Bây giờ, cứ vừa bước chân vào quầy thực phẩm ở các siêu thị thì đập vào mắt là “trên giời dưới mắm”. Đủ loại thương hiệu, đủ hạng cao cấp bình dân, muốn loại nào cũng có. Nhiều loại mắm, cứ theo nhà sản xuất quảng cáo, có cảm giác chỉ cần rưới vào cơm là vét sạch nồi, thay cho thịt cá rau quả. Mắm thế mới là mắm. Nhưng tôi chả bao giờ tin, bởi tôi đã dành đam mê mắm của mình cho mắm cáy mắm tôm mà bu tôi làm từ khi xưa rồi.
Thế mà có những lúc “đói mắm”, thèm mắm chết đi được. Nói đâu xa, thời sinh viên là đói mắm nhất. Không còn mắm cáy như hồi ở nhà, đám sinh viên gốc nông dân rặt như tôi chỉ trông chờ vào nồi nước mắm của nhà ăn tập thể.
Ai đã học các khoa Văn, Sử của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội những năm 1973 – 1976 ở ký túc xá Mễ Trì (huyện Từ Liêm) chắc còn nhớ cái nhà ăn phía sau nhà C2. Nó bị bom Mỹ xơi gọn đúng một nửa, nửa phần còn lại y nguyên. Cũng giống như cái nhà D6 cao 5 tầng bên khu Trường đại học Ngoại ngữ, lối sang bên ĐH Tổng hợp, bom laser chặt hẳn một nửa, cứ như ai lấy con dao rựa khổng lồ sắc lẻm chặt một phát đứt đôi. Đó là kết quả của những đợt máy bay Mỹ tháng 12.1972 đánh vào khu phát sóng của Đài tiếng nói Việt Nam đặt tại Mễ Trì, nếu từ nhà thờ Phùng Khoang vào sâu còn khoảng nửa cây số. Suốt nhiều năm liền thời hậu chiến, do khó khăn, người ta vẫn giữ lại, sử dụng cái nhà ăn cũng như tòa nhà D6 một nửa ấy để làm việc, coi như chả có gì vừa xảy ra. Từng ấy năm đại học, ngày nào đám sinh viên chúng tôi cũng phải ngắm những chứng tích chiến tranh, sản phẩm của khoa học quân sự này. Nhiều năm sau, khi cả đám đã tốt nghiệp, tỏa đi khắp nơi, thỉnh thoảng tôi hỏi thăm mấy đứa được giữ lại khoa, hỏi cái nhà ăn có còn không, chúng bảo còn. Đến khi “hàn gắn vết thương chiến tranh”, nhất là vào thời kỳ đô thị hóa, tấc đất tấc vàng, người ta đã đập bỏ đi. Tôi rất tiếc, giá cái nửa nhà D6 đó mà giữ lại làm kỷ niệm thời chiến thì tuyệt biết bao nhiêu. Tôi và người bạn gái học bên trường Ngoại ngữ cũng đã nhiều lần trú mưa ở hàng hiên của nó, mải trò chuyện tán nhau đến khi trời tạnh nhìn lên giời thì trăng đã lặn từ bao giờ.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016
Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016
Tên đường Gia Long
Cũng như mọi thế lực chính trị nhất thời khác, cộng sản có đúng có sai, có công có tội. Phủ nhận sạch trơn mặt này mặt nọ đều là không công bằng. Tôi sống với họ đã lâu, tôi biết họ có nhiều điều tốt, và cũng nhiều điều xấu.
Cải dở của người cộng sản là luôn cho rằng mình đúng, mình làm cái gì cũng đúng, để từ đó không chịu sửa sai, dù sai lè lè.
Họ nhận họ có công thống nhất đất nước nhưng ngay sau khi tiến vào Sài Gòn thì một trong những việc đầu tiên là xóa sổ tên đường Gia Long, vị hoàng đế có công thống nhất đất nước sau bao nhiêu năm chia năm sẻ bảy (chứ không chỉ chia đôi như thời họ), uy vũ còn bao trùm hơn họ. Làm như thế khác chi sổ toẹt vào chính mồm mình.
Chả đòi hỏi gì nhiều, bao giờ họ chính thức thừa nhận sai lầm, đặt lại tên đường Gia Long cho con đường lớn nhất, đẹp nhất Sài Gòn, nơi chính vị vua này đã mở cõi, giữ đất về cho con cháu, thì tôi mới dám phần nào tin là họ thực lòng với tổ tiên, dân tộc.
Cải dở của người cộng sản là luôn cho rằng mình đúng, mình làm cái gì cũng đúng, để từ đó không chịu sửa sai, dù sai lè lè.
Họ nhận họ có công thống nhất đất nước nhưng ngay sau khi tiến vào Sài Gòn thì một trong những việc đầu tiên là xóa sổ tên đường Gia Long, vị hoàng đế có công thống nhất đất nước sau bao nhiêu năm chia năm sẻ bảy (chứ không chỉ chia đôi như thời họ), uy vũ còn bao trùm hơn họ. Làm như thế khác chi sổ toẹt vào chính mồm mình.
Thời chúng tôi học phổ thông, suốt từ bé đến nhớn, họ dạy chúng tôi rằng Gia Long bán nước, "cõng rắn cắn gà nhà" (đến nỗi câu ghê gớm này chết luôn vào vua Gia Long), dựa vào Pháp để diệt Tây Sơn Nguyễn Huệ. Theo họ, dựa vào ngoại bang là cái tội không thể nào gột rửa. Nào họ không nghĩ tới chuyện chính họ cũng lôi Liên Xô, Trung Quốc về, để có thêm sức cho cuộc nồi da xáo thịt, dù có mượn màu quốc tế vô sản, hữu nghị anh em thì bản chất cũng chẳng khác chi.
Chả đòi hỏi gì nhiều, bao giờ họ chính thức thừa nhận sai lầm, đặt lại tên đường Gia Long cho con đường lớn nhất, đẹp nhất Sài Gòn, nơi chính vị vua này đã mở cõi, giữ đất về cho con cháu, thì tôi mới dám phần nào tin là họ thực lòng với tổ tiên, dân tộc.
Nguyễn Thông
Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016
Vịnh giáo sư
Cả nước lại vừa thêm hơn 700 giáo sư giáo siếc
Dân đã nặng đòn cai trị, lại còng lưng gánh thêm đám trí thức nửa mùa.
Dân đã nặng đòn cai trị, lại còng lưng gánh thêm đám trí thức nửa mùa.
Sao quá nhiều giáo sư tiến sĩ mà nước cứ khổ nghèo định mệnh
Quay bên nọ bên kia hết chát lại chua
Người làm ruộng kiếm cơm nuôi người có học
Người có học phần đông chả biết làm gì chỉ giỏi ba hoa
Cả đám viện nọ viện kia, rồi trường này trường khác
Dung dưỡng đám quân Nguyên không chế nổi chiếc máy lọc nước ngọt cho bộ đội đảo xa.
Người áo vá cặm cụi lội bùn trên đồng ruộng
Chẳng thèm quan tâm những tiến sĩ giáo sư chính trị cám hâm
Nuôi heo có ích hơn nuôi ăn mày có học
Nhưng “có học” ơi, cứ ăn bám mãi nhân dân cũng phải biết ngượng ngùng.
Nguyễn Thông
Cả đám viện nọ viện kia, rồi trường này trường khác
Dung dưỡng đám quân Nguyên không chế nổi chiếc máy lọc nước ngọt cho bộ đội đảo xa.
Người áo vá cặm cụi lội bùn trên đồng ruộng
Chẳng thèm quan tâm những tiến sĩ giáo sư chính trị cám hâm
Nuôi heo có ích hơn nuôi ăn mày có học
Nhưng “có học” ơi, cứ ăn bám mãi nhân dân cũng phải biết ngượng ngùng.
Nguyễn Thông
Dành cho K.17: Thông báo mới về họp lớp, hội khoa - 2016
Thân
mến gửi các anh chị và các bạn sinh viên K.17 Văn khoa (Văn, Hán Nôm, Ngữ)
Ban
Tổ chức chương trình Hội khóa 17 (K.17, các ngành Văn, Hán Nôm, Ngữ) Khoa Ngữ
văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội nhân kỷ niệm 40 năm ra trường (1976-2016)
xin thông báo với các anh chị:
Đến
nay mọi công việc chuẩn bị cho ngày Hội K.17 đã hoàn tất, sẵn sàng đón tiếp các
thầy và các bạn trên mọi miền đất nước về dự.
Chúng
tôi đã gọi điện, gửi email, gửi thư mời và chương trình Hội K.17 (qua đường bưu
điện) đến các bạn ở các tỉnh, bạn Nguyễn Huy Hoàng ở Nga, hai bạn Hồ Thu Hiền
và Hoàng Thanh Vinh ở Ba Lan.
Các
bạn ở Hà Nội (Văn, Ngữ, Hán Nôm) đã biết rõ thông tin.
Đã
chuyển thư mời và gọi điện thoại cho 11 thầy cô giáo và đã thống nhất về việc
đón tiếp, tặng quà kỷ niệm cho các thầy cô.
Đã
đặt khách sạn, hội trường, ăn tối và liên hoan. Khách sạn Công đoàn rộng, đẹp
ngay sau Cung Văn hóa Hữu Nghị HN, gần công viên Thống Nhất rất tiện cho sự nghỉ
ngơi, giải trí.
Một
số anh chị đã đăng ký các tiết mục văn nghệ, đọc thơ, đọc trường ca, tấu hài
trong ngày Hội K.17 và buổi tối đi dã ngoại.
Do
trời đã chuyển sang đông, thời tiết lạnh nên Ban Tổ chức đã quyết định đi dã
ngoại tại Khu du lịch và nghỉ dưỡng suối khoáng nóng Kim Bôi (Hòa Bình), cách
Hà Nội 70km thay vì đi Thanh Hóa như đã thông báo. Các anh chị sẽ được “ngủ
thân mật” tại nhà sàn, tắm nước khoáng nóng; chị Trần Thị Sánh đã hợp đồng xe ô
tô du lịch sạch đẹp và nhà sàn cùng các bữa ăn uống tại Kim Bôi.
Hội
Khoa kéo dài trong 4 ngày nhưng hội chính sẽ diễn ra vào ngày 20.11 (trước đó dự
kiến vào ngày 19.11) nên ngày 19.11 các anh chị sẽ tự do đến chơi nhà bạn bè, thăm
danh lam thắng cảnh Hà Nội. Chị Trần Thị Sánh có nhã ý mời các anh chị ở các tỉnh
đi chơi một vài điểm du lịch gần Hà Nội.
Ban
Tổ chức đã nhận được một số sách, thơ của các anh chị gửi tặng Khoa.
Mọi công việc đã sẵn sàng, rất mong các
anh chi và các bạn bồi bổ sức khỏe và thu xếp thời gian để lên đường.
Ban Tổ chức
Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016
Đại họa với Hà Tĩnh
Tỉnh Hà Tĩnh dồn dập gánh chịu đại họa. Đại họa đến với Hà Tĩnh từ nhiều phía, cả thiên tai và nhân tai .
Lũ dữ cuối tháng 10 chưa kịp ngớt, hậu họa còn chồng chất, đầu tháng 11 lại bị nhấn chìm trong đợt lũ tiếp theo. Hà Tĩnh cũng như miền Trung nói chung từ bao đời phải hứng chịu bão to, lũ lớn.
Không chinh phục được quái vật thiên tai thì buộc phải thích ứng. Sự thích ứng bất đắc dĩ ấy nhiều nơi, nhiều thế hệ phải trả giá đắt. Dân miền Trung nghèo bởi thiên tai dồn dập, dĩ nhiên còn có nguyên nhân chủ quan .
Thiên tai không giảm mà còn tăng, hệ lụy tất yếu của môi trường tự nhiên bị xâm hại cực kỳ nghiêm trọng.
Đại họa ập đến với Hà Tĩnh không chỉ bởi thiên tai mà còn có nhân tai.
Cùng đồng loại, thay vì ngăn chặn thiên tai, có những kẻ nhẫn tâm tạo thêm tai họa cho dân chúng.
Thủy điện Hố Hô trở thành nhân tai khủng khiếp với dân chúng Hà Tĩnh.
Hai đợt lũ kế tiếp vừa rồi, khi mà làng xóm đang bị chìm ngập, thủy điện Hố Hô điên rồ xả nước, bồi thêm tang tóc cho người dân .
Cả 2 lần thủy điện Hố Hô đều xả nước vào ban đêm. Hành động ấy khác chi là mật phục, đánh lén.
Lũ dữ cuối tháng 10 chưa kịp ngớt, hậu họa còn chồng chất, đầu tháng 11 lại bị nhấn chìm trong đợt lũ tiếp theo. Hà Tĩnh cũng như miền Trung nói chung từ bao đời phải hứng chịu bão to, lũ lớn.
Không chinh phục được quái vật thiên tai thì buộc phải thích ứng. Sự thích ứng bất đắc dĩ ấy nhiều nơi, nhiều thế hệ phải trả giá đắt. Dân miền Trung nghèo bởi thiên tai dồn dập, dĩ nhiên còn có nguyên nhân chủ quan .
Thiên tai không giảm mà còn tăng, hệ lụy tất yếu của môi trường tự nhiên bị xâm hại cực kỳ nghiêm trọng.
Đại họa ập đến với Hà Tĩnh không chỉ bởi thiên tai mà còn có nhân tai.
Cùng đồng loại, thay vì ngăn chặn thiên tai, có những kẻ nhẫn tâm tạo thêm tai họa cho dân chúng.
Thủy điện Hố Hô trở thành nhân tai khủng khiếp với dân chúng Hà Tĩnh.
Hai đợt lũ kế tiếp vừa rồi, khi mà làng xóm đang bị chìm ngập, thủy điện Hố Hô điên rồ xả nước, bồi thêm tang tóc cho người dân .
Cả 2 lần thủy điện Hố Hô đều xả nước vào ban đêm. Hành động ấy khác chi là mật phục, đánh lén.
Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016
Một nhà lãnh đạo tiên phong
Ông Chín Cần, một ngọn cờ đổi mới, đã ra đi.
Ông thuộc thế hệ những nhà lãnh đạo địa phương có đóng góp to lớn vào cục diện thay đổi của đất nước sau 1975.
"Bù giá vào lương", cuộc cải cách cơ chế "phân phối lưu thông" ở tỉnh Long An do ông lãnh đạo, thực chất là áp dụng thị trường trong xử lý mối quan hệ tiền tệ, hàng hoá và giá cả, một tử huyệt của lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ ở Việt Nam.
Cuộc cải cách ấy ở Long An, cùng với những cải cách ở TP.HCM do ông Võ Văn Kiệt lãnh đạo, đã có đóng góp quyết định hình thành đường lối đổi mới do ông Trường Chinh khởi thảo vả trình bày ở đại hội VI của đảng vào 1986.
Trên chính trường ông nổi lên như một nhà lãnh đạo địa phương nổi bật. Có lẽ cũng vì vậy ông được điều ra trung ương, trải qua nhiều vị trí, được những nhà lãnh đạo cấp cao chuẩn bị để đảm đương vị trí Trưởng ban Tổ chức TƯ.
Ông thuộc thế hệ những nhà lãnh đạo địa phương có đóng góp to lớn vào cục diện thay đổi của đất nước sau 1975.
"Bù giá vào lương", cuộc cải cách cơ chế "phân phối lưu thông" ở tỉnh Long An do ông lãnh đạo, thực chất là áp dụng thị trường trong xử lý mối quan hệ tiền tệ, hàng hoá và giá cả, một tử huyệt của lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ ở Việt Nam.
Cuộc cải cách ấy ở Long An, cùng với những cải cách ở TP.HCM do ông Võ Văn Kiệt lãnh đạo, đã có đóng góp quyết định hình thành đường lối đổi mới do ông Trường Chinh khởi thảo vả trình bày ở đại hội VI của đảng vào 1986.
Trên chính trường ông nổi lên như một nhà lãnh đạo địa phương nổi bật. Có lẽ cũng vì vậy ông được điều ra trung ương, trải qua nhiều vị trí, được những nhà lãnh đạo cấp cao chuẩn bị để đảm đương vị trí Trưởng ban Tổ chức TƯ.
Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016
Chuyện nước mắm (phần 3)
Không có mắm không phải bởi vì dân không có mắm. Bác nhà thơ Phạm Tiến Duật dưới âm ti mà nghe được câu này chắc gật đầu công nhận. Thôi thì hàng hóa hiếm hoi, bao nhiêu của ngon vật lạ nhà nước thu nắm hết, mắm chai chỉ dành cho cán bộ và dân thành thị, nên nông dân đành tự cấp tự túc như thuở kháng chiến. Chả cần mắm chai Cát Hải loại 3, những nhà nghèo ở quê, nghèo mấy đi chăng nữa, luôn có vại mắm cáy hoặc mắm còng. Nhà nào khá giả, dư dật hơn thì thêm những hũ mắm tôm, mắm tép. Tất cả đều tự làm, đúng tinh thần tự lực cánh sinh. Sau này, năm 1966, khi cụ Hồ ban cho thế nhân câu nói nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” thì dân gian cũng lập tức biến tấu ngay thành “Không có gì quý hơn độc lập tự lo”. Trông vào nhà nước có mà rã họng.
Cần phân biệt cái vại với cái chum. Cùng làm bằng đất sét nung già, gọi là sành, nhưng cái vại thì nhỏ và thẳng, cao cỡ hơn 55-60 phân, đường kính 40-45 phân, đựng mắm hoặc để muối dưa cải, nén cà… Còn chum có cái lớn cái nhỏ, lưng cong, đít chum và miệng chum thắt lại, giữa phình to ra. Có chum to đến mức đổ vào đó vài tạ thóc, hoặc đựng nước mưa ăn cả tuần. Chum là một thứ tài sản không phải nhà nông dân nào cũng có. Thày bu tôi, suốt mấy chục năm làm ruộng, chỉ sắm được 2 cái chum đựng thóc, cất kỹ trong buồng. Thóc phơi thật nỏ, đổ vào chum để cả năm chả sao. Lại nhớ hồi tôi ở nhà tập thể tại quận 5 Sài Gòn, dạo năm 1980 trở về sau hay bị cúp nước bèn xuống phố sành sứ đầu đường Nguyễn Chí Thanh mua cái chum 200 lít để chứa. Mấy thầy trò khệ nệ khênh lên tận tầng 5. Đến khi chuyển nhà năm 2000 không dùng nữa, cho chả ai lấy, bỏ thì thương vương thì tội, không hơi sức đâu đem xuống đất, bèn bỏ ngoài hành lang, viết chữ rõ to dán vào: “Chum tốt, ai lấy cũng được, miễn phí”. Thế mà mấy tháng giời mới có người khuân đi. Có lẽ đối với tôi đấy là ví dụ rõ nhất về mức sống đi lên.
Để làm mắm, dân quê tôi chỉ dùng vại sành. Bu tôi xuống mạn Bàng La, Đồ Sơn (Hải Phòng) mua cáy mua còng. Con cáy thuộc họ cua nhưng chỉ to hơn 2 đốt ngón tay, sống trong bãi ven biển, chân nó nhiều lông mịn nên dính đầy đất, rửa sạch bọn này mệt lắm, rất tốn nước. Bọn còng thì nhỏ hơn nhưng sạch, có 2 cái còng to màu đỏ, nhiều khi còng cái (còng lớn) còn to hơn cả thân nó. Người ta chỉ làm mắm cáy mắm còng mà không làm mắm rốc, mắm rạm bởi 2 con rạm rốc này sống ở nước ngọt, tanh lắm, chỉ để nấu chín, không ăn sống được.
Cần phân biệt cái vại với cái chum. Cùng làm bằng đất sét nung già, gọi là sành, nhưng cái vại thì nhỏ và thẳng, cao cỡ hơn 55-60 phân, đường kính 40-45 phân, đựng mắm hoặc để muối dưa cải, nén cà… Còn chum có cái lớn cái nhỏ, lưng cong, đít chum và miệng chum thắt lại, giữa phình to ra. Có chum to đến mức đổ vào đó vài tạ thóc, hoặc đựng nước mưa ăn cả tuần. Chum là một thứ tài sản không phải nhà nông dân nào cũng có. Thày bu tôi, suốt mấy chục năm làm ruộng, chỉ sắm được 2 cái chum đựng thóc, cất kỹ trong buồng. Thóc phơi thật nỏ, đổ vào chum để cả năm chả sao. Lại nhớ hồi tôi ở nhà tập thể tại quận 5 Sài Gòn, dạo năm 1980 trở về sau hay bị cúp nước bèn xuống phố sành sứ đầu đường Nguyễn Chí Thanh mua cái chum 200 lít để chứa. Mấy thầy trò khệ nệ khênh lên tận tầng 5. Đến khi chuyển nhà năm 2000 không dùng nữa, cho chả ai lấy, bỏ thì thương vương thì tội, không hơi sức đâu đem xuống đất, bèn bỏ ngoài hành lang, viết chữ rõ to dán vào: “Chum tốt, ai lấy cũng được, miễn phí”. Thế mà mấy tháng giời mới có người khuân đi. Có lẽ đối với tôi đấy là ví dụ rõ nhất về mức sống đi lên.
Để làm mắm, dân quê tôi chỉ dùng vại sành. Bu tôi xuống mạn Bàng La, Đồ Sơn (Hải Phòng) mua cáy mua còng. Con cáy thuộc họ cua nhưng chỉ to hơn 2 đốt ngón tay, sống trong bãi ven biển, chân nó nhiều lông mịn nên dính đầy đất, rửa sạch bọn này mệt lắm, rất tốn nước. Bọn còng thì nhỏ hơn nhưng sạch, có 2 cái còng to màu đỏ, nhiều khi còng cái (còng lớn) còn to hơn cả thân nó. Người ta chỉ làm mắm cáy mắm còng mà không làm mắm rốc, mắm rạm bởi 2 con rạm rốc này sống ở nước ngọt, tanh lắm, chỉ để nấu chín, không ăn sống được.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)