Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2018

Mất chủ quyền 1 ngày đâu có ăn nhằm gì?

Đảng và nhà nước (lần đầu tôi đòi hỏi 2 "vị" này) phải xử nghiêm khắc đám từ nhỏ tới lớn: Ban quản lý dự án đường sắt trên cao, Tổng công ty Đường sắt, Bộ Giao thông vận tải, và tay bộ trưởng Thể, về tội để cho Trung Quốc lộng hành, coi chủ quyền đất nước không ra gì.

Bọn nhà thầu Trung Quốc (đừng có ai nói với tôi là cần phải biết ơn nó, đừng bảo rằng nó đã sang làm vất vả cho ta mà lại còn vô ơn chửi nó, xin nhớ: nó đã cố tình dây dưa kéo dài, đã gây đội vốn từ hơn 500 triệu USD thành gần 1 tỉ đô, vả lại nó không làm không công, tiền trả cho nó cả núi chứ giúp giếc gì) đã không thèm giấu diếm, công bố trước 2 ngày chuyện sẽ tự cho người lên đi thử, mạng xã hội cũng phê phán rất ồn ào từ trước đó sự tự tung tự tác của nhà thầu, tuy nhiên cuối cùng chúng vẫn thực hiện trót lọt, vẫn cười vào mũi chính quyền xứ này, vậy nếu không phải sự làm ngơ, vô trách nhiệm, hoặc "tiếp tay cho giặc" của phía VN thì là cái gì?

Nay Bộ GTVT lại còn nỏ mồm chống chế, giải thích loằng ngoằng, nào là nhà thầu họp công đoàn, tiện thể cho người nhà đi thử, nào là vé chỉ có giá trị trong 1 ngày, nào là đã yêu cầu chấm dứt ngay vi phạm, không để thế lọ thế chai... 

Đèo mẹ chúng nó chứ, "vé chỉ có giá trị trong 1 ngày", mất chủ quyền 1 ngày đâu có ăn nhằm gì với chúng nó. Chúng muốn mất luôn cơ.

Hãy cách chức ngay tay Thể và đám tàn hại đất nước, không thì đảng và nhà nước cũng tự xử luôn đi.

Đúng là xứ này lắm chuyện cười ra nước mắt.

Nguyễn Thông

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018

Tự nguyện hoàn thành nhiệm vụ

Trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại, có những khuất khúc mà nếu cứ theo như công bố của nhà cầm quyền thì người ta chỉ thấy được phần bên ngoài, hoàn toàn khác xa với nội dung, tức là sự thật lịch sử.

Điều đáng buồn, nếu đó chỉ là những tuyên truyền, thông tin vụ lợi nhằm mục đích bảo vệ sự cai trị thì đã đi một nhẽ, đằng này họ coi đó là chính sử, ép mọi người phải tin theo, nhồi vào đầu óc những thế hệ sau sự mập mờ, méo mó, lừa đảo. Và cũng đáng buồn nữa ở chỗ những nhà chép sử không có ai mang tinh thần của người làm sử chân chính, cam chịu để cường quyền bôi ma bôi mèo, xuyên tạc lịch sử nước nhà.

Thế hệ tôi, sinh giữa thập niên 1950 được chứng kiến, mắt thấy tai nghe, thậm chí trải qua cụ thể nhiều sự kiện lịch sử bị ém theo kiểu khuất khúc ấy.

Trong loạt bài này, tôi chỉ đề cập tới “sự tự nguyện” chấm dứt, giải thể, “hoàn thành nhiệm vụ” một số tổ chức, đoàn thể, cơ quan mà tôi đã biết.

Nhiều người đã biết, sau cuộc cách mạng tháng 8.1945, thể chế chính trị xứ ta vẫn là đa đảng mặc dù đảng cộng sản đã nắm quyền. Người chủ trương đa đảng, kêu gọi đoàn kết dân tộc, không ai khác, chính là cụ Hồ. Tuy cộng sản đã tìm mọi cách triệt hạ Quốc dân đảng, coi như kẻ thù, kẻ đối địch một mất một còn, nhưng với một số đảng khác, cộng sản vẫn chấp nhận cùng tồn tại, mà tiêu biểu nhất là đảng Dân chủ và đảng Xã hội, 2 đảng trước kia đã từng kề vai sát cánh với đảng cộng sản, chia lửa, chia sẻ khó khăn, cùng hướng tới mục đích giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do.

Sự kiêu ngạo cộng sản (bản đầy đủ, có bổ sung)


Những chữ trên không phải do tôi nghĩ ra, cũng không phải do thế lực thù địch nào vu cáo, mà là chữ dùng của ông Phan Diễn. Ông Diễn người Quảng Nam, con cụ Phan Thanh – một nhân vật nổi tiếng thời Mặt trận Dân chủ 1936-1939. Ông Diễn từng là Ủy viên Bộ Chính trị, đóng đến chức Thường trực Ban Bí thư (tức nhân vật số 2 của đảng, chỉ sau Tổng bí thư). Họ hàng ông Diễn còn có những người là yếu nhân của chế độ, chẳng hạn ông Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam), em ông Phan Thanh, ông Bôi là Thứ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền sau cách mạng tháng 8, Chánh văn phòng chính phủ, người được cụ Hồ hết sức tin cậy; mẹ ông là bà Lê Thị Xuyến từng là Phó chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam… Kể qua như vậy để nói rằng phát ngôn của ông Diễn không phải dạng ai đó nói vu vơ, nói lấy được, mà là rất có trọng lượng. Đó là nhận xét của người trong cuộc, "ở trong chăn..." chứ không phải bị kích động, xúi giục, nhẹ dạ gì (làm sao mà kích động nổi những người như ông Diễn, nay ông vẫn còn sống và mạnh khỏe, sáng suốt, ai không tin thì cứ hỏi ông).

Trong bài trả lời báo điện tử VnExpress đăng ngày 17.12.2016, ông Diễn chắc thấm nhuần tư tưởng của Lênin, người thầy của cách mạng vô sản thế giới, đưa ra nhận định “Tôi cho rằng, chúng ta ít nhiều đã có sự chủ quan, có thể gọi là “kiêu ngạo cộng sản” sau chiến thắng 1975. Việc này có thể hiểu là xuất phát từ những điều tự hào về lý tưởng và thành công của mình trên con đường cách mạng, nhưng rồi đi quá đà đến xu hướng chủ quan...” (trích nguyên xi câu). Cũng trong bài trả lời này, ông cựu nhân vật số 2 còn cho biết chi tiết rất đáng quan tâm đối với những người chép sử, ông bảo “Trước giải phóng, mỗi năm kinh tế miền Nam được Mỹ viện trợ khoảng một tỷ USD. Miền Bắc cũng được chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa một lượng xấp xỉ như thế”. (trích nguyên xi câu). Nếu đúng như ông Diễn nói thì với 1 tỉ đô như vậy, ở miền Nam ngoài chi cho phương tiện chiến tranh, tiền viện trợ còn được biến thành nền kinh tế “phồn vinh giả tạo”, dân thực sự được nhờ, được sung túc, chứ 1 tỉ ở miền Bắc bị chuyển hóa thành vũ khí đạn dược hết để “giải phóng miền Nam”, nên dân chịu đói khổ thiếu thốn kéo dài suốt mấy chục năm.

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018

Chuyện thực phẩm: Thức quê chỉ sẵn rau

Sau loạt bài về lương thực, có bạn đọc nhắn hỏi sao không viết về thực phẩm, tức là thức ăn thời bao cấp, thời hậu chiến. Lương thực phải đi với thực phẩm mới đủ đôi đủ bộ chứ. Lại có bạn tỏ ý hồ nghi, thắc mắc những chuyện ấy xảy ra hồi nào, ở đâu, sao nghe giống chuyện cổ tích quá…

Quả thật sự gợi ý về thực phẩm làm sống lại bao nhiêu ký ức thời chưa xa, cần phải biên ra kẻo sau này đầu óc loãng đi có muốn ghi chép cũng chả được. Và xin nói rõ ngay từ đầu, tất cả mọi điều đã kể hoặc sẽ kể đều là thực, mắt thấy tai nghe, bản thân từng trải, chủ yếu ở miền Bắc hồi thập niên 1960 - 1970, sau chút nữa là thời hậu chiến 1975 cả hai miền.

Những năm xa ấy, lương thực đã thiếu, cơm chỉ 2 lưng bát mỗi bữa, lại độn đủ thứ ngô khoai sắn bột mì thì làm gì có chuyện thực phẩm sẵn, dồi dào. Hồi tôi còn bé, thậm chí khi đã nhớn đi học cấp 2, biết nhiều nhà làng mình chỉ có cơm mà không mấy khi đủ thức ăn. Loanh quanh cũng mấy thức vườn nhà, rau là chính, chứ thịt thà tôm cá không mấy khi xuất hiện trên mâm. Con gà nuôi để nhặt hạt rơi hạt vãi, bắt con sâu con bọ ngoài vườn, khi chúng to nhơ nhỡ trở lên là thày bu đã xách ra chợ bán lấy tiền đong gạo, đố nhà nào dám cắt tiết. Giết lợn chui có khi bị đi tù. Giò chả nem mọc chỉ có trong câu chuyện khề khà hoặc dịp tết. Thức ăn trong bữa cơm của dân quê thật nghèo nàn và đơn giản.

Bây giờ ta quen gọi chung những thứ kèm cơm là thực phẩm, chứ cách nói dân dã là thức ăn. Ở huyện Kiến Thụy (Hải Phòng) quê tôi, trên thị trấn cạnh cửa hàng bách hóa bán vải vóc, đồ dùng sinh hoạt, cái kim sợi chỉ… là cửa hàng thực phẩm với thịt cá, gà qué, nước mắm, xì dầu, đậu phụ, lòng lợn, rau cỏ. Chỉ những người có tem phiếu, có sổ mua hàng mới dám bén mảng hai cửa hàng này. Còn chỗ của phó thường dân là chợ Thọ Xuân gần đó, hay còn gọi là chợ huyện, chợ Tác Giang (Tác Giang là một tên gọi khác của sông Đa Độ chảy qua huyện), cũng đủ loại, chỉ có điều giá cao gấp mấy lần trong cửa hàng thương nghiệp. Vì vậy, thời ấy người ta tìm mọi cách để thoát ly, tức là làm cán bộ công nhân viên nhà nước, có sổ có phiếu mua hàng. Cái sổ ấy không chỉ để chứng tỏ đẳng cấp trong xã hội mà còn tiết kiệm được ối tiền, nhất là lương ba cọc ba đồng. Giữ sổ kỹ chẳng khác gì của gia bảo. Lỡ để mất nó với cái sổ gạo thì chỉ còn cách treo mõm, ông anh họ tôi dạy học nửa đùa nửa thật bảo vậy. 

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

Avalon

Hồi sáng tôi có việc nhong nhong ngoài đường, tình cờ thấy một chiếc Toyota Avalon phía trước. Công nhận kiểu xe rất đẹp, mình rướn ga chạy sát nó mà không hề nghe tiếng máy, dù chỉ nhỏ như tiếng muỗi kêu. Thiên hạ đồn rằng đời xe này thuộc diện limited (sản xuất số lượng nhỏ có giới hạn, chỉ khoảng bao nhiêu chiếc thôi), xài nó sẽ được danh "không đụng hàng". Nhìn nó, sực nhớ Nguyễn Xuân Anh.

Bây giờ sóng gió chắc cũng đã qua, thôi thì mừng cho ông em (tôi chả giấu diếm gì điều này), nhớ hồi tôi ra Chu Lai, khi về lại Sài Gòn, gặp nhau trên máy bay, anh em hàn huyên ôn lại những năm tháng xa, chả nhắc gì những thứ vừa xảy ra. Y đã rũ sạch bụi trần, cả trung ương ủy viên, cả đảng, cả Avalon...

Nhìn cái Avalon hồi nãy, tự dưng lẩn mẩn nghĩ, chế độ này có những điều rất quái gở. Nhà vua cũng như các cụ lớn tự đặt ra tiêu chuẩn ai làm gì thì được xài xe cỡ nào. Lý do chính, theo họ là để tiết kiệm ngân sách. Tuy nhiên, ai cũng biết thực chất đó là dạng phân chia thứ hạng đấng bậc, kiểu như chỉ vua mới được dùng xa giá, lọng vàng, dưới vua thì dùng xe gì ngựa gì. Họ chống phong kiến nhưng bảo hoàng hơn vua. Vì vậy, đụng đến thánh chỉ của vua thì phải chết. Trong cái "chết" của Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, ai dám bảo rằng không có một phần do "ngựa", Toyota Lexus LX570 và Toyota Avalon nhẽ ra không được cưỡi.

Chỉ có điều, bọn hắn cưỡi ngựa tự sắm, còn nhà vua và các cụ lớn kia miệng kêu tiết kiệm nhưng ai cũng đòi thiên lý mã, mua bằng ngân sách. Ngựa các vị ấy cưỡi đều thuộc hạng siêu long mã, giá cả chục tỉ đồng, lại còn cả bọc thép, chống đạn, cả long sàng bên trong. Trị đứa cấp dưới xài xe sang, sao các vị chẳng tự nhìn lại mình đang xài hoang phí như thế nào. Tôi thử hỏi các vị, nếu các vị ngồi một chiếc Toyota Camry 2.5 hoặc chiếc Hyundai tầm 1 tỉ thì không đi làm được chắc, không ai biết các vị là vua là chúa chắc. Cần nhớ rằng, những cái xe Camry ấy cũng tốt bằng vạn xe cụ Hồ hay đi hồi xưa. Hay là các vị chỉ học tấm gương cụ bằng mồm, còn xe cứ phải xe chục tỉ.

Tại trên ngồi chẳng chính ngôi
Để cho kẻ dưới chúng tôi lăng loàn.

Còn trách ai?

Nguyễn Thông

Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2018

Những vị tướng làng tôi (phần 2)

Đọc bài phần 1, có người bảo ông chỉ nói phét, làng nào có một tướng cũng đủ hãnh diện với thiên hạ rồi, thế mà dám nói “những vị tướng”. Kể ra bạn ấy chả sai, làng Trà Phương quê tôi chứ có phải những làng nổi danh trong đời sống xứ này như Hành Thiện, Cổ Am, Quỳnh Đôi, Đông Ngạc… đâu. Làng có nhiều tướng nhất thời cách mạng, theo tôi biết, rồi nghe người nhớn kể, là làng Hành Thiện ở Nam Định, phát cả văn lẫn võ, có tới 7 ông tướng được nhà nước phong. Rất kinh.

Làng Trà Phương yêu dấu của tôi, qua 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, đi bộ đội nhiều lắm. Ở miền Bắc những năm ấy, làng nào mà chẳng bị vét tới người trai tráng cuối cùng. Chiến tranh, những 4 mặt trận, A (miền Bắc), B (miền Nam), C (Lào), D (Campuchia) như cái cối xay thịt tàn bạo, tống trai vào bao nhiêu cũng chả đủ cho nó nghiền. Làng Trà, như những làng khác, trai tráng đi hết, chỉ còn lại chủ yếu đàn bà, người già và trẻ con, tức là những người không thể hoặc chưa thể vào lính. Đàn bà phải thực hiện 3 đảm đang thay đàn ông đã ra chiến trường, người già phải gánh vác phần việc của người trẻ, còn trẻ con vừa đi học vừa làm phần việc của người lớn. Tức là không ai được ngồi đúng vị trí, thiên chức của mình. Thực ra cũng còn trai nhưng không phải tráng, đều dạng hàng tồn, thứ phẩm, đui què mẻ sứt, anh thì chột mắt, anh thì thọt chân, anh thì khoèo tay... Bình thường thì gái làng, nhất là lại đẹp như gái làng Trà vốn nổi tiếng xưa nay, chả thèm để ý mấy anh ấy, nhưng nay đàn ông “chuẩn” bị chiến tranh cướp hết rồi, tự dưng các anh “tồn” lại có giá. Còn bọn con trai nhơ nhỡ đám chúng tôi cứ lớn tới đủ tuổi 17 là xã đội, huyện đội phết vào sổ, mỗi năm 3 đợt tòng quân, khám sức khỏe xong là lên đường. Làng cứ vắng dần, thiếu sinh khí đàn ông, buồn hiu hắt.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

Bài hát cho cuối tuần (1): Tình cầm


Cứ mỗi cuối tuần tôi lại muốn tìm một bản nhạc hay, dù vui dù buồn, để rót vào khoảng chống chếnh khó san lấp.

Cái bài nhạc này, “Tình cầm”, chẳng hiểu sao lúc mò mò rê rê con chuột lại hiện ra trước nhất. Một bài hát cho cuối tuần, hay là cho chặng cuối đời, cho những người mang cái tâm trạng “Cộng thùy tranh tuế nguyệt/Doanh đắc mấn như ti” (thơ Đỗ Mục). Đua tranh với người qua năm tháng/để nay được mái tóc trắng như tơ, các cụ nhỉ.

“Tình cầm” là tên nhạc phẩm nhưng tên gốc của bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc là “Nếu anh còn trẻ”. Nhắc tới Phạm Duy là ta đã giật mình trước một đại thụ của làng nhạc Việt, và nhắc “Nếu anh còn trẻ” ta lại giật mình bởi cái tên cũng hoành tráng rợp bóng chẳng kém gì: nhà thơ Hoàng Cầm. Và rồi ta lại gật gù kinh hãi thêm chút nữa, người hát “Tình cầm” là ca sĩ mang cái tên quen thuộc mấy thế hệ ở miền Nam: Duy Quang. Quả thật, trong đời sống văn nghệ, sự hội tụ những đỉnh cao như ở tác phẩm trứ danh này không phải không có, nhưng rất hiếm.

Hoàng Cầm và Phạm Duy là đôi bạn văn nghệ nổi tiếng một thời. Những ngày chống Pháp 9 năm họ còn rất trẻ, tuổi đôi mươi, lòng tràn đầy lãng mạn. Họ đã sống những ngày thật đẹp, làm cách mạng cũng như làm văn nghệ. Tướng Nguyễn Sơn, vị tư lệnh quân khu 4, viên tướng đánh giặc khét tiếng, máu văn nghệ chứa đầy huyết quản, từng rất quý chuộng Phạm Duy và Hoàng Cầm. Đã có một thời thơ, nhạc nói riêng, văn nghệ nói chung được sống cuộc sống tự do của nó chứ không bị kìm nén kiềm tỏa dã man như chỉ vài năm sau.