Buổi sáng ngủ dậy, đánh răng rửa mặt xong, cả nhà xúm vào mâm cơm. Thường thì mùa hè cũng như mùa đông, thày bu tôi hoặc chị tôi dậy từ sớm tờ mờ nấu nướng. Sau này tôi hỏi thày, sao mình không bắt chước dân thành phố ăn vào tầm trưa cho nó văn minh, đỡ vất vả, thày tôi cười, họ có thứ để ăn sáng nên họ mới ăn vào buổi trưa, còn nông dân sáng mà bụng đói thì chả hơi sức đâu cày bừa, gồng gánh. Phải chắc dạ mới làm được việc nặng. Nghe cũng có lý.
Người lớn sau buổi làm đồng sáng, trẻ con sau buổi học sáng thì lại được ăn bữa cơm chiều. Rồi lại ra đồng, lại đi học. Tới tối, nếu nhà nào có củ khoai củ sắn luộc, hay còn chút cơm nguội (mà cơm nguội thì rất hiếm) chia nhau lót dạ, chờ đến bữa sáng mai. Nhiều lúc ngẫm nghĩ, vị nào dùng chữ “lót dạ” đầu tiên quả là giỏi. Ăn mà có cảm giác chưa hề ăn, lót vào trong dạ một lớp dinh dưỡng mỏng mòng mong, suốt đêm cứ có cảm giác chống chếnh thế nào ấy. Lại khổ nỗi, khoai lang là chúa gây cồn cào nhãi ruột, nhưng không nuốt nó chắc sẽ cồn cào hơn. Những nhà vườn rộng trồng gài thêm củ dong riềng, mình tinh, sắn dây, lâu lâu bới một rổ luộc ăn cũng đỡ phết. Thích nhất có hôm chị tôi hoặc bu tôi chịu khó làm món khoai khô bung nấu nhừ với đỗ đen, thêm tí đường vàng vào, cả nhà cứ vui như tết.
Buổi tối không phải lo chuyện ăn uống, không mất thời gian vào bữa ăn nên tuy đói, bù lại có nhiều thời gian làm việc khác. Mà quả thật sao hồi ấy lắm việc vặt vãnh thế. Chuyện lau bóng đèn dầu hỏa tôi đã kể rồi, nay kể tiếp những điều vớ vẩn khác.