn gian bán lận, tất cả phải quy vào thương nghiệp quốc doanh, vả lại đã vào hợp tác xã nông nghiệp việc đồng áng quá bận nên nghề “thương nghiệp mắm tư nhân” của bu tôi đành dẹp.
Về sau, những lúc nông nhàn, thỉnh thoảng bu tôi vẫn xuống chơi với bà Tuất, bà bạn dưới Bàng La. Bà cũng lên nhà tôi. Mấy chị em tôi rất quý bà. Bà đẹp phúc hậu, chuyên vấn khăn mỏ quạ, răng đen nhánh, hầu như lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Một trong những người con của bà là anh Quang Mên. Thời ấy có thể ví anh Mên là thi sĩ duy nhất của huyện Kiến Thụy, anh công tác ở Phòng Văn hóa huyện, hay làm thơ, nhiều bài viết về quê hương rất tình cảm, thường được đọc trên đài truyền thanh huyện. Tôi nhớ anh có bài thơ viết về núi Đối và sông Đa Độ sơn thủy hữu tình, thắng cảnh của huyện, có câu “Ta lại về đây núi Đối ơi/Sông xanh như ngọc mến yêu người/Những chiếc thuyền câu như chiếc lá/Về đâu xa tít tận chân trời”. Cứ nhớ đến anh Mên có cái bớt nhỏ trên thái dương lại nhớ ngay đến bài thơ ấy, lại nhớ bu tôi, bà Tuất, nhớ những ngày đã qua man mác buồn vui.
Bu tôi buôn mắm cũng đơn giản, một chiếc đòn gánh, đôi quang mây, hai chiếc sọt dày hoặc thúng. Sáng sớm bu dậy quang thúng lội bộ xuống Bàng La, ra bờ biển mua cáy, còng, tôm tép, cá... đem về rửa sạch, ướp muối; hoặc có khi mua hẳn nước mắm, mắm cá, mắm tôm, mắm tép người ta đã làm sẵn, đem về bán tại chợ huyện hoặc các chợ trong vùng. Cứ đi bộ mỗi ngày mấy chục cây số, đòn gánh trên vai, quang thúng hai bên, quần áo lúc nào cũng ám mùi mắm, vậy mà bu tôi nuôi được cả nhà, ông chồng vụng về cày cấy, đám con nhỏ lít nhít 4 đứa trong những năm đói kém, khốn khó. Gánh mắm giúp bu tôi còn dành dụm được ít tiền mua vài sào đất để trồng rau dưa, thuốc lào, sau bị hợp tác xã công hữu hóa chiếm mất. Chút đỉnh lãi còn lại để trang trải cho con cái đi học, bù vào phần thiếu hụt buổi mới nhập hợp tác. Không có gánh mắm đó, chẳng biết đời chúng tôi sẽ đi đến đâu. (còn tiếp)
Nguyễn Thông
Bu tôi buôn mắm cũng đơn giản, một chiếc đòn gánh, đôi quang mây, hai chiếc sọt dày hoặc thúng. Sáng sớm bu dậy quang thúng lội bộ xuống Bàng La, ra bờ biển mua cáy, còng, tôm tép, cá... đem về rửa sạch, ướp muối; hoặc có khi mua hẳn nước mắm, mắm cá, mắm tôm, mắm tép người ta đã làm sẵn, đem về bán tại chợ huyện hoặc các chợ trong vùng. Cứ đi bộ mỗi ngày mấy chục cây số, đòn gánh trên vai, quang thúng hai bên, quần áo lúc nào cũng ám mùi mắm, vậy mà bu tôi nuôi được cả nhà, ông chồng vụng về cày cấy, đám con nhỏ lít nhít 4 đứa trong những năm đói kém, khốn khó. Gánh mắm giúp bu tôi còn dành dụm được ít tiền mua vài sào đất để trồng rau dưa, thuốc lào, sau bị hợp tác xã công hữu hóa chiếm mất. Chút đỉnh lãi còn lại để trang trải cho con cái đi học, bù vào phần thiếu hụt buổi mới nhập hợp tác. Không có gánh mắm đó, chẳng biết đời chúng tôi sẽ đi đến đâu. (còn tiếp)
Nguyễn Thông
Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016
Chuyện cắt tóc
Con người ta ở trên đời ai cũng có tóc. Mới sinh ra đã mọc tóc, mà thường thì tóc xuất hiện trước nhất, chứng kiến cuộc đời sớm nhất, sau đó mới là mắt mũi tay chân lúc đứa bé chui khỏi bụng mẹ.
Dân gian nói nhiều về tóc. Khi cần so sánh sự nhỏ bé, có câu “nhỏ như sợi tóc”; trừng phạt đúng người đúng tội thì nói “túm anh có tóc chứ ai túm anh trọc đầu”, đề cao cái tưởng như nhỏ bé tầm thường thì bảo “cái răng cái tóc là góc con người”…
Có tóc thì phải cắt tóc. Đàn ông cắt nhiều hơn đàn bà bởi đàn bà theo đặc điểm tập tính giới tính hay nuôi tóc. Có bà có chị tóc dài cả mét, chấm đất. Nhà văn Nguyễn Tuân tả mái tóc chị Hoài đẹp như một di sản thiên nhiên thế giới. Hồi xưa, nhiều cô gái tóc xấu, ngắn, xơ xác, thưa, rụng, không đen… còn không dám ra đường. Có những chị tóc xấu thậm chí không lấy được chồng.
Bu tôi (sinh năm 1907) hình như là thế hệ cuối cùng còn chít khăn mỏ quạ, vấn tóc bằng một khúc vải cuộn tròn to hơn ngón tay cái, dài khoảng 2 gang. Sau đó, tôi không thấy chị tôi và các chị trong làng chít khăn, vấn tóc nữa. Các chị để tóc dài, cặp bằng cặp 3 lá (chiếc cặp tóc bằng thép không rỉ, bây giờ gọi là inox, hình như ở miền Bắc hồi những năm 60-70 chỉ có mỗn thứ này làm bằng inox), có 3 lá thép nhỏ, lá giữa ngắn hơn một chút. Ngoài cặp tóc còn có chiếc kẹp nhỏ màu đen, các chị dùng để kẹp cho tóc ép sát, gọn gàng.
Các chị không cắt tóc, dài bao nhiêu cũng cứ để, dài quá thì búi lên, lủng lẳng sau lưng trông dễ thương lắm. Mấy chị đi làm ngoài thành phố thì đem về kiểu tóc phi dê. Cô giáo Oanh hiệu trưởng trường cấp 2 xã Thụy Hương (huyện Kiến Thụy) thời tôi học có mái tóc phi dê hơi kiểu cách một tí nhưng rất đẹp. Các bà các chị mỗi lần chải, tóc rụng cũng không bỏ, lấy tay quơ quơ lại, cuộn tròn thành búi nhỏ giắt lên mái hiên, đợi khi nhiều nhiều, bao giờ nghe thấy tiếng bà đồng nát “ai tóc rối không” hoặc anh đổi kẹo kéo rao đổi kẹo lấy tóc rối thì gom đem ra. Cái gì cũng thành tiền, chả mất đi chút nào.
Dân gian nói nhiều về tóc. Khi cần so sánh sự nhỏ bé, có câu “nhỏ như sợi tóc”; trừng phạt đúng người đúng tội thì nói “túm anh có tóc chứ ai túm anh trọc đầu”, đề cao cái tưởng như nhỏ bé tầm thường thì bảo “cái răng cái tóc là góc con người”…
Có tóc thì phải cắt tóc. Đàn ông cắt nhiều hơn đàn bà bởi đàn bà theo đặc điểm tập tính giới tính hay nuôi tóc. Có bà có chị tóc dài cả mét, chấm đất. Nhà văn Nguyễn Tuân tả mái tóc chị Hoài đẹp như một di sản thiên nhiên thế giới. Hồi xưa, nhiều cô gái tóc xấu, ngắn, xơ xác, thưa, rụng, không đen… còn không dám ra đường. Có những chị tóc xấu thậm chí không lấy được chồng.
Bu tôi (sinh năm 1907) hình như là thế hệ cuối cùng còn chít khăn mỏ quạ, vấn tóc bằng một khúc vải cuộn tròn to hơn ngón tay cái, dài khoảng 2 gang. Sau đó, tôi không thấy chị tôi và các chị trong làng chít khăn, vấn tóc nữa. Các chị để tóc dài, cặp bằng cặp 3 lá (chiếc cặp tóc bằng thép không rỉ, bây giờ gọi là inox, hình như ở miền Bắc hồi những năm 60-70 chỉ có mỗn thứ này làm bằng inox), có 3 lá thép nhỏ, lá giữa ngắn hơn một chút. Ngoài cặp tóc còn có chiếc kẹp nhỏ màu đen, các chị dùng để kẹp cho tóc ép sát, gọn gàng.
Các chị không cắt tóc, dài bao nhiêu cũng cứ để, dài quá thì búi lên, lủng lẳng sau lưng trông dễ thương lắm. Mấy chị đi làm ngoài thành phố thì đem về kiểu tóc phi dê. Cô giáo Oanh hiệu trưởng trường cấp 2 xã Thụy Hương (huyện Kiến Thụy) thời tôi học có mái tóc phi dê hơi kiểu cách một tí nhưng rất đẹp. Các bà các chị mỗi lần chải, tóc rụng cũng không bỏ, lấy tay quơ quơ lại, cuộn tròn thành búi nhỏ giắt lên mái hiên, đợi khi nhiều nhiều, bao giờ nghe thấy tiếng bà đồng nát “ai tóc rối không” hoặc anh đổi kẹo kéo rao đổi kẹo lấy tóc rối thì gom đem ra. Cái gì cũng thành tiền, chả mất đi chút nào.
Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016
Chuyện coi vô tuyến truyền hình
Kể từ hôm 15.6.2016, đài truyền hình VTV với tên gọi rất oai là truyền hình quốc gia, hoặc truyền hình trung ương, ngưng phát sóng analog. Một số đài địa phương lớn khác như Hà Nội, Sài Gòn cũng vậy. Thế là xong một thuở vô tuyến truyền hình.
Tôi dốt về kỹ thuật nên cứ liều hiểu truyền hình analog là kiểu phát-thu cổ điển các chương trình. Nhà đài dựng cái cột phát sóng rõ cao, thậm chí có nơi còn lôi hẳn lên núi để “núi cao lên đến tận cùng/thu vào cột sóng muôn trùng nước non” như ở Ba Vì chẳng hạn, tỏa ánh sáng của đảng đến mọi ngóc ngách. Mỗi nhà có tivi chỉ cần mua cái ăng ten loại 8 que, 12 que, 24 que (tùy túi tiền), cũng treo lên thật cao, nóc nhà, ngọn cau, hoặc chắp vài ba cây tre lại. Ở nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ do dân sung túc lắm tiền nên chơi sang xài ống nước to bằng cổ chân cao mấy chục mét giằng dây ra bốn phía. Nối dây từ ăng ten xuống tivi, thế là xong phần kỹ thuật cơ bản. Chỉ việc xem thôi. Analog đại loại như vậy.
Những năm xưa, có một thời khi về những vùng nông thôn, tiêu chuẩn để đánh giá sự giàu có không còn là nhà ngói, nhà mái bằng nữa mà là cột ăng ten. Nơi nào ăng ten nhấp nhô ken dày, trông tua tủa như con nhím trời thì nơi đó giàu có, sung túc, văn hóa cao, nông thôn mới. Hồi những năm 80, nhiều chuyến tôi về miền Tây Nam Bộ, đi dọc quốc lộ 4 cũ, nay là quốc lộ 1A, qua Long An, Tiền Giang (các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè) tuốt xuống ngã ba An Hữu gần bắc (phà) Mỹ Thuận, nhìn hai bên đường nhà dân xanh mướt cây ăn trái, ăng ten nhô cao san sát, thấy đẹp lạ và vui khó tả.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)