Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn từ hán việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn từ hán việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Có những từ tiếng Việt cần lưu ý khi dùng (kỳ 3)

Lần này bỉ nhân đề cập nhóm từ tiếng Việt có gốc Hán, tức từ Hán Việt, gồm: Tiếp kiến, hội kiến, hội đàm.

Chả là báo Nhân Dân - cơ quan trung ương của đảng Cộng sản Việt Nam, số ra ngày 11.4.2026 có bài "Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp kiến Giáo hoàng Leo XIV".

Nói luôn, viết như thế là dốt, không hiểu gì về từ "tiếp kiến", trừ trường hợp cố ý dốt để tự nâng mình lên.

Không chỉ báo Nhân Dân với đội ngũ lãnh đạo sừng sỏ, kiến thức đầy mình, đội ngũ phóng viên tinh những nhà này nhà nọ trong giới, mà cả nhiều báo đài quốc doanh khác cũng dốt vậy, xài từ "tiếp kiến" sai trầm trọng vậy. Tôi dám chê rằng "dốt" bởi không từ nào chính xác hơn, dù có làm họ tự ái, khó chịu.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2024

Suy tôn

Dạo cuối tháng 7 rồi, nhiều lúc nhà cháu ngẩn ngơ không biết mình đang sống ở đâu, Việt Nam đất nước ta ơi mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn, hay bên Triều Tiên tục gọi Bắc Hàn. Có lúc cứ nghĩ hay mình ở Triều Tiên thật, thấy người ta sụt sịt khóc khô khóc ướt quá trời.

Hôm nay lại ngơ ngẩn. Cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ kiểu này, chẳng khác gì đang hộ khẩu KT3 trong bệnh viện tâm thần. Mình rõ ràng sống thời dép lốp bèo dâu lên tàu vũ trụ, 4 chấm không chấm khiếc, hay là đang thời phong kiến vậy. Đã từng nghe “rồng 5 móng vua quan thành bụi đất” rồi kia mà, chả nhẽ vua chúa tái sinh, hiện về đòi cướp lại chính quyền.

Ấy là lâu lẩu lầu lâu mới được nghe, được đọc lại từ “suy tôn”. Cái từ gốc Hán Việt ni có từ thời nào, không ai biết, chỉ biết ngày xưa, thời phong kiến hay dùng.

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2024

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Mạnh thường quân

Phiên dọn vườn, góp ý lần này, nhà cháu nêu trường hợp từ dùng sai “Mạnh thường quân”, không chỉ đối với nhà báo mà còn các nhà (quản lý, lãnh đạo, mặt trận tổ quốc).
 
Rất nhiều ông bà lớn (kể cả chủ tịch nước, thủ tướng), lãnh đạo mặt trận tổ quốc, khi cảm ơn những đơn vị, cá nhân có đóng góp tiền bạc, vật chất giúp người nghèo đã gọi họ là mạnh thường quân, nói kiểu quen mồm chứ hoàn toàn không hiểu mạnh thường quân là gì. Dân gian gọi đó là “dốt hay nói chữ”.

Trước hết nói về từ “mạnh thường quân”. Đây là tước hiệu riêng của Điền Văn, một viên quan lớn nước Tề thời Chiến quốc, làm tới chức tể tướng. Điền Văn dòng dõi quý tộc, tôn thất, tài giỏi, rất giàu có, biết chiêu hiền đãi sĩ, trọng người tài, cửa nhà luôn rộng mở đón khách, thực chất để chiêu nạp người tài giỏi. Nhà ông ta lúc thịnh thường có hàng nghìn khách ăn, gọi là thực khách (khách ăn) hoặc môn khách (khách trong nhà), bất kể giàu nghèo, sang hèn.

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên, cả tổng biên tập dốt nữa): Hoạn lộ hay quan lộ?

Sau khi thằng đầu đảng ở Bến Tre là Lê Đức Thọ (nghe cái tên rất kinh, rất sáu búa) bị bắt, có những tờ báo mậu dịch nhìn ra ngay nội dung thời sự nóng sốt, câu được bạn đọc, kiếm viu (view) dễ, liền khai thác mở rộng, kể chuyện đời tư, chuyện y làm quan. Tờ Tiền Phong đăng bài “Đường quan lộ của ông Lê Đức Thọ”, còn tờ Người lao động thì “Quan lộ của ông Lê Đức Thọ”… Tiền Phong sau đó thấy chối tỉ quá, giật tít lại, bỏ chữ “đường”, giống như NLĐ, cứ nghĩ thế là ổn.

Lỗi dùng sai này trên báo mậu dịch dốt đã khá phổ biến và cũng từ lâu rồi chứ không phải bây giờ. Vừa nhầm lẫn, vừa cẩu thả, vừa dốt khi họ không phân biệt được “hoạn lộ” và “quan lộ”, phải dùng thế nào, trong trường hợp nào mới đúng…

Trước hết nói về cái từ “hoạn lộ” mà đám phóng viên, biên tập viên, thậm chí tổng biên tập mù tịt, ngu ngơ không hiểu gì. “Hoạn” có nghĩa là làm quan, quan. Cụ Ngô Thì Nhậm có câu “Cảnh khả nhàn thê kiêm hoạn ẩn” (cảnh khá thanh nhàn, vừa làm quan, vừa ở ẩn). Hoạn cũng có khi để chỉ viên thái giám trong cung (người đã tự thiến mình hoặc bị thiến, còn thiến cái gì thì ai cũng hiểu, nói ra đây ngại chết đi được) ở hẳn trong cung phục vụ vua, và nhất là hầu hạ hoàng hậu/công chúa (nhằm đảm bảo an toàn). Người này được gọi là quan thái giám, dân gian gọi là hoạn quan (từ hoạn là quan, đồng nghĩa với động từ hoạn trong tiếng Việt là xẻo cắt, chỉ đúng đối tượng, thế mới tài).

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Góp ý với các nhà báo (phóng viên và biên tập viên): Thí sinh, nguyên nhân

Đành rằng chỉ có báo in do khuôn khổ có hạn, tiết kiệm "đất" nên câu chữ phải gọn gàng, chắc nịch, chứ báo mạng thì vô thiên khênh "đất", chả quan tâm điều ấy làm gì, nhưng tôi nghĩ rằng dù báo dạng nào cũng nên tránh dùng chữ thừa, sai. Nó sẽ làm rối làm hỏng tiếng Việt, và mất thời gian của người đọc.
Tôi muốn nhắc đến 2 trường hợp:

-Vừa rồi diễn ra kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia. Đương nhiên báo chí phải quan tâm thông tin, nhưng tôi thấy hầu hết (kể cả những báo nhớn như TN, TT) đều viết "thí sinh đi thi". Thí sinh có nghĩa là người đi thi rồi, còn nếu viết chính xác phải là "học sinh đi thi", có nghĩa người học đi thi. Đã dùng chữ "thí" thì đừng dùng "thi" nữa.

-Có một cụm từ rất thường xuất hiện trên mặt báo: "nguyên nhân là do..." hoặc"nguyên nhân chủ yếu là do...". Không thể được. Nguyên nhân là cái gì thì nói thẳng ra, vậy là thừa từ "do" hoặc từ "nguyên nhân". Ví dụ: Tôi học dốt, nguyên nhân là lười; Tôi học dốt do lười.

Mỗi lần đọc báo hoặc nghe phát thanh viên trên tivi có những cái sai trên, tôi hiểu rằng bây giờ chả có ai chịu nhắc nhở họ.
 
Làm báo (báo tin, báo điện tử, phát thanh, truyền hình) không phải chỉ là cung cấp thông tin mà còn gián tiếp bồi bổ tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) cho người đọc người nghe. Sai sót nhiều như cỏ dại vậy thì còn ra thể thống gì. Không chỉ phóng viên, biên tập viên sai mà ngay cả mấy ông bà lãnh đạo cơ quan báo chí cũng cần chịu trách nhiệm về việc làm hỏng tiếng Việt. Còn nếu do ngu dốt mà không biết, không nắm được, có lẽ nên nghỉ chứ đừng ngồi đó làm vì, cho oai.

Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Tung tích và tông tích

Trên rất nhiều báo (thời nay báo chí đa dạng, có cả báo in, báo điện tử nên không gọi là tờ báo nữa), trong nhiều phát ngôn của nhà đài phát thanh, truyền hình, ta thường đọc, thường nghe họ viết/nói mấy từ “tung tích”, “tông tích”, nhất là khi thông tin nội dung pháp luật, ai đó liên quan tới vụ án.

Điều đáng lưu ý, người nói/viết đã nhầm lẫn hoặc không hiểu gì về ngữ nghĩa từ, cứ dùng tràn lan, cẩu thả, chả phân biệt được sự khác nhau của hai từ này.

Trong thực tế, khi xảy ra vụ án, vụ việc nào đó, cơ quan điều tra (công an) thường truy tìm những người có liên quan.
Có những đương sự, công an biết rất rõ tên gì, con nhà ai, thân nhân (cha mẹ, anh chị em...của nó) ra sao, ở nơi nào, nhưng do đương sự đang trốn tránh, không biết đang trốn ở đâu, thì truy tìm tung tích.

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2022

Tri chứ không phải trí, các bố ợ

Hình như hôm nay (21.5) là ngày hạn của tiếng Việt hay sao í. Một tờ báo to, dẫn lời một ông to, mà dám nói dám viết là "ánh sáng trí thức", thì nói thật, nhà cháu lạy các bố cả nón.

Người ta có thể nói ánh sáng tri thức, ánh sáng lý luận, ánh sáng chủ nghĩa Mác, ánh sáng của nghị quyết, ánh sáng gì gì đó, chứ đếch ai nói ánh sáng trí thức.

Hình như các bố không phân biệt được tri thức và trí thức.
 
Tri nghĩa là biết, tri kỷ là người biết mình hiểu mình, tri túc là tự biết thế nào là đủ (túc), bất khả tri là không thể nào biết được, tiên tri là biết trước, lương tri là sự hiểu biết từ tấm lòng. Cổ nhân có câu "tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã" (biết thì bảo là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là người biết vậy).
 
Thức là sự nhận biết, suy luận, thức giả là người giàu hiểu biết, suy nghĩ sâu sắc.

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Nghĩa trủng

A lô a lô

Nhà cháu vừa bị thế lực thù địch chặn đúng 1 tháng rưỡi không cho vào viết bất cứ thứ gì. Vừa rồi, cách nay vài phút, vào thử, thấy cửa mở, chả nhẽ bọn chuyên gác cổng ngủ quên, ngủ gật, mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng... nên nhà cháu tranh thủ đẩy vội bài ni vào, vấn đề chính là thử, xem có được không.

Nếu từ thời điểm này, các đồng chí ấy vẫn không nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tiếp tục ngủ quên, thì nhà cháu sẽ thường xuyên đưa bài lên, đang tồn đọng nhiều lắm rồi, nhất là thế sự những ngày qua nóng hơn lửa cháy.

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Nghĩa trủng


Đối với những người miền Bắc và miền Nam, “nghĩa trủng” là một từ khá xa lạ, ít dùng, nhưng với người miền Trung, nhất là vùng Quảng Nam - Đà Nẵng thì đây là từ quen thuộc. Chỉ có điều nó hay bị dùng sai, viết sai.

Trên rất nhiều báo, kể cả báo in và báo điện tử, trên cả mạng xã hội, ta thường đọc phải từ “nghĩa trũng”, hoặc “nghĩa chủng” khi người ta nói về những khu mộ đặc biệt ở Đà Nẵng hoặc Quảng Nam. Đà Nẵng có 2 nghĩa trủng nổi tiếng tại Hòa Vang, Phước Ninh. Vùng Nam Ô cũng có khu nghĩa trủng, ở tỉnh Quảng Nam cũng có, nhưng nhỏ hơn, không nổi tiếng bằng 2 nghĩa trủng kia.

Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2022

Báo với chả chí

Lúc này, hai ngày nay, những cái tên Quyết còi FLC và Dũng béo Tân Hoàng Minh "hot" cháy mạng, gần như thiên hạ chả thèm quan tâm những thứ khác. Nói đùa chứ, giả dụ đêm nay trời có sập, khi vừa được bới lên, người ta sẽ phều phào hỏi ngay, sao, Quyết còi Dũng béo ra sao rồi, tâm thư được cụ tổng gạch đít đoạn nào rồi, v.v..

Nói thế để nhắc rằng thời điểm này chả nên viết cái gì, không ai để ý đâu. Nhưng có thứ mắc cười sau đây nhà cháu lại không chịu nín được.

Trên báo VnExpress, trong bài nhân sinh nhật nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết thế này: "Mỗi dịp sinh nhật, ông lại nhớ người bạn vong niên - cố nhạc sĩ Hoàng Vân. Hai người cùng sinh năm 1930, đều có thời học nhạc ở Trung Quốc, phụ trách thiếu sinh quân, gắn bó với nhau trong nhiều chuyến thực tế từ Bắc vào Nam. Phạm Tuyên nói mỗi sáng tác của ông đều có bóng dáng, sự góp ý của bạn". (trích nguyên văn, xem ảnh chụp lại).

Tôi chỉ biết kêu ối giời ôi là giời. Người bạn vong niên mà lại hai người cùng sinh năm 1930. Báo với chả chí. Ai đời tờ báo tự nhận là "báo tiếng Việt nhiều người xem nhất" lại ngô nghê đến thế.

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

Lời vàng ngọc của thủ tướng

Từ hôm ổng lập ngôn tới nay, chỉ thấy báo chí khen khen khen, chứ chưa ai dám chỉ ra điều cần chê. Báo chí truyền thông quốc doanh mậu dịch đương nhiên phải bốc lên rồi, không bàn làm gì, nhưng ngay cả những người tử tế, kiến thức không đến nỗi nào, cũng cứ im lìm như đêm từ tịch. Có nhẽ do ngại đụng chạm tới quan chức, nhất đây lại là thủ tướng. Tránh voi chả xấu mặt nào, tâm lý an phận thường an ủi con người ta như vậy. Không ai lên tiếng thì không có nghĩa không có ai.

Chả là hôm 5.5, tại cuộc họp thường kỳ chính phủ, tân thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo quán triệt bằng thông điệp “phòng chống dịch COVID-19 phải bằng một tư duy chiến lược mới: đó là chuyển trạng thái chống dịch từ phòng ngự sang chủ động tấn công, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị…”. Gần như tờ báo mậu dịch nào cũng sung sướng rút tít cái cụm từ “chuyển từ phòng ngự sang tấn công”. Giời ơi, sung sướng quá, đúng là tư duy của vị tướng cầm quân.

Ông Chính vốn con nhà võ, từng ngồi ghế thứ trưởng công an, thì cách nói đanh thép, máu lửa, võ biền vậy cũng chẳng lạ gì. Ngay cả nhiều ông bà gốc quan văn, cứ mở mồm ra là nháo nhào những chiến dịch, ra quân, xung kích, công phá, thế lực thù địch, đấu tranh không khoan nhượng, ai thắng ai, một mất một còn… Tư duy chiến tranh không biết còn ám ảnh vào bộ não những nhà cai trị xứ này đến bao giờ. Chịu, chả biết được. Đến hòa bình mà họ còn sợ, bằng chứng là luôn kêu gọi chống “diễn biến hòa bình” thì chiến tranh ngấm vào tế bào rồi, khó chữa lắm.

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2021

Chấp bút

Những ngày qua, dư luận lao xao chuyện cố văn sĩ Hữu Mai bị "tước quyền" trên những cuốn sách hồi ký dựa theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mỗi người mỗi ý, ông nói ra, bà nói vào, người thẳng thắn, kẻ vòng vo, cứ gọi là rối hơn tơ vò.
 
Kể ra cũng hơi vương vướng ở chỗ đụng tới phần nhạy cảm là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhưng về mặt đạo lý và nguyên tắc, chả nhẽ tước bỏ công lao của nhà văn Hữu Mai, cũng gần như vị tướng, người nổi tiếng của một thời, của giới văn chương, thì không nhạy cảm chăng?

Cần hiểu cặn kẽ vụ này về nhiều khía cạnh thì may ra mới gỡ rối được.

Nhớ lại dạo Tổng thống Mỹ Obama thăm Việt Nam hồi tháng 5.2016, nhân những sự kiện ông Obama diễn thuyết, phát biểu ở nơi này nơi nọ, nội dung rất hay, ấn tượng, có khá nhiều báo khai thác ở khía cạnh: những nội dung ấy ông Obama tự nghĩ ra, hay có ai chuẩn bị sẵn. Có 3 tờ báo viết rằng "ai đã chắp bút cho ông Obama?".

Xin nói ngay, viết thế là sai, phải viết là "chấp bút". Đây là một từ có thành phần Hán Việt nhưng đã được Việt hóa, dùng như từ thuần Việt. Chấp, theo nghĩa Hán Việt, là: cầm, giữ, nắm lấy, thực hành, nhận. Chấp chính là ai hoặc một tổ chức, lực lượng nào nó nắm giữ chính quyền; chấp đơn là nhận lấy cái đơn của người khác; chấp hành là chịu trách nhiệm thi hành những chương trình, kế hoạch đã định, đã được đặt ra, thông qua…

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2021

Tiên và tiền

Ở đây chỉ bàn về nghĩa của vài từ Hán Việt có liên quan tới nội dung sẽ đề cập chứ không nói gì về tiên (người đẹp) hoặc tiền (tiền bạc, money), mặc dù đó là hai thứ ai cũng thích.

Hôm qua, nhân chuyện người đứng đầu đảng và nhà nước viếng tiền nhân tại khu Hoàng thành Thăng Long, báo chí, đài, tivi và các cơ quan truyền thông nhắc nhiều tới “tiên đế”, chẳng hạn bản tin của TTXVN viết “Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đến dâng hương tưởng nhớ các bậc tiên đế, hiền tài, các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước…”. Hầu như báo nào đăng tin về sự kiện này đều dùng chữ “tiên đế”. Hình như sau nhiều năm tích cực chống phong kiến, đả thực bài phong, đây là lần đầu tiên những ông vua thời phong kiến được người cộng sản nhắc tới một cách long trọng kính cẩn thế. Thôi thì, như các cụ bảo “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, vua mới thờ vua cũ, dù khác triều đại, là chuyện dễ hiểu.

Có người thắc mắc sao lại tiên đế, bởi người ngoại tộc, không cùng triều đại, không phải đức vua kế vị thì không được dùng từ ấy. Thời xưa chỉ có con cháu, tử tôn trực hệ, dòng dõi của vua (đế hệ) mới được xài từ “tiên đế”. Hiểu thế có phần đúng nhưng máy móc, thực ra không hẳn vậy.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Lời tựa, tựa đề, nhan đề

Cần nói ngay, góp ý này không chỉ dành cho các nhà báo mà với rất nhiều “nhà”, trong đó có cả những người được xếp vào diện có học, kiến thức cao, thầy cô giáo, sinh viên, thậm chí cả quan chức văn hóa.

Sẽ có ai đó bảo ông tự cho mình là gì mà dám đụng vào những đấng bậc, thứ hạng cao như vậy. Đành phải thú thực rằng tôi chả là gì sất, chỉ thường dân như biết bao người quanh ta, tuy nhiên thấy cái sai thì góp ý, còn đối tượng có tiếp nhận được hay không lại là chuyện khác.

Đọc trên báo, nghe trên tivi, đôi lúc nghe trò chuyện đâu đó, thấy người ta gọi tên cuốn sách, bộ phim, vở kịch, hoặc một tác phẩm văn học bằng từ “tựa đề”. Ví dụ: tựa đề “Số đỏ”, tựa đề “Áo lụa Hà Đông”, tựa đề “Đường Sơn đại huynh”…

Biết đâu có người lý sự rằng ngôn ngữ luôn vận động, phát triển, biến đổi qua thời gian, nơi này gọi thế này, nơi kia gọi thế khác, ngoài bắc khác, trong nam khác, bắt bẻ nhau làm gì. Nếu nói thế thì tôi xin chịu bởi biết cãi cũng không lại... bê tông. Tôi chỉ góp ý với những “nhà” chuyên sử dụng tiếng Việt thôi.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Góp ý với các nhà báo (phóng viên, biên tập viên): Tại ngoại hậu tra

Hôm 11.7, công an ban lệnh khởi tố tay phó chủ tịch thành phố HCM Trần Vĩnh Tuyến về tội “tham nhũng”. Trúng ngày thứ bảy cuối tuần, tin tức đang hẻo, báo chí như bắt được vàng, đồng loạt khai thác sự kiện nóng này. Tôi ngồi trên xe khách lắc lư từ Bảo Lộc về, mắt nhắm mắt mở do say xe, đọc cái tít của “tờ” Vietnamnet, rằng “Ông Trần Vĩnh Tuyến được tại ngoại hầu tra”. Chán, báo với chả chí, chữ với chả nghĩa.

Những người làm trong cơ quan bảo vệ pháp luật chắc không mấy ai lạ lẫm với cụm từ Hán Việt này. Đúng ra, chính xác phải là “tại ngoại hậu tra”, mà chính xác hơn nữa thì “tại ngoại hậu cứu”. Nhưng người ta cứ “hầu tra” riết, thế rồi cứ coi như vậy thành đúng. Báo chí sai đã đi một nhẽ, thậm chí có cả những luật sư, quan tòa, công tố viên, kiểm sát viên, rồi cả ông to bà nhớn lãnh đạo cơ quan pháp luật cũng mở mồm “tại ngoại hầu tra”.

Để biết đúng sai, cần xem xét nghĩa của từng chữ trong cụm Hán Việt này. “Tại” nghĩa là ở, chỉ vị trí một nơi nào đó. Tu tại gia là tu ngay ở nhà (chứ không cần vào chùa), học tại chức là học khi đang còn giữ chức vụ làm việc (không cần phải nghỉ hẳn để tập trung suốt thời gian trong trường). Xưng hô “tại hạ” tức là khiêm tốn với người trên, cấp trên, ý rằng mình đang ở (tại) dưới (hạ) người ta.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Khuyết tật hay tàn tật

Ngày xưa chỉ nghe hoặc đọc trên báo từ “tàn tật” để nói về những người cơ thể bị tàn phế một phần, bộ phận nào đó. Chả hiểu tự khi nào người ta đẻ thêm từ “khuyết tật”. Điều chắc chắn sản phẩm mới này không phải do dân chúng hoặc các nhà ngôn ngữ tạo ra, mà bởi nhà chức việc, thậm chí quan to. Họ hứng lên, tung từ ngữ mới, áp vào các văn bản dưới danh nghĩa chính quyền, đảng, nhà nước, rồi cứ thế bắt mọi người tuân chỉ. Đúng sai, kệ.

Hiện trong các tổ chức hội đoàn, đoàn thể ở xứ ta, có Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, mà không phải ai khác, chính bà Đặng Huỳnh Mai cựu thứ trưởng Bộ GD-ĐT (đang bị ồn ào vụ “đòi” nhà công vụ) làm chủ tịch. Thực thà mà nói, người tàn tật có riêng tổ chức của mình thì tốt quá đi chứ, chả ai phản đối chuyện này. Chỉ có điều, tên gọi ấy đã sai trầm trọng, không đúng đối tượng.

Theo nghĩa từ Hán Việt, “tật” tức là tình trạng cơ thể bị suy yếu. Tật bệnh chỉ con người ta mắc bệnh, đau ốm, cần được chạy chữa. Tật cũng có nghĩa là điểm yếu nào đó của con người, “có tật giật mình”, tật nói ngọng, tật nói khoác, v.v..

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

Cũng là dạng dốt hay nói chữ

Hôm trước tôi đọc trên rất nhiều tờ báo cái tít chình ình chữ to tướng ở trang nhất (báo in) hoặc phần tiêu điểm (báo mạng), họ rút nhời của cụ nhớn rằng “Lợi ích nhóm, tham nhũng là giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm”. Có nhẽ đây chính là nhời cụ bởi nó được đặt trong ngoặc kép, vả lại có dử kẹo họ (báo chí) cũng chả dám bịa.

Tất nhiên, với những lập ngôn đao to búa lớn từ miệng cụ nhớn, người ta hoan hô rần rần. Còn tôi thấy chả có gì hoan hô, mà chỉ chê. Cái nào đáng khen thì khen, cái nào đáng chê thì chê, tính tôi vậy.

Thế thì chê cái gì? Chê cái thói dốt hay nói chữ, chê thói a dua a tòng.

Chữ ở đây là chữ “nội xâm”. Lâu nay thiên hạ có vẻ quen với chữ mới này, không biết do ông ba vạ lãnh đạo nào phát ra trước. Mồm kẻ sang có gang có thép, đám đông nghe vậy không cần biết đúng sai, cứ thế trầm trồ, kiểu như hay nhỉ, khí phách nhỉ, đúng nhỉ. Đúng đúng cái con khỉ.

Từ ghép ất ơ ấy (nội xâm) từng thành tố có gốc Hán Việt, nội và xâm. Ai cũng biết “nội” là bên trong, phía trong, đối lập với “ngoại” là bên ngoài. Nội trú (trú là ở) tức ở bên trong, còn ở bên ngoài là ngoại trú. Đứa nào đi học không về nhà với thày bu mà ở ngay ký túc xá của trường thì gọi là nội trú. Nội hôn là lấy nhau (hôn nhân) trong cùng dòng họ, nhà Trần ngày xưa áp dụng kiểu này để không cho người ngoài họ vào tranh quyền cai trị. Quan nội giám tức là những viên hoạn quan (bị thiến 2 quả lựu đạn để không thể gây… nổ) ở trong cung (nội) chuyên làm việc giám sát (giám) các bà cung phi xinh đẹp nhưng thèm tình ái, ngăn các bà không được tòm tem với ai khác ngoài vua. Nội trợ để chỉ người trong nhà chuyên đỡ đần (trợ) việc nhà…

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2019

Đơn và độc

Điều rất hay xảy ra và cũng dễ nhận thấy là trong khá nhiều bài viết báo chí hoặc văn chương hiện nay, những tác giả trẻ dùng từ Hán Việt thường bị sai, có sự nhầm lẫn rất đáng tiếc. Đành rằng ngôn ngữ luôn vận động, thay đổi, phát triển, từ ngữ được bổ sung những nghĩa mới, nhưng với không ít từ Hán Việt, nếu ta không nắm chắc nghĩa gốc của nó sẽ gây nên sự diễn đạt ngô nghê, vô nghĩa.

Trong bài này, chúng tôi xin trao đổi về hai từ “đơn” và “độc”.

Lật giở những trang báo, không khó để bắt gặp cụm từ được coi là thành ngữ chỉ sự một mình, “đơn thân độc mã”, hiểu nôm na là “một mình một ngựa”. Bảo rằng sai thì cũng không hẳn sai, nhưng đúng cũng chưa phải đúng.

“Đơn” là từ Hán Việt, nghĩa là một, một đơn vị, một mình. Bản thân “đơn” đã là một mình rồi, nên không cần phải “đơn thân” để chỉ sự một mình. Đơn cử có nghĩa là lấy một việc gì đó, một người nào đó, một chuyện chi đó để trình ra (cử) cho người khác thấy, nắm được, hiểu được. Đơn chiếc là người sống một mình, chả có ai bên cạnh. Người đàn bà đơn chiếc là người sống không chồng không con, không có người thân. Trong các cuộc thi đấu thể thao, khi mỗi bên chỉ có một người đấu thì gọi là giải đơn nam hoặc đơn nữ, nhằm phân biệt với các hình thức đấu nhiều người hơn, chẳng hạn đôi nam, đôi nữ, đồng đội. Một cô gái nào đó không lập gia đình, không cưới chồng mà tự nuôi con thì gọi là bà mẹ đơn thân. Để chỉ tình trạng ai đó một mình làm việc, không có người nào giúp sức, hỗ trợ, ta hay dùng thành ngữ “đơn thương độc mã” (chứ không phải đơn thân độc mã như nói ở trên). Nguyên nghĩa thành ngữ này chỉ về người ra trận một mình, tay cầm một cây thương (vũ khí), cưỡi trên một con ngựa (vật vận chuyển), cái gì cũng một, ngoài ra không còn gì khác. Dường như thành ngữ này có liên quan tới tích Triệu Tử Long một ngựa một giáo xông vào giữa đám vạn quân Tào ở Đương Dương để cứu ấu chúa.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

Góp ý với các nhà báo: Bài hay bày?

Sau trận thắng của đội tuyển Việt Nam trước đối thủ to khỏe Phi Luật Tân trên sân nhà Mỹ Đình, một không khí cuồng nhiệt, phấn khởi tràn ngập trong đời thực lẫn trên mặt báo. Sẽ còn đá 2 trận chung kết với đội Mã Lai để giành vòng nguyệt quế, tức là còn phải thử sức thử tài, mưu mẹo nhiều nữa. Vậy nên rất nhiều báo đã nhanh nhảu làm công việc dự báo, tiên đoán, hình dung, cầm đèn chạy trước ô tô, với cái tít “Thầy phù thủy Park sẽ bày binh bố trận sắp tới như thế nào?”.

Đang máu bóng đá, người đọc rất dễ bỏ qua cái sai của từ ngữ trên tít và trong bài. Sai ở từ “bày binh”, một lỗi nhầm lẫn, dùng tùy tiện từ Hán Việt và thuần Việt.

Trong thành ngữ cổ có câu “bài binh bố trận”, thường được dùng khi nói tới nội dung quân sự. Xét về mặt ngôn ngữ, thành ngữ này hoàn toàn từ Hán Việt (bài, binh, bố, trận), không có từ thuần Việt chen vào. Từ “bài” và từ “bố” đều có nghĩa là sắp xếp, sắp đặt, bày ra, bày đặt, dàn xếp, bố trí, xếp đặt… Người cầm quân (binh) khi tổ chức trận đánh (trận) thường có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, nhất là về địa hình, lực lượng, thời gian, tìm hiểu đối phương… để tránh mọi sai sót, nắm chắc phần thắng. Công việc ấy là bài và bố. Thuật ngữ quân sự gọi đó là “bài binh bố trận”. Cũng có trường hợp người ta ra trận, đi đánh nhau mà không cần bài binh bố trận, chẳng hạn dân binh nghĩa sĩ trong tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ Đồ Chiểu: “Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn/Chín chục trận binh thư, không chờ bài bố”, tuy nhiên đánh kiểu “lấy tinh thần làm sức mạnh” như vậy thì rất dễ thua, nhất là trong những cuộc chiến tranh hiện đại.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

Chớ nên nhầm lẫn mấy từ hay bị nhầm

Có một số từ gốc Hán Việt mà nhiều người thường nhầm khi sử dụng, cụ thể là là giả thiết - giả thuyết, thập niên - thập kỷ. Nghe qua thấy chúng có vẻ gần nghĩa nhau, nhưng nên dùng chính xác trong mỗi trường hợp thì vẫn hơn.

Trước hết nói về cặp từ giả thiết - giả thuyết. “Giả thiết” có nghĩa là điều gì đó, một vấn đề gì đó được nêu ra tạm coi như có, rồi có thể căn cứ vào đó mà suy luận, mà tìm ra sự thực. Khi nêu giả thiết nào đó, người ta thường căn cứ vào một số sự vật, hiện tượng có thực nhưng chưa chắc chắn lắm. Đó chỉ là dạng phỏng đoán. Chẳng hạn giả thiết vụ nổ mìn ở tỉnh Q là do mâu thuẫn cá nhân bởi trước đó có biểu hiện mâu thuẫn cá nhân giữa những người liên quan. Nhưng cũng lại có giả thiết khác cho rằng có thể do quan hệ nam nữ bởi nạn nhân từng bị nhắn tin đe dọa này nọ sau khi từ chối tình yêu… Cơ quan điều tra nêu ra nhiều giả thiết từ một vấn đề, vụ việc để từ đó điều tra, loại trừ, tìm ra sự thực.

“Giả thuyết” khác giả thiết ở chỗ nó là cách giải thích một hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó, dù chưa phải là đúng nhưng tạm được chấp nhận. Khi nêu giả thuyết, người ta có cơ sở lý luận, sự tìm hiểu, phân tích, lý giải có hệ thống, thậm chí có căn cứ khoa học, chứ không phải chỉ phỏng đoán này nọ. Ví dụ, giả thuyết về cái chết của ông Tạ Thu Thâu lãnh tụ troskist sau CMT8 dù chưa được thừa nhận là đúng nhưng có nhiều cơ sở để tin như vậy; hoặc giả thuyết vụ nổ ghê gớm ở Tunguska (Siberia, Nga) năm 1908 là do thiên thạch bởi các nhà khoa học phát hiện được những vật thể lạ, khác với vật chất trái đất xung quanh nơi phát nổ.

Nói tóm lại, nhiều nhà báo hay nhầm khi dùng từ "giả thuyết" mà lý ra phải là "giả thiết" mới đúng.

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Cống sinh không phải tên riêng

Có lần tôi đọc một bài trên báo Thanh Niên, viết về thành nhà Hồ ở Thanh Hóa. Trong bài có từ Hán Việt mà tôi cho rằng người viết dù viết ra vậy nhưng không hiểu rõ nghĩa.

Tôi có ý thức cẩn trọng khi dùng những từ loại này một phần chịu ảnh hưởng của bậc cao nhân mà tôi luôn coi là thầy mặc dù chưa được học thầy một buổi nào. Đó là Giáo sư Phan Ngọc. Tôi sẽ viết rõ hơn về nhân vật này để bạn đọc hiểu chúng ta có một nhà trí thức yêu tiếng Việt, nặng tình với tiếng Việt như thế nào.

Bài báo nói trên kể về một huyền tích xây thành nhà Hồ, đề cập chuyện quan đốc xây thành là Cống Sinh (tác giả (hoặc biên tập viên) viết hoa cả hai chữ Cống Sinh) bị chôn sống do thành xây chậm. Mặc dù bài cũng có nhắc tên đầy đủ của ông là Trần Công Sỹ nhưng cách viết hoa như vậy vẫn làm cho bạn đọc hiểu rằng Cống Sinh là một tên khác của ông.

Thực ra cống sinh là người đi thi đã đỗ hương cống. Sinh tức là học trò, sĩ tử. Người đỗ trong kỳ thi hương (kỳ thi này được tổ chức cho một vùng nhất định gồm vài tỉnh, là kỳ thi đầu trong 3 kỳ thi: hương, hội, đình) thì được gọi là hương cống. Gọi như vậy bởi vì người thi đỗ hạng cao trong kỳ thi hương được dâng lên, cống lên cho triều đình để nhà vua bổ làm quan. Chính vì vậy, họ được gọi là cống sinh, tức người học trò được tiến cống lên vua. Từ thời nhà Lê về trước đều dùng từ này, đến thời nhà Nguyễn thì bị đổi thành cử nhân, có nghĩa là người được đề cử làm quan.

Nhà thơ Tú Xương cuối thế kỷ 19 đã nói khá rõ về thi cử thời ông: "Nào có ra gì cái chữ nho/Ông nghè ông cống cũng nằm co/Ước gì đi học làm thày phán/Tối rượu sâm banh sáng sữa bò". Ông nghè tức là ông tiến sĩ, cao hơn ông cống (hương cống, cử nhân).

Ngày xưa, học hành để đi thi, đi thi chỉ để đỗ đạt, mong được làm quan. Nếu đỗ hạng cống sinh, cử nhân thì sẽ do triều đình phân bổ, sắp đặt làm quan chức cấp huyện trở lên, còn đỗ tú tài thì phải thi lại, hoặc về quê tham gia vào bộ máy hương lý ở nông thôn cấp xã tổng, như chánh tổng, lý trưởng chẳng hạn.

Nói theo cách bây giờ, từ "hương cống" chỉ là tên gọi của một học vị, và cống sinh là người đạt được học vị ấy. Nó không phải học hàm, không phải chức danh, nó chỉ là danh từ chung, cũng như chúng ta viết tú tài, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ… vậy, nên không cần viết hoa. Ta chỉ viết hoa những học hàm (giáo sư, phó giáo sư) do nhà nước phong bởi đó vừa là học hàm, vừa là chức danh gắn với một ai đó, ví dụ Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Ngô Bảo Châu; cũng như ngày xưa những tiến sĩ trong lần thi đình đỗ thứ hạng đầu thì được nhà vua phong “học hàm” là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, chẳng hạn Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thám hoa Vũ Phạm Hàm, Bảng nhãn Lê Quý Đôn.

Trở lại bài báo trên, "cống sinh" chỉ viết bình thường chứ không phải là cái tên riêng của nhân vật.

Nguyễn Thông