Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Tự Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Tự Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

Mùng 5 chúc tết lão Cao

Cao lão húy Văn Dũng, tên chữ Tự Thanh. Nghe danh y, nhiều người biết, kể cả đám quan chức triều đình lẫn hạng bình dân, nhất là người có học, lại nhất là bọn võ vẽ tí Hán Nôm. Được làm đệ tử, làm truyền nhân của Cao Tự Thanh là một thứ vinh dự không phải ai muốn cũng được.

Tết con hổ đã trôi tới ngày mùng 5. Phận tha hương, cũng chả còn điều kiện tiên quyết để thực hiện nhời các cụ xưa dạy “mùng 1 tết cha, mùng 2 tết mẹ, mùng 3 tết thầy” bởi người của các mùng 1 2 3 ấy khuất núi cả rồi. Hôm trước Cao lão nhắn bảo, nếu mày không ngại dịch diếc, chiều mùng 5 lên tao chơi, không nhanh thì hết mẹ nó tết, tao phắn ra bắc đừng hòng tìm.

Ôi giời chiều mùng 5 tết ở Sài Gòn. Cái nồi gang trên bếp lửa thế nào thì nó thế ấy. Nhìn ra đường, tết nhất gì mà vắng vẻ như hồi dính dịch, có nhẽ thiên hạ ngại đi đày nắng. Lại sực nhớ mấy hôm trước bà bạn đồng môn ngụ làng cổ Đường Lâm than trên phây búc rét quá chúng mày ạ, nhìn cái cây cũng thấy buốt cóng, người cứ teo hết cả, khiến nhà cháu ái ngại hỏi thêm, bà cho tôi hỏi khí không phải, vậy ông nhà có bị sao không, teo tiếc gì không. Chả bù trong Sài thành, từ giữa tháng chạp tới giờ, không biết ai thế nào chứ nhà cháu tinh dững cửi trần, tiết kiệm được ối nước giặt quần áo.

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Trưa nắng ngồi với ông Cao

Nói có đầu đuôi, tôi tìm đến ông bạn tôi, bởi có tí việc nhà cần nhờ. Ổng là Cao Tự Thanh.

Chả là mấy anh chị em tôi và các cháu, sau bao năm chuẩn bị, đang xây cái nhà nhỏ 3 gian làm nơi thờ cúng ông bà cha mẹ ngay trên đất hương hỏa ở quê. Giao hết cho ông em rể và cô út lo liệu công trường. Tôi đùa phong cho nó tướng quân tại ngoại. Cũng sắp xong. Ở xa, tôi được miễn phần bốc vác xi măng sắt thép, lại không phải hằng ngày đốc thợ, ưu tiên nhận việc kiểu “tuổi già làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”, nghĩa là đi xin chữ làm hoành phi câu đối. Cụ thân sinh khi xưa theo nho học nên nơi thờ có chút chữ nho cho cụ vui. Nghĩ ngay đến ông bạn đồng môn, một tay Hán Nôm cự phách. Ông em tôi bảo đúng rồi, chỗ ấy là nhất, nhanh lên bác nhé.

Đất Sài Gòn rộng đến mức ở chung thành phố mà cả năm hai thằng không đến nhà nhau. Họa hoằn tết nhất hoặc có đứa nào Hà Nội vào. Đúng ra mình phải chủ động bởi chân cẳng khỏe hơn. Đường vòng vèo, chật cứng xe cộ, cỡ 20 cây số, nắng chang chang, luồn lách cũng đủ mệt. Vừa đi vừa lẩm bẩm ở đ. gì mà xa thế.

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Một nhà lãnh đạo tiên phong

Ông Chín Cần, một ngọn cờ đổi mới, đã ra đi.

Ông thuộc thế hệ những nhà lãnh đạo địa phương có đóng góp to lớn vào cục diện thay đổi của đất nước sau 1975.

"Bù giá vào lương", cuộc cải cách cơ chế "phân phối lưu thông" ở tỉnh Long An do ông lãnh đạo, thực chất là áp dụng thị trường trong xử lý mối quan hệ tiền tệ, hàng hoá và giá cả, một tử huyệt của lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ ở Việt Nam.

Cuộc cải cách ấy ở Long An, cùng với những cải cách ở TP.HCM do ông Võ Văn Kiệt lãnh đạo, đã có đóng góp quyết định hình thành đường lối đổi mới do ông Trường Chinh khởi thảo vả trình bày ở đại hội VI của đảng vào 1986.

Trên chính trường ông nổi lên như một nhà lãnh đạo địa phương nổi bật. Có lẽ cũng vì vậy ông được điều ra trung ương, trải qua nhiều vị trí, được những nhà lãnh đạo cấp cao chuẩn bị để đảm đương vị trí Trưởng ban Tổ chức TƯ.

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Bâng khuâng một cuốn sách muộn

XUÂN BA (nhà báo)

Chuyện học sinh miền Nam (HSMN) trên đất Bắc trước nay thảng hoặc sách báo có nói đến mỗi dịp kỷ niệm Hiệp định Genève nhất là dịp chẵn 60 năm nhưng tạm tày tặn và đủ đầy như cuốn Học sinh miền Nam, tư liệu và kỷ niệm in khổ lớn dày tới 900 trang do NXB Văn hóa văn nghệ mới phát hành thì có lẽ mới có một?

Chân dung chủ biên

Chương trình thời sự trên VTV1 tối 30.10.2016 phát đi tin buồn sự ra đi của một lão thành cách mạng, cụ Nguyễn Văn Chính tức Chín Cần, nguyên Bí thư Long An, nguyên Phó chủ tịch HĐBT, nguyên Bộ trưởng Bộ Lương thực, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam…

Tôi sực nhớ ông bạn đồng khóa đồng khoa lớp Hán Nôm tài hoa Cao Tự Thanh bữa trước có gửi tôi cuốn Học sinh miền Nam, tư liệu và kỷ niệm do Cao Tự Thanh (Cao Văn Dũng) chủ biên. Mà ông Chín Cần là cha ruột của Cao Tự Thanh.

Cao Dũng người mảnh. Dị tật chân tự bé nên có thêm tên Dũng khoèo. Chất ngang thẳng hình như Dũng được thụ hưởng từ ông già Dũng, hơn bốn mươi năm trước chúng tôi cùng học lớp Văn-Ngữ- Hán Nôm với nhau nghe nói làm chức chi to lắm? Mà Dũng chưa bao giờ hé ra dẫu chỉ úp mở? Sau biết thêm nữa, ông Nguyễn Văn Chính, thường gọi là Chín Cần xuất thân từ gia đình bần nông tại xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh, TPHCM. Ông từng ba lần bị giam cầm, bị tra tấn dã man trong ngục tù nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết. Thời bình, ông Chín Cần từng làm nên huyền thoại na ná như ông Kim Ngọc khoán hộ ở Vĩnh Phú. Đó là việc ông đề xuất và thí điểm thực hiện việc bù giá vào lương, góp phần xóa bao cấp trong phân phối thu nhập trong những năm 80 của thế kỷ trước.

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2016

Ông Chín Cần, một người tiên phong đổi mới đã ra đi

NGUYỄN THẾ THANH (nhà báo)

Bạn bè học sinh miền Nam truyền cho nhau tin bác Nguyễn Văn Chính tức Chín Cần vừa qua đời chiều hôm qua, trưa ngày mai 31.10 cả nhóm HSMN sẽ đi viếng tại nhà tang lễ 25 Lê Quý Đôn. 

Trong mắt các HSMN, ông Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) là ba của Cao Dũng, tức nhà nghiên cứu Hán Nôm Cao Tự Thanh, tác giả nhiều cuốn sách nghiên cứu có giá trị, mới nhất là cuốn sách vừa phát hành trong tháng 10 do anh chủ biên "Học sinh Miền Nam - tư liệu và hồi ức".

Còn trong mắt các nhà báo thì ông Chín Cần là một trong các nhà khởi xướng Đổi Mới ở Việt Nam sau năm 1975. Chính xác hơn, ông chính là người tiên phong thực hiện việc xóa bỏ bao cấp trong phân phối lưu thông, xóa bỏ cơ chế hai giá. Là Bí thư Tỉnh ủy Long An trong gia đoạn 1976 - 1983, ông Chín Cần đã chỉ đạo và cùng tỉnh ủy tiến hành mở mũi đột phá đổi mới khâu phân phối lưu thông (hồi đó thường gọi tắt là giá - lương - tiền). Nhờ có cơ chế giá mới, người sản xuất có thể chủ động mua được vật tư nguyên liệu cần thiết thay vì ngồi chờ sự phân phối kém hiệu quả của Nhà nước; người tiêu dùng có thể mua được các loại hàng thiết yếu cho đời sống thay vì phụ thuộc vào mạng lưới phân phối của Nhà nước vừa chậm chạp vừa thiếu thốn. Nhờ vào cơ chế giá mới, Long An đã thu mua hết nông sản của nông dân, qua đó Nhà nước nắm được hàng và tiền, làm chủ lưu thông, góp phần tạo sự kết nối giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Sản lượng lương thực và thu mua lương thực cũng như sản lượng hàng vải dệt của Long An 5 năm liền (1980 - 1985) tăng từ gấp đôi đến gấp ba so với trước đó. 

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Xúc động những trang sách về học sinh miền Nam trên đất Bắc

Trong lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, học sinh miền Nam trên miền Bắc là một cộng đồng đặc biệt, nhiều nét đặc trưng, tuy nhiên suốt những năm qua chưa có công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu sâu rộng về lực lượng “hạt giống đỏ” này.

Đối với tôi, thì bạn tôi, Cao Tự Thanh (Cao Văn Dũng) như một tượng đài, dù y có hay nói tục bậy, khủng khỉnh, khinh người, nhìn thiên hạ bằng nửa con mắt. Tôi chẳng thể nào hiểu nổi trong cái thân xác gầy nhom, quá ít tế bào, quắt queo như vị La hán chùa Tây Phương kia, lấy đâu ra chỗ để chứa lượng tri thức kim cổ khủng khiếp, hoành tráng y đã thâu nạp. Cái kho ấy, tôi tưởng tượng, nếu đem đổ tãi ra thì phải dùng biết bao nhiêu bồ mủng thúng sọt nong nia mới đựng hết. Vậy mà, cái con người kênh kiệu, khủng khỉnh đỉnh cao của tôi ấy, đang nửa đêm lại bốc máy gọi mà thủ thỉ rằng mày ạ, tao và chúng bạn học sinh miền Nam vừa ra cuốn sách này, như một cách trả ơn trả nợ đời, mày đọc và viết vài chữ nhé.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ lần đầu tiên biết đến cụm từ “học sinh miền Nam” từ một bài tập đọc lớp 2, bài thơ Chú đi tuần. Thơ bộc lộ tình cảm, tâm trạng của một anh bộ đội đi tuần đêm, thật đằm thắm, tha thiết: “Chú đi qua cổng trường/Các cháu miền Nam yêu mến/Nhìn ánh điện qua khe phòng lưu luyến/Các cháu ơi, giấc ngủ có ngon không?”.

Rồi không chỉ qua thơ văn, sách vở, lúc lớn lên bọn trẻ miền Bắc chúng tôi đã cùng chơi, cùng sinh hoạt, học tập với các bạn học sinh miền Nam, nhất là khi những trường học sinh miền Nam số 8, 14, 22 ở nội đô Hải Phòng quê tôi sơ tán về nông thôn tránh bom tàu bay Mỹ. Và về sau, một trong những người bạn miền Nam mà tôi gắn bó là Cao Tự Thanh, người chủ biên tập sách dày dặn này, một công trình tập hợp, nghiên cứu công phu đầu tiên về “lực lượng đặc biệt” - học sinh miền Nam trên đất Bắc.

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Bài gốc đã được nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đồng ý

Hôm nay, dư luận và cộng động mạng xã hội có nhiều ý kiến về bài viết của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đăng trên báo Pháp luật TP.HCM, nhất là những đoạn liên quan đến cuốn sách mới Bên thắng cuộc của nhà báo Huy Đức. 
Bạn bè đã lâu với ông Thanh, tôi có thể khẳng định mà không sợ sai rằng ông là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, cẩn trọng; những phát ngôn hoặc bài viết của ông thường thể hiện sự suy nghĩ chín chắn, đầy đủ, vừa bao quát vừa có chiều sâu, và đặc biệt khách quan, bày tỏ thái độ cũng như cách đánh giá rõ ràng. Tuy nhiên, trong bài đăng báo Pháp luật nói trên, tôi thấy không toát lên điều ấy. 
Cũng vừa may, chiều tối, ông Cao TThanh gọi cho tôi bảo rằng ông đang rất phiền lòng vì bài gốc đã bị cắt xén, lược bớt, thay đổi cho phù hợp với ý đồ của người biên tập và tờ báo. Tôi đề nghị ông cho tôi bài gốc đã được ông chấp nhận trước khi đăng báo, và ông đã chuyển cho tôi, vậy xin đưa lên đây để mọi người cùng rõ quan điểm đầy đủ của một nhà nghiên cứu cẩn trọng.
17.1.2013
Nguyễn Thông



Phỏng vấn người kết thúc việc phiên dịch Đại Nam Thực lục ở Việt Nam

Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX từ góc nhìn quốc tế hóa và hiện đại hóa

Tháng 10. 2011, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên viết về lịch sử Việt Nam dưới hai đời Thành Thái, Duy Tân của Quốc sử quán triều Nguyễn đã ra mắt người đọc (được in lần thứ hai tháng 8. 2012). Đến nay, trước thềm năm mới, tháng 12. 2012 Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ viết về lịch sử Việt Nam dưới đời Khải Định lại tiếp tục ra mắt người đọc, cả hai quyển đều do nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh đã có cuộc trao đổi với anh, người kết thúc việc phiên dịch Đại Nam Thực lục ở Việt Nam.

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Dành cho K17: Mạch đạo dòng đời

Giới thiệu:
Cao Tự Thanh (tức Cao Văn Dũng) cựu sinh viên khóa 17 Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội là tay nghiên cứu Hán Nôm cự phách nhiều năm nay. Cuộc đời y như kho tư liệu, cảm hứng cho những nhà viết tiểu thuyết nhiều tập khai thác. Y là kẻ kênh kiệu nhưng có đủ sở học để bạn bè đồng môn chấp nhận vui vẻ sự kênh kiệu ấy. Nhớ hồi năm 1973 mình và thằng Trần Quang Tửu từ tầng 3 leo lên tầng 4 nhà C2 chơi với y (do là dân miền Nam nên Dũng được ưu tiên ở một mình trong cái nhà tắm bỏ hoang), y cho xem chiếc đầu lâu trắng hếu khiến mình sợ bủn rủn chân tay. Tửu bo bọn miền Nam chúng nó kinh lắm, cái gì cũng khác người. Ai thế nào thì mình không biết chứ Cao Tự Thanh quả thế thật.
Bài Mạch đạo dòng đời nó viết đã lâu rồi, dù chỉ loanh quanh nói vlớp Hán Nôm nhưng mình đã xin được "giấy phép xuất bản của nó" đưa lên đây cho bạn bè kể cả bọn Văn và Ngcùng đọc mà nhớ những kỷ nim K17 hồi xửa hồi xưa.

Mạch đạo dòng đời   
CAO TỰ THANH
Vào một buổi sáng mùa đông lạnh buốt cuối năm 1972, trong một ngôi đình cũ kỹ ẩm thấp tối tăm tại khu sơ tán ở huyện Yên Phong tỉnh Hà Bắc, mười ba sinh viên đầu tiên của ngành Hán Nôm bậc Đại học hệ chính quy khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội bước vào buổi học đầu tiên. Họ ngồi trên những túm rơm rải dưới đất, vở đặt trên đùi, nắn nót viết câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện” trong Tam tự kinh dưới sự chỉ dạy của một ông thầy người miền Trung rất hay “quát nạt”. Ông thầy ấy tên Nguyễn Đình Thảng, còn mười ba sinh viên ấy là Trần Kim Anh, Nguyễn Duy Chính, Nguyễn Văn Đường, Nguyễn Thị Lâm, Trần Thị Liên, Nguyễn Thúy Nga, Hoàng Thị Ngọ, Trương Đức Quả, Nguyễn Công Việt, Trần Văn Viết, Võ Văn Sạch, Nguyễn Hữu Tưởng và Cao Văn Dũng tức người viết bài này. Chưa ai quá hai mươi tuổi – các sinh viên lớn tuổi mà phần lớn là bộ đội đi học nghe nói học chữ Hán đều e ngại không dám xung phong.


Có lẽ trước đó khoa Ngữ văn ít có chuyện các thầy đi thuyết phục, gợi ý sinh viên mới nhập học vào học ngành này ngành kia. Nhưng năm chúng tôi nhập học thì khác, ngành học mới nên các thầy cô đều quan tâm. Thầy Lê Văn Quán lúc ấy là một fan Hán Nôm hăng hái nhất trong việc đi chiêu mộ sinh viên Hán Nôm. Còn nhớ dáng vẻ của ông, lưng hơi gù, mắt lim dim, hai tay khoanh trước ngực say sưa nói về ưu thế học vấn và tương lai học nghiệp của ngành Hán Nôm, thỉnh thoảng lại nhấn mạnh bằng cách huých huých khuỷu tay vào sườn (hay vai) người nghe với câu “Cậu (hay cô) đã mường tượng được vấn đề chưa?”. Về sau cứ khi ông nghiêng vai lấy thế chuẩn bị huých thì chúng tôi không dám né tránh nhưng đều nhịn cười đồng thanh kêu lên “Mường tượng được rồi ạ”, để nhân lúc phát thoại nghiêng nửa người trên ra khỏi tầm huých của ông. Hầu chuyện Quán sư phụ thì nói chung phải kín đáo di động liên tục, đó có lẽ là điều tất cả chúng tôi đều “mường tượng” được trước khi chính thức bái sư nhập môn.

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

Bốn mươi năm Hán Nôm

Ngỏ: Bài dưới đây của PGS-TS Nguyễn Công Việt, Phó viện trưởng Viện Hán Nôm, đăng trên blog TS Nguyễn Xuân Diện. Anh Việt là bạn đồng môn đồng khóa với chúng tôi (K17 khoa Ngữ văn, ĐH Tổng hợp Hà Nội) nên tôi xin phép đưa bài về để các bạn K17 cùng đọc, để các bạn ngành Văn và Ngữ chúc mừng nhóm 13 hiệp sĩ Hán Nôm đầu tiên từ thuở biết nhau ven sông Cầu. Bạn Cao Tự Thanh cũng có một bài rất hay về thầy về bạn Hán Nôm kỷ niệm hồi 30 năm nhưng rất tiếc mình chưa có file bài đó, đề nghị Cao tiên sinh cho nhà em xin nhé.
Thấm thoắt đã 40 năm rồi.

Bốn mươi năm nhớ thầy nhớ bạn
NGUYỄN CÔNG VIỆT

Đi bộ hết con đường đất đỏ, tôi leo lên đê lần đầu nhìn dòng sông Cầu trong xanh lặng lẽ trôi dòng xuôi về hướng biển. Bến đò chiều Đông vắng ngắt thấp thoáng những khóm tre mái rạ lờ mờ trong khói sương tà; Qua đò sang sông là đã đến được địa điểm tập trung thôn Ngọ Phúc, huyện Hiệp Hòa. Cái tên bến đò Đông Xuyên, thôn làng Ngọ Phúc, Ngọ Khổng, Sát Thượng, Chính Trung thuộc đất Kinh Bắc xưa là những địa danh đầu tiên lưu lại trong ký ức của tôi ngày tựu trường 40 năm trước.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Ngài Cao Tự Thanh


Một ngày 24 tiếng, hắn cởi trần khoảng 17 tiếng rưỡi, vậy mà hôm nay lại mặc áo cho mình chớp hình, kể cũng lạ.

Trong số 13 sinh viên theo học hệ cử nhân Hán Nôm chính quy đầu tiên được mở năm 1972, hầu hết đã cân đai mũ mão tiến sĩ, ông nọ bà kia, riêng chỉ có y vẫn hàn nho. Nhưng lạ là các ông bà nghè Hán Nôm ấy luôn nhắc đến y với sự kính nể ra mặt.

KẺ MÊ SÁCH
Nhớ cái đận cùng mấy bạn đồng môn ngoài Hà thành vào, rủ nhau tìm thăm Cao Tự Thanh. Nói là “tìm” bởi lão này chuyển chỗ ở xoành xoạch, mới hồi nào quận Nhất, chuyển, chưa ấm chỗ Bình Thạnh đã nghe về Gò Vấp. Hỏi dò loanh quanh mãi, bà bán thuốc lá đầu hẻm một khu phố văn hóa dốc cầu Đỏ đi xuống chắc như đinh đóng cột “đúng ông giáo sư ôm ốm tóc dài. Ông ấy hay mua thuốc Con mèo, cứ vào hẻm đằng kia mà hỏi”.

Lại đi, lại hỏi, bác thợ mộc rậm râu thủng thẳng “cái nhà có chó sủa ấy”. Chưa kịp gõ vào cánh cửa sắt thì con chó đen to trùi trũi (ông bạn tôi gọi là thằng gấu) sủa váng nhào tới. Nghe Cao tiên sinh gằn giọng, gấu len lét cúp đuôi lùi. Phượng, cô trợ thủ đắc lực của hàn nho, khá thông thạo chữ Hán và giỏi vi tính đon đả mời khách. Ôi giời, ngày nóng cũng như lạnh, ông bạn tôi chỉ cởi trần. Lão bảo chúng mày ngồi chơi, để tao ký xác nhận mấy cái biên bản nghiệm thu công trình khoa học cho thằng Trung (anh cán bộ Viện KHXH vùng Nam bộ) đem về viện cái đã. Kể cũng lạ, chẳng giáo sư tiến sĩ học hàm học vị gì, vậy mà tham gia vào mấy cái hội đồng khoa học cấp thành phố, hình như cả cấp trung ương, còn tiếng tăm trong giới nghiên cứu Hán Nôm thì khỏi bàn. Nghe đâu sinh thời giáo sư Nguyễn Đình Thảng - một chuyên gia Hán Nôm cự phách, thầy dạy của nhiều thế hệ tiến sĩ Hán Nôm - cách đây mấy năm có tìm được tấm phướn cổ ghi hơn chục chữ Hán to cỡ nửa gang tay viết lối chữ triện, lạ lắm, có mấy chữ không mấy ai đọc được, nói gì hiểu. Thầy Thảng bảo “thôi, gửi thằng Thanh”, tin cậy đến thế là cùng. 

Tranh thủ lúc quởn tôi tha thẩn lục lọi, chỉ thấy tinh những sách. Mà cha này hình như cũng chẳng có tài sản gì đáng giá (không kể đám máy vi tính) ngoài cái đầu chứa chữ và sách, chả thế nhà báo Xuân Ba và ông giáo (nói theo cách của Nam Cao) Trần Quang Tửu vài lần ghé thăm đàm đạo, lúc về các lão cứ trợn mắt gật gù “gớm cái thằng hàn nho”, chả hiểu gớm cái gì. 

Thôi thì đủ cả sách cũ sách mới, chữ nho lẫn chữ quốc ngữ. Phần sách do chính Cao tiên sinh viết hoặc dịch để một dãy riêng, tôi đồ rằng nếu mỗi đầu sách chọn một quyển xếp thẳng đứng có nhẽ gần cao bằng đầu tác giả chứ chẳng chơi. Nói đến sách, lại lẩn thẩn nhớ chuyến cùng hàn nho tháp tùng đưa cuốn đại thư độc nhất vô nhị Việt Nam bách gia thi ra Hà Nội. Chả là nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập khoa Ngữ văn Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (cái tên gọi giờ chỉ còn chút dư âm, gợi nhiều tiếc nuối) hồi tháng 10.2006, Cao tiên sinh xin bà Đỗ Thị Phấn - Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Văn hóa Sài Gòn - cho rước sách quý “một lần tới thủ đô”. Bà Phấn phân vân, đành rằng ông Thanh là người tuyển chọn thơ của trăm nhà, có công lớn nhất nhưng con yêu con quý của bà là độc ấn bản, lỡ có bề gì, nhưng rồi cũng đành tặc lưỡi “anh ráng giữ cẩn thận” mà mặt không giấu nổi vẻ buồn buồn lo lo. Đại thư (chúng tôi kính cẩn gọi là ông sách) dài rộng cỡ 1,5 x 0,8m, nặng hơn tạ, lại kèm cả giá đỡ sắt vài chục ký, Thanh và mấy đệ tử phải thuê ô tô (không dám xích lô, nhỡ mưa thì khốn) chở ra ga Hòa Hưng đóng thùng gửi tàu hỏa, chỉ riêng cước phí đã mất hơn triệu bạc. 

Hôm sách quý ra mắt tại Viện Hán Nôm cũng như tại hội khoa, quả là sự kiện hoành tráng. Tôi thấy cô Phượng xỏ găng tay trắng cung kính đứng bên “ông sách”, người nào muốn xem phải do chính cô cẩn thận lật giở, cấm cho ai mó tay vào. Nghe các thầy, rồi cả mấy ông viện trưởng viện phó Viện Hán Nôm tấm tắc, gã hàn nho tuổi Ất Mùi (1955) sướng ra mặt.

Dũng (tên thật của Cao Tự Thanh) có lần khai báo với bạn bè “chữ Tự Thanh tôi lấy từ 2 câu thơ viết về một dòng suối: Điềm đạm vô nhân kiến, Niên niên trường tự thanh (lặng lẽ không người thấy, năm này qua năm khác cứ mãi tự trong trẻo)”. Quả thật suốt bao năm y đã sống trung thành với nguyên tắc đặt tên ấy, Tự Thanh, trong trẻo cùng tháng năm. Và sự nghiệp đã rất Cao. Nói thêm, nếu chưa tường tận về hàn nho, chắc không mấy ai biết y là con trai của một nhân vật nổi tiếng Nam Bộ thời chống Mỹ và nhất là thời “trước đổi mới”: ông Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần. Dân gian có câu: “Bắc khoán hộ Kim Ngọc/ Nam một giá Chín Cần”. Nhân vật này chúng tôi sẽ xin hầu chuyện vào dịp khác.
Hàn nho Cao Tự Thanh và tiến sĩ Nguyễn Công Việt - Phó viện trưởng Viện Hán Nôm bên độc ấn bản Việt Nam bách gia thi

BẤT NGỜ “GẶP CỤ PHẠM QUỲNH”

Cũng là kẻ mê sách nhưng lâu nay ít đọc, phần bận cuộc mưu sinh, phần nhiễm phải cái thói cứ động một tí là lụy vi tính, internet nên đã lâu tôi chẳng mấy khi cầm cuốn sách nào được đến mươi phút. Đang tâm thái ấy, trong lúc ký giả Xuân Ba và Cao tiên sinh đang say sưa đàm đạo, bất chợt nhìn lên giá sách tôi rút một cuốn cũ kỹ khổ bằng bàn tay, giấy ố vàng, bốn góc bìa nát nham nhở. Lật vài trang thấy toàn chữ Hán viết đủ kiểu chân, triện, lệ, hành, thảo kèm theo những bức tranh vẽ theo phong cách thủy mặc cực đẹp. Chủ nhà đang say với bạn tri kỷ, thấy tôi cầm cuốn sách quý của mình dáng điệu bất cẩn liền hắng giọng “mày có biết đang cầm cái gì trên tay không?”. Biết hỏi kẻ sở học nông cạn như tôi kể bằng thừa, hàn nho giảng giải: xét tuổi, hai cuốn này (thì ra còn một cuốn nữa tôi không để ý) dễ đã hơn trăm năm, còn chủ nhân đích thực của nó, là ai biết không, Phạm Quỳnh đ.â.ấ.y (y dài giọng)! 

Tôi lật giở, ừ nhỉ, trên mỗi trang bìa sau bằng loại giấy na ná giấy xi măng vẫn nguyên chữ ký chân phương giản dị của cụ Thượng Chi, màu mực tím, đậm và rõ. Nét chữ mềm mại, kiểu chữ đặc trưng thế hệ Tây học những năm trước cách mạng không lẫn vào đâu được. Nhẩm tính chỉ từ hồi cụ chủ bút báo Nam Phong ký xác nhận quyền sở hữu của mình vào cuốn sách đến nay chí ít phải bảy tám chục năm, vậy sao thứ mực tím tôi chắc là mực Parker kia phóng qua ngòi bút sắt cứ như vừa mới thấm khô, dễ làm ta tưởng tượng người ký dòng chữ ấy vừa nhấc ngọn bút khỏi trang giấy bản rồi khoan thai bước đâu đó nhẩm mấy câu thơ mà khen cái sự tuyệt hảo của người xưa. 

Lại nhớ lứa chúng tôi sinh ra sau hòa bình lập lại hồi học cấp 3 được các thầy giảng về cuộc tranh luận quanh truyện Kiều, cũng chỉ được học duy nhất bài Luận về chánh học cùng tà thuyết của cụ Ngô Đức Kế tranh luận với cụ Phạm Quỳnh chứ có thấy trước tác của cụ Phạm đầu đuôi nó thế nào, nghe thì tạm hiểu rằng “chánh học” đương nhiên thuộc về cụ nghè Ngô - nhà nho yêu nước, còn “tà thuyết” ắt phải là Phạm Quỳnh - người làm quan đến chức Thượng thư bộ Học, rồi sau đó bộ Lại của triều đình tay sai phản động. Sau này khi cuộc sống đã cởi mở, tìm hiểu những khúc nhôi chưa tỏ về con người này ta biết ông có kết thúc số phận cá nhân thật bi đát và lịch sử kể từ sau cách mạng chưa công bằng với ông.

Mấy lần lão nhà văn Thái Vũ ghé tòa soạn Thanh Niên chơi, tôi lân la hỏi được ông lão kể lại, dù làm quan chức trọng quyền cao tột bậc nhưng sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) cụ Phạm về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường bên sông đào Phủ Cam (Huế) và trong cơn sục sôi cách mạng đánh Pháp đuổi Nhật hạ bệ Nam triều, ngày 23.8.1945 cựu Lại bộ thượng thư Phạm Quỳnh bị một nhóm thanh niên Việt Minh đến nhà “mời” đi, cùng lúc là cả cha con ông Ngô Đình Khôi (Tổng đốc Quảng Nam, anh ruột ông Ngô Đình Diệm), kể từ đó họ mãi mãi không trở về.

Lại nói về bộ sách quý. Biết tôi mù chữ Hán, ông bạn họ Cao giảng giải bộ này gồm 6 cuốn (Cao tiên sinh mới có 4 cuốn, còn vì sao thiếu 2 cuốn tôi sẽ nói sau) tên gọi Thi họa phảng (Thuyền thi họa), thứ tự các cuốn từ 1 đến 6 theo chủ đề là: Sơn thủy, Nhân vật, Hoa điểu, Thảo tùng, Mai lan trúc cúc, Phiến phổ. Khổ sách nhỏ, 17 x 10cm, giống loại sách thiếu nhi khá phổ biến của NXB Kim Đồng, giấy bản mịn, do một NXB nào đó của Trung Quốc ấn hành không thấy đề tên nhưng ghi rõ năm xuất bản Quang Tự Mậu Tý, nếu cứ chiếu theo đời vua Quang Tự nhà Thanh thì vào năm 1888. Tính đến Mậu Tý 2008 vậy bộ sách này đã thọ ngoại bách tuế, chính xác là 120 tuổi. 

Tôi săm soi lật kỹ thấy phía dưới chữ ký mềm mại của cụ Thượng Chi còn có con dấu tròn son đỏ, ghi rõ: phía trên Quốc gia Việt Nam, phía dưới Trung Phần trong vòng tròn bao bọc, chính giữa là hai chữ đậm hơn: Văn Hóa. Tôi thắc mắc, Cao tiên sinh giải thích chỉ có dưới trào Ngô Đình Diệm mới dùng danh từ Trung Phần để chỉ miền trung Việt Nam. Đây có lẽ là con dấu của một cơ quan lưu trữ hoặc thư viện nào đó hồi Ngô Đình Cẩn thay mặt chính quyền họ Ngô cai trị xứ Huế. Phải chăng sau cơn gia biến tang thương ngày 23.8 ở biệt thự Hoa Đường, gia đình cụ Phạm thượng thư phút chốc nát tan mỗi người mỗi ngả, đến thân mạng còn không giữ được nói chi sách vở.

Nhà văn Thái Vũ kể sau này có hỏi ông Phan Hàm (khi ấy là thanh niên tiền tuyến của Việt Minh, về sau lên đến cấp tướng QĐND VN) người trực tiếp chỉ huy việc bắt Phạm Quỳnh, ông Hàm cho biết đã khám xét khá kỹ căn biệt thự, kể cả những tủ sách. Vậy thì những cuốn sách mà chủ nhân từng vẩy bút đặt lên chữ ký mực tím Parker tươi rói bắt đầu chặng đường lưu lạc từ đây chăng? Khi Ngô Đình Cẩn làm lãnh chúa Trung phần, ông ta từng cho sưu tầm thu gom nhiều di sản văn hóa cổ, trong đó có các tác phẩm Hán Nôm quý hiếm để nhà nước quản lý, lưu trữ, vì thế mới có con dấu tròn Văn Hóa ấy.

Trang bìa cuốn 2 Thi họa phảng có chữ ký của cụ Phạm Quỳnh


Nhưng tại sao sách quý lại lưu lạc đến nhà bạn tôi? Hàn nho Cao Tự Thanh thuật lại rằng giữa năm 1975 y đang học năm thứ ba ngành Hán Nôm khoa Văn trường ĐH Tổng hợp Hà Nội thì miền Nam giải phóng, nôn nóng quá bèn bỏ dở chừng vào ngay Sài Gòn (chuyện này tôi biết bởi tôi cùng khóa với y, chỉ khác ngành học). Một trưa cuối năm trong túi chỉ có 300 đồng tiền chế độ cũ đủ để ăn sáng vài bữa, đang lang thang thì gặp bà cụ quẩy gánh ve chai đi về chợ sách cũ Đặng Thị Nhu (Q.1) gần chợ Bến Thành. Thấy trong đống lộn xộn sách cũ sách mới hai quyển bìa đã cũ nát, lật giở biết là quý thư bèn quyết mua bằng được. Bà cụ đòi 300 đồng, chàng sinh viên nghèo năn nỉ, rốt cục dứt giá hai trăm. Đem về đọc kỹ mới tá hỏa tam tinh vì bộ sách những 6 cuốn, đóng thành 3 tập, nhớn nha nhớn nhác thế nào chỉ thấy hai, mất toi một tập gồm 2 cuốn Sơn thủy và Nhân vật. Tiếc đứt ruột nhưng bà cụ ve chai ấy biết tìm nơi đâu. Ra chợ Đặng Thị Nhu bao lần dò la nhưng cả người lẫn sách vẫn bặt âm vô tín. Thôi thì cái duyên nhiều khi nó cứ dở dang vậy, ngay cả mối duyên với sách. Bù lại, phát hiện ra chủ nhân của 2 tập sách gần trăm tuổi kia (tính đến thời điểm đó) chính là Thượng Chi Phạm Quỳnh. 

Tôi thắc mắc sao biết đó chữ ký của cụ Phạm, ông chủ sách đương thời trợn mắt “tao từng nghiên cứu bao nhiêu sách Hán Nôm cái xứ này, có cả sách của Phạm Quỳnh, chữ ký ấy lẫn đi đâu được”. Nói đến đây, Cao tiên sinh với tay lên đầu ghế lấy chiếc áo sơ mi mặc vào nghiêm chỉnh, tôi thấy lạ thắc mắc sao không cởi trần cho mát, y trừng mắt “đọc sách phải đàng hoàng”, sau đó giở cuốn Thảo tùng ra, chỉ vào trang trái vẽ hai cây trúc quân tử cứng cáp phong sương, trang phải kèm hai câu viết theo lối chữ triện, đọc sang sảng “kiên phối tùng bách/ kính lăng sương tuyết” (bền ngang tùng bách/ cứng khinh tuyết sương) rồi cười khà khà: thấy chưa, người đọc những cuốn sách ấy chẳng phải tầm thường đâu.

Đời sách, tôi nghĩ, cũng như con người có khi phải trải qua bao dâu bể, số phận thăng trầm. Lại lẩn thẩn rằng nếu ông nhạc sĩ Phạm Tuyên, thứ nam của cụ Thượng Chi biết được ở đâu đó trên cõi đời này có người đang nâng niu trân trọng những cuốn sách một thời ghi dấu thân phụ mình, chắc ông ấy cảm động lắm.


Hai trang trong cuốn Mai lan trúc cúc
Sài Gòn 2008
NGUYỄN THÔNG