Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn văn khoa tổng hợp hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn khoa tổng hợp hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

Chuyện anh Nguyễn Ngọc Ký

Nhà giáo, nhà văn, người nổi tiếng Nguyễn Ngọc Ký vừa từ trần đêm qua (nửa đêm về sáng 28.9 tây) tại Sài Gòn. Vẫn biết luật sinh lão bệnh tử, ai rồi cũng phải đi, nhưng thầy Ký “lên đường” tạo nhiều tình cảm mến thương kính phục. Ông hàng xóm nhà tôi bảo đó là “dân tang”, một thứ nghi lễ đặc biệt, ngay cả quốc tang cũng chẳng sánh bằng.

Tôi mạo muội gọi thầy Ký bằng anh bởi trong đời tôi cũng như người lứa tuổi tôi, thế hệ tôi, anh Ký luôn là người anh đáng ngưỡng mộ. So với nhiều cá nhân điển hình khác được bộ máy xã hội tạo dựng, nhất là những điển hình hóa gắn với chiến tranh như kiểu Lê Mã Lương, Vương Đình Cung, Trịnh Tố Tâm, La Thị Tám… thì gương Nguyễn Ngọc Ký thật hơn, gần gũi hơn, ít màu mè tô vẽ hơn, ít giả tạo hơn. Cái đẹp toát lên từ Nguyễn Ngọc Ký là cái thật, người thật việc thật, có thể chứng kiến bằng mắt, kiểm chứng cụ thể, có muốn tô điểm cho nó đẹp hơn lên cũng chả được.

Đám học trò cấp 1 ở miền Bắc những năm đầu thập niên 60 hầu như đứa nào cũng biết anh Ký. Đơn giản là sách Tập đọc (bây giờ gọi là sách Tiếng Việt) lớp 3 có bài về anh, tên gọi “Anh Ký đi học”. Tôi học lớp 3 (năm 1965) đúng vào năm bài ấy lần đầu vào sách giáo khoa, bài kể về một học trò ở huyện Hải Hậu, Nam Định bị liệt cả hai tay nhưng đã bằng nghị lực vượt lên nghịch cảnh, đi học, viết bằng chân, là học sinh giỏi, được cụ Hồ khen và tặng huy hiệu. Nổi tiếng tới mức vào cả sách giáo khoa, không phải ai cũng được vậy.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

Đồng Hới và Bính, và những ngày khó quên

Với người đi chơi nhởi, thoát ra khỏi cuộc sống tù túng tẻ nhạt đời thường, thì thời gian tung tẩy cảm thấy thật là ngắn ngủi. Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Thoắt cái đã hết ngày. Chả bù lúc ở nhà, cứ ngó tới ngó lui, đếm từng tiếng tí tách của kim giây đồng hồ. Mấy bữa ở Đồng Hới Quảng Bình, ở Huế (mình chỉ có nhõn buổi trưa xứ Huế), và Đà Nẵng, cứ như giấc mơ. Hì hì, ngày vui nào mà chẳng như mơ. Về Sài Gòn đã 2 hôm rồi, “lại lao vào việc lòng say sưa/hết sớm thôi chiều nắng lại mưa”, bấn bíu với đủ thứ bực bội khó chịu, thế mà trong giấc ngủ chập chờn, vẫn thấy rõ mồn một cả đám giặc ngồi dúi dụi cuối xe, những Ngọc Tân, Bá Tân, Xuân Ba, mình, lẫn vào đó là bác cả Thụn, cái Thúy xẩm nữa. Ai nấy hùng hổ kết án thằng Bá Tân con cụ Hồ thiếu cảnh giác cách mạng, ham rượu chè, mắc phải bí đao kế. Ngọc Tân trừng mắt dí tay ngay trán thằng con cụ bảo không chừng mày là nội gián, Tân ợ, mày mà gián điệp chuyến này, cứ từng giờ báo cáo hết về “trung tâm bí đao” thì bỏ mẹ chúng tao. Chả là đang xảy ra việc nhường chức trưởng đoàn. Bất chợt thằng Ba lắc lư 3 chỏm tóc tam mao được cái Thúy cái Hà kết cho lúc ăn sáng, nửa thì thầm nửa kêu toáng lên, chúng mày ơi, thằng Tân dính bí đao kế, còn lão Ngọc Hồng trúng phải bí ngô kế, ối giời ôi. Cả đám bò lăn ra cười, chỉ có lão cả Hồng ngồi trên ngơ ngác dòm xuống đéo hiểu chúng nó nói gì về mình.

Ấy, những chuyện như vậy thì làm sao quên nổi. Tuổi già, U70 cả rồi, vô minh vô thức, buồn cũng ít mà vui lại càng ít. Nói đâu xa, mình đây, nhiều hôm cứ ngồi thừ ra ngắm con thạch sùng cụt đuôi bò trên tường, tự hỏi đâu là thạch sùng, đâu là Thông cào, không biết nữa. Rất tẻ nhạt. May còn có bạn bè. Chỉ K17 mới có thể đem đến niềm vui liên tục, bất tận, dai đẳng như mấy hôm rồi. Lại bần thần mong, hôm nào bất chợt mở điện thoại hoặc phây búc, thấy chúng nó nhắn tin, cào ơi, mày có đi không, chúng tao sắp sửa lên đường đấy, có cả Nga đi nữa đấy…

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2020

Chuyện Xuân Ba xài in tơ nét

Nói gì thì nói, y là một trong vài đứa giỏi nhất lớp văn K17. Nhưng giỏi không có nghĩa không có dở, thậm chí cực dở. Y cũng vậy. Điều may mắn cho y là không phải dở về tư cách đạo đức lập trường cách mạng lý tưởng cộng sản… mà về trình độ tin học in tơ nét (internet).

Cứ so sánh thế này. Nếu cả nước bây giờ đang hăng hái làm cuộc cách mạng 4 chấm 0 theo chỉ đạo của ông Phúc (chả biết lão Phúc ấy có biết tí gì về công nghệ thông tin không, hay cũng cỡ thằng Ba), những đứa nhì nhằng nhất cũng phải đạt 2 chấm hoặc 2 phảy rưỡi chấm 0 thì thằng Ba nhà K17 mình tôi nghĩ mới lấy bằng hoặc chứng chỉ trình độ 0 phẩy 5 chấm 0. Thế mà cứ… nhơn nhơn coi trời bằng vung.

Thực ra, y là một trong số rất ít của K17 ta tiếp cận sớm nhất lĩnh vực công nghệ thông tin. Hồi năm 90 gì đó, tôi đã đọc trên báo Tiền Phong một vệt bài y viết về chuyến đi Mỹ và mấy nước châu Âu, ngồi poọc ba ga “xe” của ông Phan Văn Khải. Làm báo ở nhà thì muốn viết lách tác nghiệp sao cũng được, chả ma nào thèm để ý, nhưng ra ngoài thì hơi lăn tăn chút thể diện, và bất tiện nhất là ôm theo mớ bút giấy lách cách trong thời đại kỹ thuật số. Y kể, thằng con giai, tôi nghĩ chắc thằng Việt Đông, vừa đi Úc về, nó bảo thày nó, thày ơi để con mua cho cái láp tốp (laptop). Y vặn thằng con, láp tốp là thứ chi chi, cu con giải thích là cái máy vi tính xách tay ấy, để thày đi tác nghiệp cho tiện. Thày chỉ việc gõ bài rồi gửi về ngay trong ngày, cả ảnh iếc nữa, không cần phải đợi tới cuối chuyến về tới Hồ Xuân Hương mới nộp. Y sướng quá, giục con mua ngay. Nó lại huấn luyện cho vài đường cơ bản, thế là y chính thức bước vào cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật then chốt.

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

Người phố Bần (dành cho K17)

Mỗi năm, trên phây búc (Facebook), phần mềm quản trị tự động lại nhắc “Hôm nay là sinh nhật của Lê Thanh Nga”. Hôm nay mà phây búc nói, đó là ngày 26.11, tức… hôm nay.

Viết về bạn Nga, tôi đã tốn mấy cây bút bi rồi, mòn hết một bộ bàn phím rồi, cũng đã đăng lên trang nhà K17 đôi lần rồi, kể cả trang cũ lẫn trang mới. Viết nữa, sợ có ai đó bảo sao mày kể lể về “nó” nhiều thế. Nhưng giời ạ, tôi lẩn mẩn thêm là bởi có lý do riêng của mình.

Cho tới nay, tôi vẫn cực kỳ ấn tượng về cái địa danh quê bạn ấy, Bần Yên Nhân. Hồi xưa, thời chúng ta còn K17, mỗi lần đi về tuyến đường 5 Hà Nội - Hải Phòng, tôi đều phải qua Bần. Gần Bần là nông trường Tam thiên mẫu (rộng ba nghìn mẫu), là đại thủy nông Bắc Hưng Hải, là phố Nối… nhưng tôi chỉ nhớ, chỉ chú ý tới Bần. Cứ mỗi lần xe qua, ngồi lèn cá hộp trong cái xe khách Thống Nhất tòng tọc chạy long sòng sọc, hành trình có trăm cây số nhưng hơn nửa ngày mới tới nơi, mỗi khi tới gần phố Bần là tôi phải cố quay nghiêng quay ngả, thò bằng được cổ cò ra ô cửa xe đầy bụi, để ngắm phố Bần, để nhìn cho được hiệu ảnh đơn sơ trong ngôi nhà ngói hai tầng ven phố, lòng thầm bảo nhà Nga đây, nhà Nga đây.

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2019

Thầy logic (dành cho K17)

Nhân ngày 20.11, mình kể chuyện ngắn ngủn này

K17 Văn Hán Ngữ chúng ta suốt 4 năm rưỡi ở Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội được học rất nhiều thầy cô. Tinh người giỏi (ấy là mình đang nói về thầy cô, chứ không phải về sinh viên - đám giặc). Những cây đa cây đề đinh lim sến táu gụ tếch hoàng đàn sưa… quý hiếm nhiều lắm, không thể kể ra đây hết được.

Mỗi thầy cô dạy một phần, mà hàng chục thầy cô, cho nên tới giờ tụi mình vẫn chưa tiêu hóa hết kiến thức là vậy. Có những thầy dạy vài chục tiết, thậm chí có thầy kéo dài cả năm trời. Thầy Hà Minh Đức, thầy Nguyễn Trường Lịch, thầy Nguyễn Kim Đính, thầy Chu Xuân Diên, thầy Hoàng Xuân Nhị, thầy Trương Quang Chế, cô Ngô Anh Thơ (mình kể bên văn thôi) là những thầy cô gắn bó lâu dài với đám giặc chúng ta. Có những thầy dạy ít, chẳng qua do ít tiết, như thầy Đỗ Ngoạn, thầy Huy Liên, thầy Trần Vĩnh, thầy Đinh Gia Khánh, cô Đặng Thị Hạnh, thầy Lý Tân Hoa, thầy Nguyễn Tài Cẩn, thầy Hoàng Trọng Phiến… Nhưng có lẽ ít tiết nhất là thầy Bùi Thanh Quất.

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Đêm trắng Bách Thảo – Thiên Sơn Suối Ngà (kỳ 5, cuối)

Dân văn tụi mình, chả riêng gì K17, chắc ai cũng biết cuốn tiểu thuyết lừng danh “Năm đêm trắng” của F.Dostoievski. Nghe thầy Chung giảng, đứa nào cũng mê Đốt. Rồi lại xem phim ở rạp Kinh Đô gần vườn hoa Cửa Nam nữa. Chuyện về hai người trẻ gặp nhau trong 5 đêm trắng và nhờ những đêm kỳ diệu đó đã thoát ra khỏi cuộc sống cô độc. Chả biết các anh chị, các bạn K17 khác thế nào, nhưng bản thân mình, mình đã mang cái tâm trạng và sự giải thoát ấy mỗi lần K17 đàn đúm. Và lần này, dù chỉ có 2 đêm trắng, một đêm Bách Thảo và một đêm Thiên Sơn Suối Ngà.

Mà lạ. Có lần, mình nghe cái Bùi Lan Hoa, hay đứa nào đó, cười bảo “chả có gì, chỉ có già”. Ấy là nó đùa vui. Nhưng mình tưởng thật. Đều đuôi 6 đầu 7 cả, chả già thì trẻ với ai. Ngày thường, ai cũng nói thằng Cào như ông cụ. Già nua, nhăn nheo, gắt gỏng, cam chịu. Có lúc mình ao ước được trẻ như… anh Hồng, Trần Ngọc Hồng, hì hì. Vậy mà lần nào cũng thế, cứ gặp đồng bọn K17 mình lại tự thoắt thay đổi, như đứa trẻ con, nhí nhố, múa may, chắc trông rất buồn cười. Họp lớp, họp khóa giống như cuộc cải lão hoàn đồng. Những đêm trắng như làm ta trẻ lại, sống với ngày xưa, cảm thấy 4 năm Mễ Trì thật gần chứ không phải xa lơ xa lắc.

Bữa tối xơi món lợn mán ở Thiên Sơn Suối Ngà quả là đáng chép vào sử biên niên của K17. Thằng Ba múa may thế nào dính cụ nó tóc vào bát mắm tôm để chấm đặc sản nòng nợn nuộc. Nê Lin chưa kịp bàn về nòng nợn nuộc thì mớ “mấn như ti” của nó đã bàn rất đậm. Đám con gái cười như chưa bao giờ được cười, đứa thì lấy khăn ướt lau mắm tôm, đứa chạy tìm dây thun, đứa lo cột tóc, đứa chụp ảnh, đứa bón cơm cho nó… Tất cả xúm xít quanh thằng giặc đầy hương mắm. Lúc ấy trông nó chẳng khác gì ông vua, mặc cho đám phi tần, thị nữ, quân hầu muốn vật vã, hành hạ, làm gì thì làm. Nhà ăn Suối Ngà vui như đám hội. Bọn trẻ phục vụ đứng ngó mấy ông bà chú bác ngả nghiêng cười giỡn vui tươi, chả khác gì được xem tuồng chèo miễn phí. Mỗi lần như thế, có cảm giác K17 không phải là bọn sồn sồn ngấp nghé già nữa mà đám trẻ mục đồng. Hỏi sao mà không trẻ lại, không vui cho được.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

Đêm trắng Bách Thảo – Thiên Sơn Suối Ngà (kỳ 4)

Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới một thành viên K17 không có mặt mà cũng như có trong cuộc hội ngộ mùa thu Kỷ Hợi này. Nguyễn Huy Hoàng. Mình cố ý tách y ra khỏi bài kỳ 3 để mọi người cùng nhớ về một người bạn đặc biệt đang ở nơi xa xôi, hơn vạn cây số.

Hoàng đen không phải mọi cuộc vui đều vắng, dù ở rất xa, đi về quá tốn kém. Lần hội khoa hội khóa năm 2006, Hoàng là cục nam châm thu hút bạn bè. Y kể chuyện, đọc thơ, y chụp ảnh kỷ niệm với người này người khác, tíu tít cả lên. Mình còn giữ được tấm ảnh rất đẹp mình đận ấy chụp cảnh thầy trò trao đổi trò chuyện tâm đắc, thầy Hà Minh Đức với trò quý Huy Hoàng. Tóc thầy tóc trò sương đậm như nhau. Còn những cuộc khác, nếu y không về, không tham gia thì bao giờ cũng có quà, cho cả bọn. Quà từ nước Nga, của một đồng, công một nén.

Sau đít cua Bách Thảo của bác cả Năng, khi bạn Đạm lên công bố gói quà to đùng Hoàng đen gửi về, mình lẩm bẩm phen này thì sô cô la ngập chân răng. Y như rằng, sướng ngon không thể tả. Mình vừa loi choi chụp ảnh (lấy cớ thôi) vừa thoăn thoắt nhảy bàn này bàn khác nhót sô cô la chén đã đời. Không dám lấy mãi một chỗ sợ “chúng nó” biết mình ăn tham, đồ chết đói. Vừa nhồm nhoàm sô cô la Nga, vừa thầm cầu giời khấn phật sang năm 2020, lại tháng 10, mùa thu, thị Đạm hay thị Hà thị Nga chẳng hạn, hiên ngang cướp diễn đàn hét lên giữa hội trường, các bạn im, im, để tớ thông tin về Nguyễn Huy Hoàng. Thì ra, khi đã yêu nhau, quý nhau chân thành, chung những kỷ niệm, dù cách trở vạn dặm vẫn đến được với nhau.

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Đêm trắng Bách Thảo - Thiên Sơn Suối Ngà (kỳ 3)

Sẽ có ai đó bảo, gớm, chỉ gặp nhau thôi, mà nhều nhào gì đâu, vỏn vẹn mấy chục tiếng đồng hồ, cứ làm như họp quốc hội không bằng, mà viết lắm thế, lại còn tãi ra, lại còn sụt sùi, lại còn kể lể con cà con kê... Nhưng khổ nỗi, mình lâu nay “quen mất nết đi rồi”, vả lại có mấy khi được nói đâu, chứ cứ như bọn Xuân Ba, Bá Tân, thị Thúy, chúng mồm năm miệng mười, chúng cóc cần viết lách, chữ nghĩa, đã đi một nhẽ. Thôi thì ai thích thì đọc, cũng để mua vui được một vài trống canh.

Nếu được nói riêng về những bạn lớp Văn K17, mình sẽ rụt rè bảo thế này, các anh chị ạ, các bạn ạ, chúng ta đã có những tháng ngày thật vui thật đẹp. Cứ tưởng tượng, do… biến đổi khí hậu chẳng hạn, tự dưng K17 tan đàn xẻ nghé, chẳng thế liên lạc gì với nhau, chả nhớ được bất cứ chút xíu ký ức bao nhiêu năm xưa cũ, chắc là buồn lắm. Những người khác, mình không biết thế nào, chứ với bản thân, khi hiểu rằng đang mấp mé già, thì xa lớp, xa bạn bè, xa K17 là điều khó vô cùng, nhiệm vụ bất khả thi. Chả hạn mình không thể thì thào vào tai Xuân Ba hoặc Chiến trắng, rằng không chơi với chúng mày, tao đâu có thiệt gì, tao thiếu quái gì chỗ chơi, v.v.. Mình lâu nay được phong danh hiệu “ba phải”, giống như một dạng chủ tịch ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc K17, mười rằm cũng ư, mười tư cũng gật, cứ thích chơi với tất cả, chả muốn làm mất lòng ai bao giờ. Vậy nên mỗi cuộc gặp, mỗi đêm trắng chỉ bổ sung niềm vui, chỉ thấy vui thôi, kể mãi cũng không hết.

Nói thật lòng, K17, và nhất là đám lớp văn, vốn nghèo. Dạng khơ khớ chỉ đếm được trên đầu ngón tay út. Nhưng tiền bạc không cản trở được những cuộc í ới hẹn hò. Hưu hiếc cả rồi, ra đi là sự đã liều, đi đâu cũng cân nhắc, kể cả về quê, nhưng khi nghe bác cả Năng, bác cả Thuận, bác cả Nguyệt phát tín hiệu là lên đường. Đêm trắng thứ nhất ở vườn Bách Thảo, mình hát cho thằng Đồng nghe “tình sâu với nghĩa nặng, biến ta lại nhớ rừng, nên chi giữa đồng bằng, mà gió ngàn bay về, tìm âm vang sóng vỗ”, đúng cái tâm trạng của đứa ở xa được về tụ với bè bạn. Có cuộc đoàn viên như thế này, xin cảm ơn tất cả anh chị, các bạn.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

Đêm trắng Bách Thảo – Thiên Sơn Suối Ngà (kỳ 2)

Ngày 13.10, tức còn 2 ngày nữa mới tới thời hạn đàn đúm chính thức, mụ Huệ thông báo trên phây búc “Minh con ra rồi”, đã đón thị ở ga Hàng Cỏ. Lại còn khoe ảnh ngả nghiêng với nhau tại nhà ga, cả chiếc cầu thang cuốn hiện đại mới lắp, như để làm bằng chứng. Nếu đương sự là ai khác chứ không phải Minh con - Phan Hồng Minh, mà là Thông cào, Bá Tân, Văn Bảo, Ngô Đồng… chẳng hạn, thì thông tin ấy cũng mau chóng chìm trong sự cảm nhận bình thường. Nhưng đây là… Minh con, người bạn gái nhỏ nhắn xứ Nghệ đã biệt tích suốt từ buổi tan đàn xẻ nghé tới giờ. Cái công truy lùng, truy nã được đương sự Minh, kể ra thì ly kỳ và dài lắm, để khi khác. Đọc mấy chữ information của Huệ, chả biết ai thế nào, chứ riêng mình rất cảm động. Chỉ nghĩ đơn giản rằng, mình ra ngoài ấy sau Minh là kém tình hơn bạn ấy rồi.

Thế là sau những cuộc săn lùng tìm kiếm mò ra được Nguyễn Huy Tưởng (Ý Yên, Nam Định), Nguyễn Sóng Hùng (Kinh Môn, Hải Dương), lần ni là bạn Minh con, hy vọng sắp tới sẽ tòi ra bác Nguyễn Ngọc Xuân (Ninh Bình), anh Trần Nam Việt (Nghệ An), bạn Hà Bích Liên, bạn Nguyễn Thị Mùi (Hà Nội), bạn Phạm Văn Bích (Nam Định), anh Trần Quang Thuật (Hà Nam), anh Chính (Từ Liêm, Hà Nội), các anh chị và các bạn Hán Ngữ nữa, như anh Tuấn (Ngữ), bạn Trương Đức Quả, bạn Viết, bạn Đường (Hán)… Sự tham gia thường xuyên hơn của chị Ngụ, bạn Nam, bạn Mét… sau thời gian dài vắng bóng càng làm cho mái nhà K17 thêm đầm ấm, yêu thương.

Thật cảm động nếu chúng ta biết rằng Sóng Hùng không phải dễ gì “thoát ly gia đình” như Thông cào, bởi Hùng sức khỏe hơi bị kém, lại ở xa nhất trong hội K17, tuốt tận Cần Thơ; rồi chị Ngụ cũng tuổi tác rồi, đâu còn phơi phới tuổi xuân TNXP “người con gái quê ta, đôi mắt trong tựa ngọc, như giọt nước sông La” ngày xưa, thế mà cả hai đều có mặt vượt kế hoạch đề ra. Thú thực, khi nhìn thấy chị Ngụ, thấy Sóng Hùng ở cổng nhà khách Bách Thảo, mình ứa nước mắt cảm động, vội lén lấy vạt áo chùi đi kẻo mụ Hà mụ Đạm mụ Hương con… đang gần đó nhìn thấy thì… xấu hổ lắm. Trai tráng đếch gì hơi tí khóc nhè.

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Đêm trắng Bách Thảo – Thiên Sơn Suối Ngà (kỳ 1)

Chiều 19 tháng 10, khi mình gõ những chữ này. Đã hai ngày trôi đi mà tất cả cứ hiện rõ mồn một. Mái tóc trắng phớ (đen được là nhờ nhuộm) với bộ óc già nua theo năm tháng vẫn còn chất khít khìn khịt đủ thứ âm thanh, hình ảnh của hơn 6 chục tiếng đồng hồ. Những khoảnh khắc trong đời không dễ gì có được.

Lúc ngồi ở nhà chờ sân tàu bay Nội Bài, mình bỗng dưng bần thần, tặc lưỡi tự bảo, biết thế vứt bà nó cái vé khứ hồi vào Sài Gòn, đếch thèm xuống xe chia tay, đếch thèm “Đời vui giờ có vậy/Thoáng ngày vui qua rồi”, ở Hà Nội chơi thêm tối nữa, đêm nữa, lại được tán phét, lại trà lá rượu chè ầm ầm, muốn ra sao thì ra, sướng bao nhiêu không nào. Rồi có khi còn kịp bắt xe ôm tới Mễ Trì, thầm hát bài ca cũ, ngắm cây đại cổ thụ có nhẽ gần bằng tuổi mình bên cánh gà hội trường, quành ra phía sau nhà C2 mường tượng cái hố bom lổn nhổn bê tông lối ra nhà ăn, có cây nhãn bị anh Huy Cờ vặt trụi cành tẽ ra làm tăm, rồi ngó chỗ thầy Chung giặt đồ, thầy Tân hứng nước… Tất cả qua rồi, tất cả vẫn còn, chập chờn chấp chới trước mắt, chỉ có mỗn mình đang chờ tàu bay là thực.

Sau này đám con cháu chút chít K17 sẽ kể cho nhau nghe về bố mẹ, ông bà, các cụ kị nhà nó, rằng vào cuối thu năm Kỷ Hợi, từ ngày 15 tới 17 tháng 10 tây lịch 2019, các cụ ông cụ bà U70, có người U80, từ mọi miền tụ về vườn Bách Thảo thủ đô, không phải để xem cây coi thú, mà đàn đúm, mà làm một cuộc hội ngộ chưa từng có.

Hình như càng già càng có nhu cầu gặp nhau. K17 Văn khoa Tổng hợp mình cũng vậy, thậm chí còn hơn thế, các cụ nhỉ. Nhớ lại, gần như khi tuổi ngoài 40 vẫn gặp rất ít, trừ các anh chị ở Hà Nội í ới túm tụm lúc rảnh rỗi. Sang ngoài 50, tần suất nhìn ngó tăng lên vùn vụt, khi Hòa Bình, khi Huế, lúc Vĩnh Phúc, lúc Sầm Sơn, rồi thủ đô nhà khách Hồ Xuân Hương, nhà khách Công đoàn, rồi lên rừng xuống biển. Tới đận tròn lục thập hoa giáp thì không ai cản được nữa. Cứ ới là đi. Vài mống cũng lên đường. Kéo nhau về Đà Nẵng, ra Quảng Bình, vào Tây Nguyên, thậm chí cả Phú Quốc, Côn Đảo…, rất khiếp. Những cuộc đàn đúm mini không kể xiết, còn cuộc hoành tráng cũng khá nhiều. Trong đời đàn đúm của mình, cuộc nào cũng sâu đậm, ấn tượng, nhưng có nhẽ cuộc Bách Thảo – Thiên Sơn Suối Ngà dưới trời thu Hà thành chỉ chịu đứng sau cuộc hội ngộ năm 2016 nhân kỷ niệm 60 niên thành lập khoa và 40 niên K17 ra trường, xét cả về độ đậm đặc số lượng người lẫn kỷ niệm, ký ức, tình cảm. Ngay tối 15 vừa rồi, coi tấm ảnh chụp chung K17 tại nhà khách vườn Bách Thảo trên phây búc, bạn Nhàn, Trần Thị Nhàn lớp Ngữ khóa 18, đã tỉ mỉ đếm và bảo dững 42 người. Ôi, non hai trung đội, thật sung sướng, cảm ơn Nhàn nhé.

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

Bác cả Năng (kỳ 4, cuối)

Lại nói, lớp ta, khóa 17 ta nhiều đấng bậc, trưởng lão, bác cả, nhưng có những bậc, phần thì do tính cách sống nội tâm, ít chơi bời quan hệ, ngay cả các em K17 xinh già như thế nỉ non thỏ thẻ mà vẫn không động lòng, phần thì ngại, mà chả biết ngại cái gì, phần do cách trở địa lý, vùng sâu vùng xa, phần bị trời điểm danh sớm, v.v.. nên nhiều cụ bặt tăm. Cụ Nguyễn Ngọc Xuân biệt tích cho tới giờ. Các cụ Lê Xuân Sang, Phạm Văn Sỹ, Ngô Đức Nguyên thì lấy visa lên thiên đường sớm quá. Cụ Bùi Trọng Cường ở ngay trung tâm kinh đô nhưng cũng ít khi thấy mặt, ít tham gia trò vui của đàn em, cũng có thể một phần bận bịu vợ trẻ con mọn. Cụ Lê Văn Sơn cũng vậy. Cụ Hoàng Sĩ Chiến lo đắp tình hữu nghị Việt - Lào. Cụ Doãn Tấn thì sức khỏe ngày càng sa sút. Cụ Lê Quốc Lập đối tượng chính sách. Cụ Huy Cờ cứ có lệnh là đi, ít khi vắng mặt nhưng chưa thấy đứng ra làm nhiệm vụ tập hợp, phất… cờ. Bao nhiêu trọng trách, dồn cả vào mấy cụ Lê Tài Thuận, Trần Triều Nguyệt, Trần Ngọc Hồng, Vũ Lệnh Năng. Và thật ngẫu nhiên, các cụ này cắm chốt ở từng quân khu rải ra khắp nước, như những vị tư lệnh của sư đoàn ăn chơi lúc tuổi xế chiều. Tuổi tác càng cao lại càng xông xáo kịch liệt, các em càng thích. Con thuyền K17 còn trôi nổi được như bi chừ, phần lớn nhờ vào công của các cụ. Nhất là cụ Năng.

Suốt mấy năm mài mông ở Mễ Trì, cứ nghỉ hè là tôi tót về nhà. Vừa cắt cơm được gần một tháng, lấy tem phiếu lương thực để sau này đổi bánh cuốn Thanh Trì hoặc ra Ngã Tư Sở đổi bánh mì, vừa đem bộ mặt thiểu não về cho thầy bu xác nhận và cấp viện trợ sống tới tết. Hà Nội chỉ cách Phòng có 104 cây số, vậy nhưng mỗi năm chỉ về đúng 2 lần, là 2 dịp hè và tết. Chả bù cho con bé cháu gọi tôi bằng ông, tuần nào cũng thập thò ở nhà thày bu nó, đến nỗi thằng cháu tôi, tức bố đẻ con kia, phải gắt lên mày học ở thủ đô hay ở quê, cứ suốt ngày cúng tiền cho bọn xe khách Hải Âu, Hoàng Long thì tiền núi cũng chả đủ.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Bác cả Năng (kỳ 3)

Hồi nãy có lẩn mẩn kể bác cả Năng lấy xe đạp lai (đèo) mình đi Thượng Đình. Cả hai lớp văn, văn A (lớp trưởng Lê Xuân Sang) và văn B (lớp trưởng Phạm Văn Sĩ, cả hai thủ trưởng đều sớm theo cụ Hồ), nếu tính đếm thật tỉ mỉ, may ra có độ chục chiếc xe đạp, trên tổng dân số gần trăm người. Mấy bác quân khu Thanh Hóa mặc dù là cán bộ cấp cao (lớp trưởng, lớp phó, bí thư đoàn, trưởng ban tự quản) nhưng có nhẽ dân xứ Thanh cũng nghèo, nên không mấy ai có xe. Không kể bọn con gái, vài đứa nhà khá giả cấp cho chúng ngựa sắt, còn phe đàn ông tôi liệt ra được các chủ thể “tuyên bố chủ quyền xe đạp” gồm: cụ Bùi Trọng Cường có chiếc Phượng Hoàng, cụ Nguyễn Ngọc Xuân chiếc Favorit, “thằng” Hoàng đen sở hữu chiếc xe nam cũng đen như chủ không chuông không phanh, xe này không ai dám mượn, mất mạng có ngày. Thằng Tân loe xài chiếc xe cuốc thể thao của Tiệp lốp bé tí như ngón tay, thằng Chương có một chiếc nhưng tôi không nhớ hiệu gì, hình như anh Hoàng Sĩ Chiến và anh Trần Nam Việt cũng có. Và tất nhiên trong đội ngũ địa chủ tầng lớp trên ấy có bác cả Năng.

Tôi ở cùng phòng với cụ Xuân nhưng suốt 4 năm rưỡi chưa hề mượn xe cụ lần nào. Phần vì đó là chiếc xe quý, quá đắt, màu xanh ngọc mới tinh, lỡ mất thì đền nhọc, về quê bán nhà cũng không đủ tiền đền; phần vì cụ kỹ quá, lau suốt ngày. Xe cụ Xuân để sát ngay cái tủ tường 2 ngăn dùng chung của cả phòng, cứ đi qua cụ lại lau một nhát, đi lại cụ thổi phù một nhát, bụi cũng chả còn chỗ đậu. Anh Cường còn nhận xét xe cụ Xuân lúc nào cũng bóng lộn lồn lồn. Mỗi sáng ngủ dậy, cụ lấy chiếc khăn mùi xoa phủ trên gối ra, hai tay cầm hai góc, phất một nhát, kêu phật, bao giờ đủ 4 phất 4 phật thì mới xếp vuông vắn. Tôi ở giường dưới ngước lên chứng kiến, hôm nào cũng như hôm nào, thấy mà kinh. Đố dám mở mồm mượn xe.

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2019

Bác cả Năng (kỳ 2) dành cho K17

Tôi có cái vinh dự mà không phải ai ở K17 (trừ khá đông các vị Thúy, Cúc, Tăng Hải, Lan) cũng có được, là đồng hương đồng khói với bác cả Năng. Nhiều khi ngấm ngầm tự hào và công khai dựa dẫm, chẳng khác gì những lúc Bá Tân vuốt râu khoe nó là người huyện Nam Đàn quê cụ Nguyễn Sinh Cung. Thậm chí tôi còn hãnh diện hơn cả mấy ông bà đất Phòng kia ở chỗ còn được làm đồng hương huyện, chỉ khác xã, cách nhà nhau khoảng 6 cây số. Hồi tháng giêng Kỷ Hợi vừa rồi, cả đám gần hai chục người đàn đúm tại nhà tôi ở làng Trà, xã Thụy Hương, lúc gần đi ngủ, bác cả Năng bảo, thôi, vợ chồng ông Giang ải lậc cậc qua nhà tôi, vừa rộng rãi, vừa để biết nhà, tối nằm gác chân lên nhau trò chuyện, chứ ở đây ầm quá loạn quá, ngủ thế đếch nào được. Tôi chân tay còn vưng vững, mắt cũng hơi tinh, lại thuộc đường, từ nhà tôi sang thôn Cốc Liễn, xã Minh Tân vào nhà bác Năng, tôi nhắm tịt mắt cũng đi được, nên lĩnh chức đèo bác Giang trai, còn bác cả chở bác Giang gái. Lên xe, hai anh em vừa phóng vừa trò chuyện, nhoáng cái đã tới nơi. Cụ Ải lậc cậc vỗ vai tôi, bảo nhanh nhẩy, thế mà tao cứ tưởng xa, thương mày quay về rét. Chả biết đêm tương phùng ấy cụ Năng cụ Giang trò chuyện những gì nhưng sáng hôm sau tôi tới đón, nhìn mặt cụ Giang tươi hơn hớn. Tình cảm bạn bè của người đã chạm ngưỡng già, như liều thuốc tiên vậy.

Ở đây, cũng mở cái ngoặc đơn, trong lớp mình, có 3 người chơi thân với cụ Giang nhất, phía đám đàn ông, chứ đờn bà thì tôi không biết, là cụ Năng, cụ Hồng, cụ Thuận. Tình bạn keo sơn mãi tận bây giờ. Trong bài kỳ 1, khi nhắc về những vị trưởng lão, tôi không nhắc tên cụ Trần Hồng bởi lúc ấy đang nói về những cụ đã trải qua thời chinh chiến, mặc áo lính, còn cụ Hồng thì mặc áo công tử xứ Nghệ nên bị loại khỏi đội cựu binh.

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Bác cả Năng (dành cho K17)

Mình chưa già (tự phong vậy) nhưng phải công nhận nhiều lúc lẩn thẩn. Chả hạn mình nghĩ K17 cũng như… quả chuông, có ai gõ vào một nhát là sau đó dồn dập binh boong, binh boong, vui lắm. Hôm nay cũng vậy, mọi người náo nức phấn khởi chúc mừng sinh nhật một vị trưởng lão của khóa ta, bác cả Năng. Binh boong, binh boong, rộn ràng hơn cả dân tỉnh Kiến An năm 1960 đón cụ Hồ về thăm. Bác Năng hồi ấy đã thanh niên 16 tuổi, học trường cấp 3 Kiến An (cả tỉnh chỉ có mỗi một trường cấp 3), biết đâu được nhìn thấy mặt cụ Hồ không chừng.

K17 là khóa bản lề giữa chiến tranh và hòa bình nên có nhiều trưởng lão. Nếu như từ khóa 16 về trước, sinh viên liên tục đăng lính kéo nhau ra trận, thì từ K17 trở về sau, các cựu sinh viên lại lục tục phục viên. Phải công nhận, nhờ có các bác lính hồi môn mà K17, nhất là 2 lớp văn, vui và chững chạc hẳn lên. Đám thò lò mũi xanh như mình, Bá Tân, Đại, Đồng, Nghiệu, Viết, Xuân Ba, Bính… tự dưng lép hẳn, đố dám nhốn nháo vô phép như vốn láo. Còn bọn con gái cũng quên phắt mấy thằng trẻ ranh, chỉ chú mục quấn quít vào các ông anh. Đúng là phúc với người này thì họa cho kẻ kia. Đôi khi tặc lưỡi, kiểu AQ, mình chịu thiệt một tí để bù cho những người từng vào sinh ra tử, coi cái chết nhẹ tựa lông.

Đội quân “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” ấy có nhẽ gần hai chục vị. Giờ trí nhớ nhạt rồi, nhưng mình có thể làm cái lít (list) gồm các bác: Bùi Trọng Cường, Lê Xuân Sang, Lê Quốc Lập, Phạm Văn Sĩ, Nguyễn Doãn Tấn, Đặng Quốc Khánh, Lê Văn Sơn, Trần Nam Việt, Hoàng Sĩ Chiến, Lê Tài Thuận, Trần Triều Nguyệt, Ngô Đức Nguyên, Nguyễn Xuân Thụ, Ma Duy Giang, Trần Quang Thuật, Nguyễn Tuấn (lớp ngữ), Đỗ Xuân Thanh… Và tất nhiên không thể thiếu Vũ Lệnh Năng, bác cả Năng. Đó là chưa kể lớp ta còn có những bậc đàn anh đàn chị rất đáng kính nể như cụ Nguyễn Ngọc Xuân (Ninh Bình), cụ Nguyễn Huy Cờ (Hà Bắc), cụ bà Nguyễn Thị Ngụ (TNXP, Hà Tĩnh). Tinh dững cây cao bóng cả, rợp mát đàn em.

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

Cái bể nước (dành cho K17)

Một trong những kỷ niệm không thể nào quên của những năm tháng không thể nào quên đối với đám quần chúng công nông trí thức nửa mùa K17 (Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội) ở ký túc xá Mễ Trì là... cái bể nước.

Sau khi lếch thếch lôi thôi kéo nhau từ nơi sơ tán 2 huyện Yên Phong và Hiệp Hòa ven sông Cầu về thủ đô, thời gian đầu năm 1973 khoa Văn, trong đó có K17 đang năm thứ nhất, về tạm trú tại nhà D1 bên trường ngoại ngữ. Khu nhà của trường Tổng hợp lúc đó vẫn còn đang bị Ban tiếp nhận viện trợ Trung ương sử dụng, họ chưa trả lại. Tới tháng 5 hoặc 6 chi đó, thầy trò khoa Văn kéo nhau sang dọn dẹp lại phòng ốc để chuẩn bị hồi khoa. Tôi còn nhớ nó tan hoang như bãi chiến trường, đầy những vỏ hòm gỗ thông, đai sắt ngổn ngang cả trong nhà lẫn ngoài sân ngoài vườn. Tuy vậy, người ta vẫn chưa chuyển hết hàng. Anh Nguyễn Đăng Thành chỉ cho tôi coi còn mấy phòng tầng 1 nhà C2 vẫn ăm ắp hàng, không người trông coi. Hai anh em mò vào, lòng tham cố hữu nổi lên. Nhưng cũng sờ sợ, nhỡ ai bắt được thì bỏ mẹ. Cuối cùng anh Thành lấy chiếc chậu thau men Trung Quốc giấu vào bụng trùm áo lên, trông như bà có chửa, còn tôi nhát chỉ dám thó mỗn cuốn sổ dày giấy trắng tinh bìa giả da, đút vào cạp quần. Thế mà thoát. Khi ấy thầy Chu Xuân Diên và các bạn đang lúi húi dọn dẹp gần bể nước.

Cái chậu của anh Thành dùng mãi tới khi ra trường mới bỏ, sau bao quăng quật. Phải công nhận đồ Trung Quốc nói chung, cụ thể là sắt tráng men, bền khủng khiếp. Còn cuốn sổ, tôi ghi chép đủ thứ, cả thơ tình Puskin, Lermontov, Heine, cả kịch Sechxpia, Molie..., khi vào Nam nhận công tác thì bỏ lại nhà, tất nhiên bi giờ chả biết nó ở chỗ nào hay bị đun từ lẩu lầu lâu rồi.

Cái bể nước dùng chung cho nửa khối nhà C1 và C2, nửa phía bên kia của khoa Sử cũng có một bể như thế. Cả thầy cô (nhà C1) và trò sinh viên (nhà C2) đều trông cậy vào bể này, tất tần tật giặt giũ, tắm táp, đánh răng, rửa mặt, ăn uống. Mà nào nó có to tát gì, chỉ dài hơn 2m, ngang cỡ mét rưỡi, cao cũng chừng ấy. Vòi nước thì thường xuyên chảy ri rỉ như trẻ con đái sắp xong. Chính vì vậy, lúc nào xung quanh bể nước cũng đông như hội, 24/24, tình cảnh ôm chậu quần áo, xách cái xô, cầm chiếc ca... xuống xếp hàng chờ tới lượt yêu nước trông thật là thê thảm.

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Tỉnh Thanh một chút tò mò (kỳ 2)

Họp lớp, họp khóa, kéo nhau tới tận Sầm Sơn biển lặng cuối thu, kể ra có gì đó hơi vênh. Đi biển mùa hè thì chẳng cần phải bàn, chứ bữa ở Sầm Sơn nhìn cảnh mấy đứa đàn bà sồn sồn ngồi trên con thuyền úp ngược trên bãi cát thế kia, bà nào bà ấy nổi cả gai ốc, mình lại lẩn thẩn nghĩ chả biết các mợ hôm lên đường có chuẩn bị bikini không. Nếu có, thì các mợ cần phải cảm ơn ông trời đã cho lý do chính đáng để không phải diện chiếc áo tắm hở hang ấy lội xuống biển. Suốt cả đợt vui chơi Sầm Sơn, mình chỉ thấy có hai thằng liều là ông Ba và ông Tửu xuống vày nước, lúc lên bờ ông nào ông ấy tái xanh tái xám, như con mèo ướt.

Nhưng công nhận biển Sầm Sơn đẹp và sạch, xanh trong, cát mịn trải dài. Trên phố, dưới biển, giống như ở Nha Trang. Không như Đồ Sơn quê mình chỉ được cảnh quan trên bờ, chứ nước thì thôi rồi. Bãi tắm như bãi rác bãi bùn. Nhớ cái lần cả bọn K17 kéo nhau leo núi thăm đảo đèn Hòn Dấu xong, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, trở về khách sạn Điện lực, mình rủ hai lão Xuân Ba, Ngọc Tân đi tắm. Bãi biển đen sì, tinh dững đá và lổn nhổn vỏ hến vỏ sò. Nước đục ngầu, hơn cả nước ruộng cày. Thằng Ba và thằng Tân phải lội xa tít phía ngoài để tìm nước sạch, mình đứng trên bờ nhìn thấy chúng nó bé như con kiến vùng vẫy trong sóng. Nhẽ ra chúng cần hiểu rằng ở biển Đồ Sơn, tìm nước sạch không khác gì mò kim đáy biển. Mấy dòng sông Cấm, Văn Úc đều tải phù sa đổ về vùng này, nước ngầu quanh năm. Mình quẩn quanh “tắm” gần bờ xong, lúc dội lại nước ngọt, thấy cả cục đất trong lỗ tai. Khiếp quá đi mất. Câu “Không đi không biết Đồ Sơn” cứ văng vẳng, lần ni thì biết quá cụ thể.

Nhưng Sầm Sơn thì khác, trời và nước trong xanh, chỉ tiếc rằng tiết trời cuối thu khiến bãi cát vắng tanh vắng ngắt. Mấy đứa nhân viên khách sạn Điện lực (lại Điện lực, cũng là nhờ công của mụ Huệ) bảo, chú ạ, từ mùa này tới cuối xuân chúng cháu chỉ chơi, ngồi ngáp, đói. Mà thế thật. Lúc mình la cà uống cà phê ở quán ven đường dọc bờ biển, hỏi cô chủ quán xinh xinh, này em, hàng họ bán được không. Nó tủm tỉm cười buồn, bác không thấy mấy nhà hàng, khách sạn lớn sừng sững kia à, ngay cả cái cục nóng của máy lạnh họ cũng lấy bao ni lông bịt kín lại, phải 4 - 5 tháng sau mới mở ra, lấy đâu khách mà được mí chả được.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Có chút liên quan đến Valentine Day

Thời tôi học đại học (1972-1976) ở miền Bắc, thứ ngoại ngữ thịnh nhất là tiếng Nga. Suốt 4 năm rưỡi, tôi được học tiếng Nga từ 3 thầy cô: cô Ngô Anh Thơ, thầy Trương Quang Chế, thầy Trần Khuyến. Cô Thơ làm nhiệm vụ vỡ vạc, khai hoang cái đầu u tối của chúng tôi; thầy Chế đưa chúng tôi vào thế giới phức tạp của tiếng Nga, còn thầy Khuyến nâng cao lên ở bước cuối cùng. Nhưng rốt cuộc, đến giờ gần như cả đám trò hư quên tiệt thứ tiếng ấy (may mà còn 2 thằng Phạm Văn Bích, Nguyễn Huy Hoàng sử dụng Nga ngữ quá thành thạo), nhưng vẫn nhớ các thầy cô. Cô Thơ thật tình cảm, coi sinh viên như mấy đứa em ruột. Thầy Chế rất hiền lành, gần gũi, thầy ra bài tập dịch bài thơ Cánh buồm của Lermontov, thằng Bích dịch siêu nhất, thầy rất thích. Nhưng phải công nhận thầy Trần Khuyến giỏi nhất, bấy giờ thầy đã nổi tiếng với bản dịch bộ 3 tác phẩm tự thuật của Maxim Gorki (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi). Thày Khuyến dạy rất gắt, buộc sinh viên học ngoại ngữ không phải chỉ biết tiếng mà phải biết cái hay cái đẹp của nó.

Hôm nay 14.2, thiên hạ gọi ngày này là ngày Lễ Tình yêu, theo kiểu Tây phương, tự dưng tôi nhớ tới thầy Khuyến. Có lý do. Thực ra, xứ ta suốt bao nhiêu năm, nhất là thời chúng tôi còn trẻ, làm gì biết ngày tình yêu tình iếc này. Chỉ biết hằng năm kỷ niệm ngày đảng ra đời, ngày thành lập đoàn, ngày sinh bác Hồ, ngày quốc khánh, ngày đẻ quân đội, thế cũng đủ mệt, đủ bận bịu cấn cá rồi. Yêu á, vớ vẩn. Yêu trong thực tế còn bị kiểm điểm, có đâu lại bày vẽ lễ lạt tình yêu cho rởm đời. Các cán bộ đoàn Lê Quốc Lập, Lê Xuân Sang… luôn quán triệt sinh viên phải sống cho đàng hoàng, đừng yêu đương nhăng nhít. Về sau bọn trẻ chúng tôi tìm hiểu, hóa ra các bác ấy có vợ cả rồi. Thế mới quái.

Tại sao thời ấy tôi vẫn biết có một cái lễ gọi là ngày Lễ Tình yêu? Nhớ một hôm, thầy Nguyễn Văn Khỏa dạy phần tác phẩm kịch của Shakespeare (hồi đó phiên âm đọc là Sếch Pia), trong vở Hamlet có nàng Ophelia, khi nàng thất tình, hơi chớm điên, nàng mặc chiếc áo hoa vừa đi vừa lẩm bẩm hát (thầy Khỏa diễn ngay đoạn này, đi đi lại lại trên lớp): “Ngày mai là hội thánh Va lăng tanh/Em mặc áo hoa đến cửa sổ phòng anh”. Thầy giải thích, hội thánh Va lăng tanh tức là ngày Lễ Tình yêu của người phương Tây, ngày Valentine 14.2. Giờ thì thầy Khỏa không còn nữa, thầy đi năm 1988, gần 30 năm rồi, nhưng chúng tôi vẫn nhớ thầy, người gần như suốt cuộc đời chỉ sống độc thân, nhờ thầy mà ngay từ cái thời ngăn sông cấm chợ về tình yêu ấy, chúng tôi đã biết thế nào là ngày Valentine – Lễ Tình yêu.

Trở lại chuyện thầy Khuyến. Có lần thầy đọc cho cả lớp nghe bài thơ ngắn tiếng Nga. Tôi không tìm được phông chữ tiếng Nga để gõ ra đây, nhưng rất nhớ, từng chữ một, bèn dịch nghĩa như thế này: Mặt trời để cho ban ngày/Mặt trăng dành cho ban đêm/Hoa hồng cho những cuộc gặp gỡ/Còn em thì dành cho anh.

Thầy Khuyến bảo từng đứa dịch. Tôi dốt tiếng Nga, lẻn tụt xuống hàng cuối lớp, cúi gằm mặt xuống cho thầy đừng thấy. Thằng Hoàng, thằng Bích, cái Nga, cái Huệ, cái Đạm… những đứa siêu tiếng Nga dịch hay lắm, tôi “ghét” chúng nó nên chả chép ra đây. Vài chục năm sau, tôi lẩn mẩn dịch thế này:

Thái dương dành để ban ngày
Chị hằng soi sáng đêm dài thế gian
Gặp nhau luôn có hoa hồng
Còn em, em chỉ nói rằng của anh.

Nguyễn Thông

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

Dành cho khóa K.17 Văn khoa: Về việc hội lớp

Anh Lê Tài Thuận thay mặt Ban Tổ chức vừa mail cho mình vài ý kiến sau đây, xin thông báo lại với cả nhà:

"Về việc tổ chức Hội lớp, qua nhiều ý kiến góp ý, xin gút lại như sau:
-Đa số tán thành tổ chức Hội lớp nhân dịp 40 năm ra trường tại Hà Nội.
-Thời gian nên tổ chức liền kề với ngày Hội khoa: 19/11/2016-kỷ niệm 60 năm thành lập khoa Ngữ văn, trường ĐHTH Hà Nội. Một số người đề nghị tổ chức Hội lớp vào 2 ngày 17 - 18/11/2016.
-Mở rộng thành tổ chức Hội khóa 17, mời lớp Ngữ và lớp Hán-Nôm tham gia. Đã nhận được ỵ kiến nhất trí của A. Vũ Đức Nghiệu đại diện lớp Ngữ, hiện chưa liên lạc được với các bạn lớp Hán-Nôm.
-Xây dựng kế hoạch chi tiết về chương trình, nội dung, địa điểm sinh hoạt, lộ trình tham quan, đón tiếp các bạn ở xa về, tham khảo chương trình Hội khoa để có sự phối hợp (nếu được).
-Đầu tháng 10/2016 sẽ thông báo chính thức.
Đềnghị mọi người cho ý kiến.
Chân thành cảm ơn.
Lê Tài Thuận.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Thông báo cho K.17 (về việc họp lớp nhân 40 năm ra trường)

Mình vừa nhận được email của bạn Nguyễn Thị Bé, nội dung toàn văn như sau:

"Kính gửi các anh chị lớp Văn K17, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 

Vừa rồi đọc trên Facebook thấy anh Vũ Lệnh Năng viết như sau:
"Các bạn đang sống ở Hà Nội cố gắng bàn với nhau xem cuối năm nay khóa 17 mình có thể gặp nhau tại Hà Nội một lần nữa được không? Anh Năng rất mong có ngày đó. Bởi vì sức khỏe của anh mỗi ngày một yếu đi, liệu có gặp được các bạn một lần nữa hay không".

Qua những dòng tâm huyết của anh Năng mới thấy thời gian trôi qua nhanh thật. Thế mà chúng ta ra trường đã được 40 năm rồi, ai cũng có công việc của mình, gia đình đuề huề, con cháu phương trưởng nhưng lòng vẫn nhớ về nhau... 

Xuất phát từ ý kiến cá nhân, tôi rất mong có buổi gặp mặt giữa những người học lớp Văn K17 tại Hà Nội để chúng ta có dịp gặp gỡ, chuyện trò...cho bõ những ngày xa cách. Một phần cũng là lúc chúng ta gặp lại những anh chị ở rất gần Hà Nội mà không bao giờ chịu ra mắt bạn bè lớp Văn K 17. Đó là các anh chị Nguyễn Xuân Thụ, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Thị Nguyệt...

Tôi  đề xuất ý kiến thế này, các anh chị xem có được không:

-  Một số anh chị trong lớp có nhiệm vụ thông báo, tập hợp tất cả mọi người cho thật đông đủ.

- Thời gian dự kiến là đầu tháng 10.2016; địa điểm là nhà khách của Bộ GD-ĐT ở 23 Lê Thánh Tông, Hà Nội. Cả lớp nên có một buổi gặp mặt, cùng ăn một bữa cơm thân mật để nhớ về "một thời đã qua".

- Sau đó, nếu anh chị nào có thời gian, sức khỏe thì có thể tập trung thành nhóm để đi chơi tiếp (có thể là đi Sầm Sơn, Sa Pa hoặc xa hơn là Đà Nẵng chẳng hạn).

Tuy là ý kiến cá nhân nhưng rất mong các anh chị lớp Văn K 17 xem xét, trao đổi sớm để chúng ta có thể tổ chức gặp mặt kỷ niệm 40 năm tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Nguyễn Thị Bé"

*Mình rất cảm động trước chân tình của bạn Bé và hoàn toàn nhất trí với đề xuất ấy. Mong các bạn thông báo cho nhau để sớm thu xếp. Chúng mình đều qua ngưỡng lục thập hoa giáp cả rồi, chả còn mấy thời gian và sức khỏe để có thể cười được với nhau hơ hớ nữa đâu, các "cụ" nhỉ.

Nguyễn Thông


Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Tiếng gà gáy

PHẠM QUANG LONG
Mới 26 tháng Chạp, anh bạn từ Hoà Bình đem xuống cho đôi gà sống ăn Tết. Đôi gà béo, khoẻ mạnh. Tự nhiên thấy thích, đem nuôi mà quên luôn nhiệm vụ chính của chúng là dùng vào những bữa cỗ Tết. 

Nửa đêm, đang ngồi làm việc chơt nghe tiếng gà gáy. Đầu tiên là một giọng đùng đục, trầm trầm, đúng là giọng thổ rồi tiếp theo là những tiếng trong và thanh hơn của giọng kim từ chính nhà mình. Rồi dồn dập hai ba giọng khác ở những nhà khác hoà theo. Như một làng quê vậy. Lại thấy bồi hồi nhớ những ngày xa lắc xa lơ về một làng quê nghèo khó mà thanh bình. Những kỉ niệm cũ từ ngày xưa sống lại, lúc rõ rệt, lúc mơ hồ nhưng cứ cồn cào.