Bạn bè

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022

Chủ tịch Quận (kỳ 2)

Hồi còn ở quê (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng), tôi biết anh Quận từ khi tôi còn bé, và tất nhiên “chủ tịch” càng bé nữa bởi tôi hơn cả chục tuổi. Sống ở nông thôn, gia đình nông dân, nên đứa nào cũng thạo việc đồng áng, chăn trâu cắt cỏ, đi câu đánh dậm, rau bèo cám bã phụ cho thày bu anh chị. Chả phải tự khen tự sướng, chứ đứa nào cũng chăm làm, chịu khó, giản di, tiết kiệm, cả tôi cả Quận, cả đám trẻ làng Trà Phương. Có nhẽ nhờ cái gốc vững ấy nên sau này dù đứa thành đạt đứa không, làm cán bộ hay chỉ làm dân, nhưng đứa nào cũng tốt. Cán bộ mà chịu khó, nhiệt tình với công việc thì dân được nhờ. Dân xã Thụy Hương đã may mắn được người cầm đầu như vậy.

Kể lại chuyện cũ thì mạn phép xin lỗi, hơi tọc mạch tí, nhất là với chủ tịch Quận, để tỉ mỉ biên chắp lại chút ký ức đẹp. Khác với thày tôi chỉ làm nông, trồng trọt hoa màu, nuôi con lợn con gà, bố anh Quận ngoài “chức” nông dân còn làm thợ may, ông phó may nổi tiếng của làng Trà, của xã Thụy Hương. Khi xưa, những người thợ chuyện nghề nào đó được gọi là ông phó. Phó may, phó cối (đóng cối xay), phó cạo (cắt tóc), phó nháy (chụp ảnh), phó nề (xây), phó ngõa (lợp ngói)… Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Cũng như một thứ danh hiệu, một dạng tuyên dương sự khác biệt, tài giỏi, giống như bây giờ gọi là nghệ nhân.

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

Chủ tịch Quận

Chữ Quận viết hoa để ngay từ đầu nói rằng không phải đơn vị hành chính, kiểu như phường xã, quận huyện, mà là tên riêng một người. Anh chủ tịch xã quê tôi đất Phòng, Vũ Duy Quận, bà con thân mến lẫn suồng sã gọi bằng cái tên gắn cả chức danh, chủ tịch Quận.

Mỗi lần có việc đáo cố hương, tôi đều gặp Quận, khi ngoài đường, lúc ủy ban, có bận ngay tại nhà bởi nhà chủ tịch cũng là cửa hàng tạp hóa, tôi đi bộ lên mua chai mắm, chục trứng, hộp bánh, cục xà phòng, bún, bánh cuốn, giò chả, tóm lại không thiếu thứ gì. Đứa cháu tôi cười bảo còn nhiều hàng hơn cả bách hóa tổng hợp ven sông Đa Độ trên phố huyện dạo xưa. Quận không còn trẻ, nhưng chưa phải già. Nhiều dân làng khoe với tôi, cảm nhận đầu tiên về người đứng đầu bộ máy hành chính xã ở đức tính giản dị, dễ gần, năng nổ xốc vác, và ưa nhất là hiểu dân gần dân. Đã lâu nay, trong cái hệ thống chính trị cầm quyền xứ này, cứ nói tới cán bộ, người ta ít có cảm tình bởi sự xa cách khó lấp đầy. Đang làm dân không chức vụ quyền hành thì dễ thương, hễ thành cán bộ y như rằng sinh chuyện sinh hư, quan cách khó chịu. Nhưng chủ tịch Quận là trường hợp hiếm hoi tôi biết không rơi vào cái quy trình hư hỏng ấy.

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Chuyện cụ Kwan nhân ngày nhà báo

Bạn bè tếu táo thường gọi y là Kwan, Chun Do Kwan, hoặc Kwan Do Chun, hệt người gốc Hàn. Nhà cháu học đòi cái thói hư hỏng của thiên hạ (điều hay chả học, chỉ tuyền học điều dở) gọi cụ ấy là y, bởi một phần đồng tuế, phần khác đàn đúm với nhau khá lâu, chứ đã U70 cả rồi.

Nhân đây, nói thêm chuyện này, liên quan tới chữ “tuế” vừa nhắc ở trên. Để chỉ những năm mà con người ta sống, năm của đời người, tức là tuổi, thì dùng chữ tuế. Cùng tuổi với nhau gọi là đồng tuế. Nói hai người hoặc những người cùng tuổi thì dùng chữ đồng tuế chứ không phải đồng niên. Niên tức là năm, thứ thời gian vật lý, có tính khách quan, nằm ngoài con người, không nhất thiết gắn với người. Kim niên là năm nay, khứ niên là năm trước (khứ niên kim nhật thử môn trung, ngày này năm trước ở ngay trong cửa này), niên lịch là lịch năm, niên biểu là chép lại những chuyện xảy ra các năm, niên hạn là thời hạn tính bằng năm, thiếu niên là số năm còn non (để chỉ người ít tuổi), lão niên là năm già/nhiều (cho người nhiều tuổi). Vì vậy, nói người cùng tuổi dùng đồng tuế chứ không phải đồng niên, dù tuế và niên đều có nghĩa là năm.

Lại quành về cụ Kwan. Cụ í tên tục là Đỗ Trung Quân. Á à, tưởng ai, ông ni thì choa lạ chi. Sẽ nhiều người bảo thế. Vâng, cũng thuộc dạng người của công chúng, như Ngọc Trinh, Mỹ Linh, Trấn Thành chả hạn. Chỉ có điều, cụ Quân khác mấy người ấy, cụ là nhà thơ. Chính do đầu thai thành nhà thơ nên mới sinh chuyện.

Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2021

Tính cách

                                                               Kính tặng "cụ" bạn Đào Lê Bình

Tôi người Phòng (Hải Phòng), mang tính cách Phòng, có gì là cứ nói thẳng, không vòng vo màu mè, lại càng không dĩ hòa vi quý. Phòng là vậy, chả phải chỉ mình tôi.

Hôm trước coi cái "Quán thanh xuân" của cô Quỳnh và VTV về chủ đề Phòng, "Thành phố và những cánh buồm" thấy chưa nổi được chất Phòng. Quanh đi quẩn lại chỉ có sông Tam Bạc, chợ Sắt, bánh đa cua. Phòng xưa có bấy nhiêu thì quá chán. Nói tới thành phố này, nhất là ký ức thanh xuân, tức thời vài chục năm trước, phải nói tới những cây cầu mạch máu nuôi thành phố, nhà máy xi măng, bến cảng hồi chiến tranh, những năm bị thủy lôi phong tỏa, bến Bính đầy kỷ niệm, thậm chí cả thuốc lào Tiên Lãng-Vĩnh Bảo..., và nhất là tính cách Phòng trong mọi hoàn cảnh. Thế mới là Phòng, chứ chỉ những cánh buồm trên sông Tam Bạc thì xoàng quá.

Thêm tí về thuốc lào. Hồi năm 1972 tôi lên Hà Nội lần đầu tiên, thấy rất ngạc nhiên ở các phố Hàng Bông, Hàng Ngang có những cửa hàng chuyên bán thuốc lào (và điếu hút thuốc), biển đề rõ ràng "Thuốc lào Tiên Lãng", tự thấy rất hãnh diện về quê mình. 5 năm sau, năm 1977 tôi đặt chân lên đất Sài Gòn, qua phố Phạm Hồng Thái quận 1, dãy nhà phố đối diện với khách sạn New World bây giờ, có 2 tiệm ghi rõ to "Thuốc lào Vĩnh Bảo, Tiên Lãng chính hiệu", nhủ thầm quê mình oách thật, thuốc lào cũng xâm chiếm miền Nam.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Thành phố hoa phượng (kỳ 2)

Cuối bài kỳ trước có nhắc tới nhà thơ Hải Như. Nói cho công bằng, trong việc quảng bá, PR cho địa danh Hải Phòng, công của ông Hải Như rất lớn. Người đời biết tới đất Phòng nhiều hơn, thậm chí kỹ lưỡng, tỉ mỉ hơn là nhờ bài thơ của ông. Hải Phòng một thời lừng danh những tên Quán Bà Mau, bến Bính, Sáu Kho, Thượng Lý, Sở Dầu, Tam Bạc, vườn hoa đưa người… trong trang viết Nguyên Hồng. Rồi tới lượt Hải Như, người ta biết thêm về Xi Măng, cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên, sông Lấp. Ngay cái tên bài thơ, “Thành phố hoa phượng đỏ”, thành thứ tên riêng, cũng đủ để ghi công lao của ông với thành phố cảng miền duyên hải này. Tôi không biết những vị lãnh đạo, các quan cai trị đất Phòng suốt từ năm 1970 (năm bài thơ ra đời) tới nay đối xử với Hải Như khi còn sống và Hải Như sau khi đã khuất như thế nào, nhưng với người có công thì cần có cách gì đó cụ thể biết ơn. Chả hạn, đặt cho một con đường mang tên ông, phố Hải Như, trồng trên đó những hàng phượng, bung nở đỏ rực mỗi hè. Cũng vậy, tỉnh Quảng Bình cần có đường Hoàng Vân, tỉnh Bến Tre có đường Nguyễn Văn Tý, Nghệ An có đường Đinh Quang Hợp, Thanh Hóa có đường Xuân Giao hoặc Hoàng Đạm…

Cũng cần biên thêm, nếu chỉ tồn tại dưới dạng thơ, dù đăng trên báo Nhân Dân (báo Nhân Dân thời ấy còn có người xem chứ bây giờ thì nói làm gì) bài thơ của cụ Hải Như cũng chỉ giới hạn ở đám đông vừa vừa chứ không đông lắm. Nó chỉ thăng hoa khi được âm nhạc chắp cánh. Xứ ta lạ lắm, nhiều bài thơ nôm na như vè nhưng nhờ thầy son phe mà bay chấp chới khắp miền. Thôi, chả nói ra đây sợ đụng chạm. Mà cũng không ít nhạc sĩ gần như rất vụng soạn lời (trên đời không có mấy ai đặt lời (ca từ) giỏi như Trịnh Công Sơn, nếu cần kể thêm tới người thứ nhì thì đó là Hoàng Vân), tuy nhiên cực giỏi trong chuyện kết hôn thơ với nhạc. Hai vị Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu là ví dụ cụ

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

Thành phố hoa phượng

Hẵng tạm gác sang một bên chuyện người ta đang thi nhau chặt cây phượng trong sân trường. Các cụ xưa bảo “con chim trúng đạn sợ làn cây cong”, một cây phượng đổ, thế là sợ, lôi tất cả đám phượng hồng ra chặt ráo củ tỉ. Đó cũng chỉ là một phần biểu hiện thứ tư duy xộc xệch ở xứ ta: không quản được thì cấm. Chỉ tội nghiệp cây phượng.

Nếu cần chép vào lịch sử thì có thể biên thế này: Năm Canh Tý, tháng Tân Tỵ, nhằm tháng 5 tây lịch 2020, mùa hè, chế độ cộng sản niên hiệu Nguyễn Phú Trọng năm thứ 5, cây phượng vốn do người Pháp đem sang An Nam trồng làm đẹp cảnh quan từ cuối thế kỷ 19, được tôn vinh thành biểu tượng mùa hè, kỷ niệm của tuổi học trò, sau hơn một thế kỷ vinh quang, đã bị “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” sau những nhát dao và đường cưa máy của nhà cai trị. Kể từ nay, sân trường chẳng còn sắc màu phượng đỏ, người ta sẽ trồng thay thế vào đó thứ cây gì, hoặc thậm chí có trồng hay không thì chưa biết.

Đã bảo gác, mà cũng tốn hơn 200 chữ, thế mới biết người đời dễ dao động không làm chủ được mình. Vậy chuyện thành phố hoa phượng ra ri?

Chả là, Hải Phòng, dân gian gọi tắt là Phòng, nơi được nhà thơ Nguyễn Dương Côn (người Thái Bình, quê của… Đường Nhuệ đang nổi tiếng) phác họa trong hai câu thơ dễ gây mất lòng: “Cái thành phố ăn nằm với biển/Đẻ ra những đứa con cần lao”. Suốt hàng mấy chục năm, hình ảnh của Phòng luôn là thành phố cần lao làm lụng vất vả cần cù. Bác Dương Côn kia nói chẳng sai tí nào. Nếu có ăn chơi, chỉ phổ biến kiểu áo bay mũ cối. Lẽ dĩ nhiên về sau cũng có những tai tiếng kiểu idol Phòng như Cu Nên, Dung Hà, Dương Tự Trọng, Đỗ Hữu Ca, nhưng cũng có những anh hùng như Đoàn Văn Vươn cống Rộc Tiên Lãng. Người Phòng lúc thế này khi thế khác, luôn xù xì đầu mấu sần sùi. Đẹp hay xấu còn tùy ở mắt nhìn.

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2019

Hương quê

Thiên hạ viết về quê hương đã nhiều, quá nhiều. Nếu chỉ cân số chữ chắc sơ sơ cũng phải nặng bằng núi Trà làng mình.

Hồi học văn học Trung Quốc, mình rất thích bài Trường Can hành của Thôi Hiệu mà thầy Lê Đức Niệm giảng, rằng “Gia lâm Cửu Giang thủy/Lai khứ Cửu Giang trắc/Đồng thị Trường Can nhân/Sinh tiểu bất tương thức” (Nhà anh ở bến Cửu Giang/Bên con sông ấy anh thường lại qua/Trường Can cùng quán đôi ta/Xa nhau từ nhỏ hóa ra lạ lùng - Ngô Tất Tố dịch). Chả là hôm mình về quê, lên chợ ông Ỷ mua mớ rau, mình chào cô bạn cũ nay cũng ngoài 60, “nó” sững sờ mãi mới nhận ra, nói nhỏ như gió thoảng “anh đã về”. Trả tiền mua rau, nhất định không lấy, sau còn cho thằng con đem biếu bác ký khoai tây ăn để nhớ hương vị quê nhà.

Trường Can ấy chính là làng Trà (tức thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng), cố hương thân yêu của mình. Ai đó hát rằng “thiếu quê hương ta về đâu”, mình thì chả thiếu, chỉ hơi bị ít về thôi. Làm lụng cả đời, giờ lo mỗi chuyến đi về thăm quê sao vẫn thật khó khăn.

Về lần này, đủ mọi dự định. Nào việc họ, cúng tổ, khánh thành nhà thờ họ. Suốt 42 năm qua, mới lại cùng họ mạc cúng tổ. Vắng thưa thế là quá lâu rồi. Bề trên đã đi gần hết, chỉ còn lại mấy bà chị đều trên dưới 80, mái tóc như sương. Gặp nhau vui vẻ, mừng tủi, ấm áp. Sống giữa tình quê thật mặn nồng, tâm hồn nhẹ nhõm.

Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2017

Tếu táo cùng cháu cụ Nam Cao

Ấy là tôi cứ hơi bị nhiễm cái thói thấy người sang bắt quàng làm họ nên lôi cả cụ cha đẻ của anh Chí Phèo vào. Nhưng không phải không có lý do. Người mà tôi đang định nói tới đây chính là Trần Quốc Quân, bạn tôi. Y là con giai một người khá nổi tiếng, nguyên mẫu của cụ giáo San trong cuốn truyện Sống mòn chả mấy người không đọc, và đương nhiên cụ tác giả Nam Cao Trần Hữu Tri là nguyên mẫu cho anh giáo Thứ. Hai ông giáo sống mòn đi, rỉ đi, mục ra, không có lối thoát trong một xã hội bế tắc. Cả hai họ Trần, là anh em họ. Vậy nên nói ông bạn tôi, Trần Quốc Quân, là cháu cụ Nam Cao cũng đúng rồi.

Y từ Ba Lan về nước lần này do dính nợ… văn chương. Đang là doanh nhân thành đạt, làm ăn thuận lợi, bỗng một ngày nổi máu trội gien văn chương của ông bác họ, cứ thế cắm cúi viết. Bê trễ nhãng cả kinh doanh, nghe nói vợ nó mắng cho. Vậy nhưng vẫn không chừa. Hì hục viết. Đăng trên Phây búc, nhiều người đọc khen hay. Có đứa xui thế thì làm văn chương đi, tội gì bỏ uổng. Lại cắm cúi viết, chỉnh sửa cho ra dáng đứa con tinh thần. Vợ nó lại cằn nhằn. Trên đời này, vợ nào mà chẳng cằn nhằn, mắng mỏ chồng. Phớt tất. Cuốn tiểu thuyết Tuyết hoang ra đời trong cái bọc sinh nở như vậy.

Quay lại chuyện lần này, y đẻ cu con thứ hai trong đời văn chương. Kỳ sinh sau, con rạ nên dễ dàng hơn so với con so Tuyết hoang. Quân quẩy gánh văn về, cuốn tiểu thuyết hoạt kê Bóng làng, Nhà xuất bản Trẻ in và xuất bản như đợt đẻ đầu. Nghe y nói, buổi giới thiệu ở Hà thành cuối tháng 4 vừa rồi, tại phòng lễ của Thư viện Hà Nội trang trọng lắm, đích thân lão Phạm Xuân Nguyên đầu bạc giới thiệu. Sách bán chạy, đến nỗi có đứa bạn tôi ở thủ đô nghe lào xào về cuốn Bóng làng, chạy vội ra phố sách Đinh Lễ gần hồ Gươm tìm mua, mỏi mắt mỏi chân không thấy bèn nhắn tôi nếu Sài Gòn sẵn thì mua hộ thị một cuốn. Không thấy nói gửi tiền, hì hì.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Chuyện trồng dưa

Hồi tôi còn bé, làng Trà Phương quê tôi nhà nào cũng trồng dưa. Dưa hấu, dưa cam. Nhà ít thì vài gốc hoặc một luống, nhà nhiều có khi cả sào hoặc vài sào. Khác với bên thôn Xuân La xã Thanh Sơn láng giềng sát núi Đối họ chỉ toàn trồng dưa chuột.

Tôi nhớ lúc đầu cũng chỉ mấy nhà trồng, trong đó thày tôi, bác Ỷ, bác In, chú Bồ, chú Mịch, cậu Thê, bác Đạm, chú Chung… là những người tiên phong. Bọn trẻ con gọi đùa đó là những An Tiêm của làng. Sau thấy trồng dưa ngon ăn, có tiền hơn trồng thứ khác nên những nhà còn lại bắt chước, vào mùa hè đi chỗ nào cũng gặp ruộng dưa.

Khác với trồng lúa chỉ cần coi đừng để trâu bò lội vào phá, trồng dưa cực hơn nhiều. Dưa nằm lăn lóc trên ruộng trông ngon ăn lắm, lại có giá nữa nên dễ bị mất trộm. Thì chuyện xưa tích cũ thường khuyên người đàng hoàng đi ngang ruộng dưa đừng có cúi xuống sửa giày là gì. Dễ bị nghi ngờ có ý đồ không tốt.

Khi trái dưa đã lọt vào tầm mắt kẻ ẩm thực, chủ ruộng bèn lấy cành tre có nhiều gai rào kín xung quanh ruộng. Mỗi ruộng dưa trông cứ như cái ấp chiến lược của Mỹ Diệm, chỉ chừa một lối ra vào. Có nhà còn lấy lá chuối khô hoặc mảnh ni lông, giấy dầu che kín để những ai dễ nổi lòng tham khó nhìn thấy. Vậy vẫn chưa yên tâm, lỡ buổi tối thế lực thù địch nó mò vào ấp chiến lược nó ôm cho một mớ cũng gay. Lại phải dựng chiếc lều coi dưa, đặt chiếc chõng tre vào lều, tối sai đám trẻ con ra ngủ trông chừng. Có tiếng người, quân đạo chích chúng cũng e ngại.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Hải Phòng qua một khúc "tỉnh ca"

Xin kính tặng những người Hải Phòng mà tôi yêu mến.

Trên thế giới, nước nào cũng có quốc ca. Ở Việt Nam ta, già trẻ lớn bé đều thuộc “Đoàn quân Việt Nam đi…” bởi đó là bài hát chung của cả nước. Nhưng nước ta còn có cái lạ là các tỉnh thành đều có “tỉnh ca”, ca khúc mang đặc trưng vẻ đẹp mỗi tỉnh thành. Nhiều bài rất nổi tiếng, chẳng hạn “Quảng Bình quê ta ơi” tỉnh ca Quảng Bình, “Chào sông Mã anh hùng” (Thanh Hóa), “Dáng đứng Bến Tre” (Bến Tre), “Thành phố hoa phượng đỏ” (Hải Phòng), “Người Hà Nội” (Hà Nội), “Tôi là người thợ lò” (Quảng Ninh), “Hà Giang mến yêu” (Hà Giang), “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” (Hà Tĩnh)… Cứ đến những nơi ấy, vào giờ phát thanh là nghe tỉnh ca vang lên trong nhạc hiệu.
Hải Phòng quê mình, ngoài bài về hoa phượng của hai bác: nhạc sĩ Lương Vĩnh - nhà thơ Hải Như, còn có một bài khác cũng xứng đáng tỉnh ca không kém, là bài “Thành phố chúng ta, nhà máy chúng ta” của nhạc sĩ Hoàng Vân. Thời niên thiếu và thanh niên, chúng tôi đều thuộc bài này, hát với tất cả sự rạo rực, yêu mến tự hào về thành phố quê hương mình.
Nhạc sĩ Hoàng Vân viết bài “Thành phố chúng ta, nhà máy chúng ta” sau chuyến đi thực tế ở Hải Phòng năm 1965. Trong lời bài hát không có nhiều địa danh quen thuộc với người Hải Phòng như sau này ta bắt gặp ở bài “Thành phố hoa phượng đỏ” nhưng chỉ vài hình ảnh thôi cũng đủ làm ta xao xuyến. Vẻ đẹp của thành phố thợ, của đất Hải Phòng, người Hải Phòng khó lẫn vào đâu được: “Đồng lúa đây, nhà máy này, công sức ta hơn mười năm trời. Tay búa đây, nòng súng này, giông tố phong ba thề không rời. Hải Phòng đang tiến lên, đã sẵn sàng”.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Nhớ gì ghi nấy: Một lần lên Yên Tử

Hồi những năm 60-70, làng Trà Phương (xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, Hải Phòng) quê tôi dân cư còn thưa thớt lắm. Ngoài xóm Trong và xóm Ngoài quần tụ hầu hết các hộ thì lẻ tẻ vài chục gia đình tách hẳn ra như xóm Núi dưới chân núi Chè, xóm Trợ ở khu thành phủ cũ. Cũng có đôi ba nhà nằm lọt thỏm ngoài cánh đồng như nhà ông Thướng, ông Số, ông Đúng, nơi mỗi lần đi làm đồng tôi hay ghé vào xin nước uống hoặc nghỉ tạm đỡ mỏi vai gánh lúa.

Hầu hết nhà tường đất nện mái rạ nên thấp lè tè, cao nhất chỉ là đám tre pheo, bạch đàn, vì vậy không gian thật thoáng đãng. Những hôm trời quang, bầu trời trong xanh, từ gốc nhãn đình nhìn về phía bắc thấy rõ mồn một dãy Yên Tử xanh sẫm cao vút trập trùng. Yên Tử mãi tận Đông Triều, Quảng Ninh nhưng theo đường chim bay có cảm giác thật gần, một phần có lẽ bởi Yên Tử hùng vĩ quá. Cao nhất trên dãy hoành sơn đồ sộ ấy là hai mỏm núi liền kề trông như cái yên ngựa. Thày (bố) tôi bảo núi đó thiêng lắm, không như núi Chè, núi Đối bé tí quê mình đâu, ở đó ngày xưa đức vua Trần, ngài Trần Nhân Tông tu tập tạo nên thiền phái Trúc Lâm trong đạo Phật nước mình. Chả bao giờ tôi và cả thày tôi nữa nghĩ rằng có ngày nào đó được đến thăm Yên Tử, viếng chùa mà nhà vua đã xây dựng và tu. Nông dân bám mặt vào việc đồng áng quanh năm, thậm chí ngày tết vẫn phải tranh thủ dỡ khoai tây, tát nước lúa, đâu dám ước ao đi thăm thú, du lịch nơi này nơi nọ.

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Bài hát tặng bạn ngày chủ nhật: Mời anh đến thăm quê tôi

Ai chẳng có quê, dù làng xóm nghèo, xa xôi, hiu quạnh vẫn là miền quê yêu dấu. Mình rời quê đã gần 40 năm kể từ khi đi học xa, thường thì mỗi năm về một lần, có khi vài năm/lần nhưng luôn hình dung được từng chỗ mấp mô trên con đường từ huyện lỵ tới ngõ nhà mình. Nay đường sá đã tốt hơn nhưng chỗ mấp mô cứ in mãi trong đầu, mấy lần gần đây đi trên đường quê cứ theo thói quen tránh như hồi nảo hồi nào.

Bài Mời anh đến thăm quê tôi mình nghe từ lúc còn bé tí, các anh chị mình hay hát. Sau lớn hơn, hiểu đó là tình cảm, tâm trạng của anh bộ đội vệ quốc vừa trải hết chặng đường 9 năm đánh giặc, giờ hòa bình "súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa" về quê hương. Sao quê anh giống quê mình hồi xưa đến thế.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn từng là người lính thời 9 năm, cả ca sĩ Quốc Hương cũng vậy, chính vì thế chẳng ai hiểu về anh bộ đội hơn hai bác ấy. Bài hát về quê hương cứ theo mình mãi đến bây giờ.

Chúc mọi người chủ nhật sâu lắng trong tình quê hương.