Có người bảo, việc thế sự nóng hổi sao lại cứ đòi hỏi nhà văn lên tiếng, thế nhà báo để làm gì. Đành rằng các nhà báo có nhiệm vụ bám trận địa hằng ngày, từng tháng, từng năm, nhưng để lay động tâm can dân chúng, vẽ lên bức tranh xã hội một cách đầy đủ, có chiều sâu, tạo hiệu ứng mạnh mẽ quyết liệt thì cần có nhà văn. Không lẽ nhà văn chỉ ăn theo nhà báo, chỉ ngồi trong phòng văn ngó ngắm “bức tranh vân cẩu, (vẽ) con người tang thương”, mặc cho cuộc đời điên đảo.
Nhân nhắc chuyện Đồng Tâm, Thủ Thiêm trước sự dửng dưng vô cảm lạnh lùng của hội nhà văn quốc doanh, của phần đông hội viên mậu dịch, cũng cần phải nói thêm, nói rõ rằng không phải nhà văn nào cũng chui vào vỏ ốc an toàn bản thân như vậy. Có nhẽ nhiều người từng đọc loạt bài phóng sự có tên “Đất Thủ Thiêm” của nhà văn Võ Đắc Danh. Anh Danh nổi tiếng với nhiều cuộc lăn xả phanh phui những vụ tham nhũng, cướp đất, hiểu thấu nỗi đau của dân oan, của con người hiền lành lương thiện bị cướp đoạt trắng trợn nhà cửa ruộng vườn đất đai tài sản. Những trang văn của anh nóng rực về xã hội đen tối, tàn ác, đầy máu và nước mắt, đầy bi kịch kéo dài suốt mấy chục năm qua. Phóng sự “Đất Thủ Thiêm” của anh vừa là lời tố cáo, hạch tội, vừa là sự chia sẻ chân thành với các nạn nhân, đăng trên nhiều kênh thông tin “không chính thống”. Điều may mắn cho giới cầm bút văn chương nước nhà là người dân Thủ Thiêm vẫn nghĩ đang có nhà văn đứng về phía mình, bênh vực cho mình, chứ không biết đội ngũ quốc doanh và Võ Đắc Danh khác nhau nhiều lắm, dù cùng mác nhà văn.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020
Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020
Gửi nhà văn quốc doanh (kỳ 2)
Nói thêm chút nữa về vụ ông trưởng ban tuyên giáo tới đại hội chỉ đạo, định hướng, dạy dỗ nhà văn phải thế này thế khác. Nếu đảng không bỏ được thói quen, lối mòn, tư duy lãnh đạo về văn nghệ thế kỷ 21 vẫn giống thời Nhân văn giai phẩm, thì nhà văn cần tỏ thái độ. Ông Thưởng hay ông gì gì đi nữa đăng đàn thuyết giáo cho bà con nông dân hoặc mấy chú chạy xe ôm ít chữ thì cứ tạm coi hợp đi, chứ với giới cầm bút thấy vênh quá. Sáng tác văn chương là thứ lao động đặc thù, không phải cứ có bằng cao cấp chính trị Nguyễn Ái Quốc là tới nói văng mạng được. Thiết nghĩ, nhà văn, dù là nhà văn quốc doanh, mậu dịch viên văn nghệ, cần biểu hiện dứt khoát trước những long trọng viên kiểu này. Các hội đoàn khác chả biết thế nào, chứ hội nhà văn nên có tiếng nói. Đừng để kéo dài “cái quay búng sẵn trên trời/mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”.
Hồi tôi đi học, từ cấp 2 tới về sau, luôn được nghe thầy cô giáo và các nhà lý luận văn nghệ khẳng định chắc nịch “nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại”, “nhà văn là người chép sử bằng hình tượng nghệ thuật”. Chúng tôi tin vào tín điều ấy khi đọc những Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Tố Hữu…, rồi cả Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận… (tác phẩm của những vị này dân chúng phải tìm và đọc lén, bởi bị nhà cai trị cấm một cách rất vô duyên). Nếu họ không mô tả, không lao vào cuộc sống, thì hậu sinh, thậm chí cả những người đương thời, sẽ chả biết cuộc sống tồn tại thế nào, thời đại đã quằn quại đau đớn ra sao, thân phận con người là thứ gì trong thời buổi hỗn loạn. Đọc tác phẩm của họ, người đọc biết chắc rằng các nhà văn nhà thơ, những “thư ký trung thành của thời đại”, những nhà “chép sử bằng hình tượng nghệ thuật” ấy đã sống hết mình với cuộc sống đương thời. Họ là nhà văn tử tế, có trách nhiệm với con người và cuộc đời, nhà văn đúng nghĩa. Sau này, trong cuộc nội chiến Bắc - Nam, cũng vẫn có những nhà văn đúng nghĩa như vậy, tôi lấy hai vị Phạm Tiến Duật, Nguyên Ngọc làm ví dụ.
Hồi tôi đi học, từ cấp 2 tới về sau, luôn được nghe thầy cô giáo và các nhà lý luận văn nghệ khẳng định chắc nịch “nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại”, “nhà văn là người chép sử bằng hình tượng nghệ thuật”. Chúng tôi tin vào tín điều ấy khi đọc những Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Tố Hữu…, rồi cả Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận… (tác phẩm của những vị này dân chúng phải tìm và đọc lén, bởi bị nhà cai trị cấm một cách rất vô duyên). Nếu họ không mô tả, không lao vào cuộc sống, thì hậu sinh, thậm chí cả những người đương thời, sẽ chả biết cuộc sống tồn tại thế nào, thời đại đã quằn quại đau đớn ra sao, thân phận con người là thứ gì trong thời buổi hỗn loạn. Đọc tác phẩm của họ, người đọc biết chắc rằng các nhà văn nhà thơ, những “thư ký trung thành của thời đại”, những nhà “chép sử bằng hình tượng nghệ thuật” ấy đã sống hết mình với cuộc sống đương thời. Họ là nhà văn tử tế, có trách nhiệm với con người và cuộc đời, nhà văn đúng nghĩa. Sau này, trong cuộc nội chiến Bắc - Nam, cũng vẫn có những nhà văn đúng nghĩa như vậy, tôi lấy hai vị Phạm Tiến Duật, Nguyên Ngọc làm ví dụ.
Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020
Đổ thừa
Trong nam gọi là đổ thừa, còn ngoài bắc dùng từ đổ vạ. Tức là, biết rằng không phải thế nhưng cứ mồm miệng hàng tôm hàng cá nói lấy được, đổ tại lý do này lý do nọ chứ không phải tại mình.
Lâu nay, nhiều thế hệ cai trị cầm quyền ở xứ An Nam này, được sự xung kích tiên phong của các nhà lý luận (nước ta, thiếu gì thì thiếu, chứ lý luận bao giờ cũng thừa, sung mãn) hay nhắc tới từ “cấm vận”. Mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, nghèo đói, lạc hậu, chậm phát triển, lè phè lạch bạch, thậm chí cả bất công, xáo trộn, bất ổn, họ cứ đổ tất cho “bị cấm vận”. Cấm vận trở thành cái thùng rác mang nhãn hiệu chính quyền, được lấy ra để đổ thừa cho thế lực thù địch, đồng thời che giấu những dở hơi, yếu kém, ngu dốt, bảo thủ, thất bại của nhà cai trị.
Sơ qua chữ nghĩa một chút. Cấm nghĩa là không cho phép, không cho làm (điều gì đó). Cấm cung là nơi vua ở, không cho những người khác tự tiện vào nếu vua chưa cho phép. Ngay cả quan thượng thư, tể tướng, quan đầu triều, hễ vua chưa vời cũng không được tự ý vào. Vua đang ngủ cũng phải đứng ngoài cấm môn (cửa cấm, không cho qua) mà chờ. Cấm địa là đất không cho ai qua lại. Nhiều trụ sở công an thời nay tự biến khu vực của mình thành cấm địa, hễ ai đi đường ngang qua chỗ đó mà vô tình dừng lại (nghe điện thoại chẳng hạn) thì có ngay anh lính tới đuổi như đuổi tà, ngoài ra còn công khai giăng biển báo cấm chụp ảnh, cứ như bên trong chứa kho vàng không bằng. Cấm dục là hạn chế tình dục. Chả hạn hai ông nào đó nói với nhau mày ạ tao bị bị bà xã nó cấm vận, rồi than thở biết sống làm sao đây.
Lâu nay, nhiều thế hệ cai trị cầm quyền ở xứ An Nam này, được sự xung kích tiên phong của các nhà lý luận (nước ta, thiếu gì thì thiếu, chứ lý luận bao giờ cũng thừa, sung mãn) hay nhắc tới từ “cấm vận”. Mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, nghèo đói, lạc hậu, chậm phát triển, lè phè lạch bạch, thậm chí cả bất công, xáo trộn, bất ổn, họ cứ đổ tất cho “bị cấm vận”. Cấm vận trở thành cái thùng rác mang nhãn hiệu chính quyền, được lấy ra để đổ thừa cho thế lực thù địch, đồng thời che giấu những dở hơi, yếu kém, ngu dốt, bảo thủ, thất bại của nhà cai trị.
Sơ qua chữ nghĩa một chút. Cấm nghĩa là không cho phép, không cho làm (điều gì đó). Cấm cung là nơi vua ở, không cho những người khác tự tiện vào nếu vua chưa cho phép. Ngay cả quan thượng thư, tể tướng, quan đầu triều, hễ vua chưa vời cũng không được tự ý vào. Vua đang ngủ cũng phải đứng ngoài cấm môn (cửa cấm, không cho qua) mà chờ. Cấm địa là đất không cho ai qua lại. Nhiều trụ sở công an thời nay tự biến khu vực của mình thành cấm địa, hễ ai đi đường ngang qua chỗ đó mà vô tình dừng lại (nghe điện thoại chẳng hạn) thì có ngay anh lính tới đuổi như đuổi tà, ngoài ra còn công khai giăng biển báo cấm chụp ảnh, cứ như bên trong chứa kho vàng không bằng. Cấm dục là hạn chế tình dục. Chả hạn hai ông nào đó nói với nhau mày ạ tao bị bị bà xã nó cấm vận, rồi than thở biết sống làm sao đây.
Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020
Gửi nhà văn quốc doanh
Người xưa từng cẩn thận dạy đám hậu sinh, bằng cách nói hình tượng hay đáo để, rằng “con chim trúng “đạn” (tiễn, tên) sợ làn cây cong”. Thời bây giờ, nhìn cái gì cũng giống cánh cung. Nhà cháu cứ tiếp thu, không bổ ngang thì bổ dọc.
Chả là bữa trước, trúng ngày khai mạc hội văn bút quốc gia hoành tráng ở đê La Thành, quả nhân (người ít đức) đưa cái tút đụng chạm, thế là bị mắng tới tấp, kiểu như ông có chê cả làng vũ đại thì cũng phải trừ ABC ra chứ. Vậy nên lần này nhà cháu chỉ quan tâm tới mấy nhà văn quốc doanh, nhân viên văn mậu dịch thôi, kẻo những người có mác văn sĩ lại động lòng. Nói cho vuông, đâu phải cứ nhà văn là… xấu, như ta vẫn rỉ tai nhau, đảng viên cũng có ối người tốt. Ông em rể tôi, dù bị kết nạp đảng từ lúc chưa hiểu mấy về đảng, giờ đã hơn 40 tuổi đảng (rất kinh), nhưng công nhận tốt cực kỳ. Nhà văn cũng thế, tôi chơi, quen với nhiều người văn, già có trẻ có, biết và hiểu họ, văn lẫn người, thấy họ tốt lắm. Mà ngay cả văn sĩ thi sĩ quốc doanh vẫn không ít người tử tế đàng hoàng. Ông Nguyễn Việt Chiến thi sĩ ở thủ đô là một ví dụ. Ông em Nguyễn Một, bà chị Nguyễn Thị Ngọc Hải trong Sài thành là ví dụ nữa. Hôm trước, có may mắn gặp, trò chuyện, thậm chí còn liều bá vai bá cổ chụp ảnh chung với hai lão tướng Nguyễn Đông Thức, Lê Văn Nghĩa, về nhà ngẫm nghĩ mãi, sao các vị nổi tiếng tài hoa giỏi giang mà đức độ hiền lành khiêm tốn dễ chịu thế nhỉ. Tự cấu lên trán nhủ thầm, mình mà có cái danh của hai đấng bậc ấy lại chả một tấc đến giời.
Chả là bữa trước, trúng ngày khai mạc hội văn bút quốc gia hoành tráng ở đê La Thành, quả nhân (người ít đức) đưa cái tút đụng chạm, thế là bị mắng tới tấp, kiểu như ông có chê cả làng vũ đại thì cũng phải trừ ABC ra chứ. Vậy nên lần này nhà cháu chỉ quan tâm tới mấy nhà văn quốc doanh, nhân viên văn mậu dịch thôi, kẻo những người có mác văn sĩ lại động lòng. Nói cho vuông, đâu phải cứ nhà văn là… xấu, như ta vẫn rỉ tai nhau, đảng viên cũng có ối người tốt. Ông em rể tôi, dù bị kết nạp đảng từ lúc chưa hiểu mấy về đảng, giờ đã hơn 40 tuổi đảng (rất kinh), nhưng công nhận tốt cực kỳ. Nhà văn cũng thế, tôi chơi, quen với nhiều người văn, già có trẻ có, biết và hiểu họ, văn lẫn người, thấy họ tốt lắm. Mà ngay cả văn sĩ thi sĩ quốc doanh vẫn không ít người tử tế đàng hoàng. Ông Nguyễn Việt Chiến thi sĩ ở thủ đô là một ví dụ. Ông em Nguyễn Một, bà chị Nguyễn Thị Ngọc Hải trong Sài thành là ví dụ nữa. Hôm trước, có may mắn gặp, trò chuyện, thậm chí còn liều bá vai bá cổ chụp ảnh chung với hai lão tướng Nguyễn Đông Thức, Lê Văn Nghĩa, về nhà ngẫm nghĩ mãi, sao các vị nổi tiếng tài hoa giỏi giang mà đức độ hiền lành khiêm tốn dễ chịu thế nhỉ. Tự cấu lên trán nhủ thầm, mình mà có cái danh của hai đấng bậc ấy lại chả một tấc đến giời.
Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020
Thành ngữ mới ‘Mặt nghệt như mất sổ gạo’ (kỳ 2)
Như đã biên ở bài trước, một trong những sự tệ hại nhất của chế độ bao cấp mà nhà nước cộng sản áp dụng là chính sách bao cấp lương thực. Những ai sống ở miền Bắc sau năm 1954 và miền Nam sau tháng 4.1975 đều biết rõ chuyện này. Biết rõ bởi không phải được nghe nói, mà chính bản thân trải qua, cuộc đời mình giống như mà ca thử nghiệm trong phòng thí nghiệm của chế độ. May mà nó (chế độ bao cấp lương thực ấy) chấm dứt vào đầu thập niên 1990.
Nông thôn miền Bắc sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi chưa kịp ổn định thì rơi vào cơn bão mới. Cái tâm trạng mà thi sĩ Vũ Cao thể hiện trong bài thơ “Núi Đôi”: “Anh nghe có tiếng người qua chợ/Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều/Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc/Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu” chả kéo dài được bao nhiêu. Trận cuồng phong mới có tên mỹ miều hợp tác xã, hay còn gọi là hợp tác hóa nông nghiệp. Gia đình nông dân nghèo, nhất là bần cố nông, vừa được cách mạng chia vài sào ruộng trong đợt cải cái ruộng đất đẫm máu (1953 - 1957) chưa kịp làm chủ thì tới năm 1959 bị nhà nước gợi ý góp hết ruộng đất vào tổ đổi công, giống như bước thăm dò phản ứng của dân chúng.
Có nhẽ do nóng vội tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện sản xuất lớn, bắt chước Liên Xô, Trung Quốc biến nông thôn thành nông trường, thành công xã nên tới năm 1960 thì miền Bắc tiến hành hợp tác hóa ồ ạt. Tất cả ruộng đất, trâu bò đều bị sung công, hiến cho hợp tác xã. Nông dân trở thành xã viên, làm ruộng theo giờ giấc quy định, “nghe tiếng kẻng reo vui thấy chân trời mở rộng”, được tính công điểm, căn cứ vào công điểm ấy mà người ta chia cho thóc, khoai, rơm rạ...
Nông thôn miền Bắc sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi chưa kịp ổn định thì rơi vào cơn bão mới. Cái tâm trạng mà thi sĩ Vũ Cao thể hiện trong bài thơ “Núi Đôi”: “Anh nghe có tiếng người qua chợ/Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều/Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc/Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu” chả kéo dài được bao nhiêu. Trận cuồng phong mới có tên mỹ miều hợp tác xã, hay còn gọi là hợp tác hóa nông nghiệp. Gia đình nông dân nghèo, nhất là bần cố nông, vừa được cách mạng chia vài sào ruộng trong đợt cải cái ruộng đất đẫm máu (1953 - 1957) chưa kịp làm chủ thì tới năm 1959 bị nhà nước gợi ý góp hết ruộng đất vào tổ đổi công, giống như bước thăm dò phản ứng của dân chúng.
Có nhẽ do nóng vội tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện sản xuất lớn, bắt chước Liên Xô, Trung Quốc biến nông thôn thành nông trường, thành công xã nên tới năm 1960 thì miền Bắc tiến hành hợp tác hóa ồ ạt. Tất cả ruộng đất, trâu bò đều bị sung công, hiến cho hợp tác xã. Nông dân trở thành xã viên, làm ruộng theo giờ giấc quy định, “nghe tiếng kẻng reo vui thấy chân trời mở rộng”, được tính công điểm, căn cứ vào công điểm ấy mà người ta chia cho thóc, khoai, rơm rạ...
Thứ Hai, 23 tháng 11, 2020
Một kiểu khốn nạn
Ngày xưa, vào cái thời mà người cộng sản gọi là chế độ phong kiến thối nát, những ông vua được coi đấng minh quân thường tự vi hành để trực tiếp xem xét nắm bắt cuộc sống thực của dân chúng, từ đó mà có những quyết sách ích nước lợi dân.
Tôi đề nghị, thực ra là yêu cầu, mấy ông bà trụ cột triều đình cộng sản hiện nay, cụ thể là ông chủ tịch nước, ông thủ tướng, bà chủ tịch quốc hội hãy tạm dẹp việc bàn nhân sự của các ông bà lại, sau đó cải trang, đội mũ đeo râu, thêm tí son phấn cho nó khác đi, rồi mò ra sân bay Tân Sơn Nhất bắt xe, để coi cái đám bầy tôi của các ông các bà hành dân như thế nào. Bản thân mỗi ông bà hãy cõng chiếc va li hoặc khệ nệ xách túi hành lý leo lên tầng 4 tầng 5 nóng bức chật chội để tự mình trải nghiệm xem nào. Xe đưa xe rước mãi rồi, bụi không dính gót giày, nay thử làm dân một lần cho biết.
Xin nhớ rằng, cán bộ làm gì cũng phải đặt quyền lợi của dân chúng lên trên hết, vậy mà chúng chỉ cốt nhẹ cho chúng, còn đổ hết gánh nặng nề vất vả khổ sở cho dân. Chúng khoe thực hiện phân làn tạo được làn đường thông thoáng vắng vẻ, nhưng vắng thế để làm gì khi người dân phải chen chúc, vất vả, tốn kém, mang vác bồng bế cực khổ trăm bề. Người dân còn nghèo, họ có quyền chọn thứ dịch vụ phải trả ít tiền nhất, sao lại vì thế mà để chúng bắt chẹt họ, lấy thứ quyền hành mà chính dân đã buộc phải trao cho chúng nhằm hại lại dân.
Tôi đề nghị, thực ra là yêu cầu, mấy ông bà trụ cột triều đình cộng sản hiện nay, cụ thể là ông chủ tịch nước, ông thủ tướng, bà chủ tịch quốc hội hãy tạm dẹp việc bàn nhân sự của các ông bà lại, sau đó cải trang, đội mũ đeo râu, thêm tí son phấn cho nó khác đi, rồi mò ra sân bay Tân Sơn Nhất bắt xe, để coi cái đám bầy tôi của các ông các bà hành dân như thế nào. Bản thân mỗi ông bà hãy cõng chiếc va li hoặc khệ nệ xách túi hành lý leo lên tầng 4 tầng 5 nóng bức chật chội để tự mình trải nghiệm xem nào. Xe đưa xe rước mãi rồi, bụi không dính gót giày, nay thử làm dân một lần cho biết.
Xin nhớ rằng, cán bộ làm gì cũng phải đặt quyền lợi của dân chúng lên trên hết, vậy mà chúng chỉ cốt nhẹ cho chúng, còn đổ hết gánh nặng nề vất vả khổ sở cho dân. Chúng khoe thực hiện phân làn tạo được làn đường thông thoáng vắng vẻ, nhưng vắng thế để làm gì khi người dân phải chen chúc, vất vả, tốn kém, mang vác bồng bế cực khổ trăm bề. Người dân còn nghèo, họ có quyền chọn thứ dịch vụ phải trả ít tiền nhất, sao lại vì thế mà để chúng bắt chẹt họ, lấy thứ quyền hành mà chính dân đã buộc phải trao cho chúng nhằm hại lại dân.
Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020
Cái nào ra cái đó
Nói theo kiểu triết học An Nam (thì vừa lập viện Triết đấy thây), không biết mà cứ nói thì không có trí, biết mà không dám nói thì không có dũng.
Nhà cháu cả trí lẫn dũng đều mỏng nhưng được cái nói thẳng nói thật.
Rất nhiều người đã nhầm lẫn hoặc cố ý nhầm lẫn một cách không thuyết phục khi nêu bài thơ của ông chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng lần ổng về thăm trường cũ. Lại còn nhấn vào các chi tiết lớp 10B, anh cả, cánh diều, v.v.., lại còn chê về thăm thầy mà dám xưng anh cả đỏ...
Thế là không công bằng. Cần nhớ rằng bài được gọi là thơ ấy ổng viết từ cách nay năm 1962 (theo như đương sự tự khai), tức là đã cách nay 58 năm, không liên quan gì tới anh cả đỏ, tới sách cánh diều, tới thái độ đối với thầy cô. Tôi kiểm tra trên bản tin của TTXVN thấy viết rõ như vậy. Nhưng TTXVN cũng không thể tin được (mà báo chí mậu dịch thì có cái nào đáng tin), nhỡ ra nó viết chính xác, sau đó nghe dư luận ì xèo nó vội sửa lại thì sao, bèn nghe lại đoạn clip video thì đúng là tác giả bài "thơ" bảo viết hồi lớp 10, làm báo tường.
Nhà cháu cả trí lẫn dũng đều mỏng nhưng được cái nói thẳng nói thật.
Rất nhiều người đã nhầm lẫn hoặc cố ý nhầm lẫn một cách không thuyết phục khi nêu bài thơ của ông chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng lần ổng về thăm trường cũ. Lại còn nhấn vào các chi tiết lớp 10B, anh cả, cánh diều, v.v.., lại còn chê về thăm thầy mà dám xưng anh cả đỏ...
Thế là không công bằng. Cần nhớ rằng bài được gọi là thơ ấy ổng viết từ cách nay năm 1962 (theo như đương sự tự khai), tức là đã cách nay 58 năm, không liên quan gì tới anh cả đỏ, tới sách cánh diều, tới thái độ đối với thầy cô. Tôi kiểm tra trên bản tin của TTXVN thấy viết rõ như vậy. Nhưng TTXVN cũng không thể tin được (mà báo chí mậu dịch thì có cái nào đáng tin), nhỡ ra nó viết chính xác, sau đó nghe dư luận ì xèo nó vội sửa lại thì sao, bèn nghe lại đoạn clip video thì đúng là tác giả bài "thơ" bảo viết hồi lớp 10, làm báo tường.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)