Cuộc sống cũng như xã hội “phân công” mỗi người mỗi việc, ai cũng có phần đóng góp của mình, đều đáng tôn trọng, còn sự phân biệt đẳng cấp, sang hèn, bị phân biệt đối xử chẳng qua do chính con người bằng sự nhỏ nhen tầm thường tạo ra thôi. Ở xứ này, nông dân luôn chịu thiệt, thời nào cũng vậy, cho tới tận bây giờ, ngay dưới cái chế độ mà họ đã góp phần lớn nhất tạo nên.
Nhà nước này từng có nhiều khẩu hiệu về nông dân, lúc nào cũng tuyên truyền đề cao nông dân, nói chăm lo cho nông dân. Ngoài những câu kiểu như “nông dân là đội quân chủ lực của cách mạng”, còn là “người cày có ruộng”, “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, “tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân)…
Nhưng nông dân chỉ được ăn bánh vẽ. Nửa cuối thập niên 50, bần cố nông miền Bắc vừa được chia chút ruộng đất trong cuộc cải cách ruộng đất đầy máu và nước mắt thì chỉ vài năm sau họ lại bị tịch thu hết bởi phong trào hợp tác xã tiến lên sản xuất lớn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không chỉ bần cố nông chịu ơn cải cách ruộng đất mà cả những thành phần nông dân khác đều bị cướp ruộng. Nhà nước chỉ chừa lại cho mỗi hộ một vài sào đất thổ cư, vườn tược để cư trú, sinh sống.
Không bàn chuyện chính trị. Chỉ quan tâm các vấn đề xã hội. Đá để xây chứ không để ném. nguyenthong8355@gmail.com
Bạn bè
Tổng số lượt xem trang
Tìm kiếm Blog này
Hiển thị các bài đăng có nhãn nông thôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nông thôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 16 tháng 9, 2024
Thứ Tư, 11 tháng 9, 2024
Đội quân chủ lực bị bỏ rơi (kỳ 2)
Ở một nước tới tận đầu thế kỷ 20 vẫn là nước thuần nông, kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, lực lượng đông nhất là nông dân (theo tư liệu cũ, chiếm tới hơn 90%) thì ai nắm được nông dân thì người đó thắng. Số công nhân tại các hầm mỏ, xí nghiệp so với đội ngũ nông dân không đáng kể, mà thực ra họ cũng xuất thân từ nông dân “cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ/Con chạy vào đất đỏ làm phu” chứ không phải trên trời rơi xuống.
Tuy nhiên, theo lý luận của ông tổ cộng sản Mác (Marx), vô sản-công nhân đứng lên làm cách mạng, lật đổ giai cấp tư sản, nếu có mất chỉ mất xiềng xích, còn được thì được cả thế giới. Mác nhìn lực lượng tư sản trong quá trình phát triển nhân loại bằng cái nhìn rất hằn học, căm thù, khẳng định “bọn tư sản” về bản chất là xấu xa, độc ác, thói bóc lột đã ngấm vào trong máu, chỉ có biện pháp duy nhất đánh đổ, tiêu diệt chúng, mới xây nên thế giới đại đồng không còn người bóc lột người. Ông Nguyễn Văn Năng, một nhà cách mạng người Thái Bình thời những năm 30 đã viết rằng “Bao giờ thế giới đại đồng/chúng ta mới thoát khỏi vòng gian truân”.
Tuy nhiên, theo lý luận của ông tổ cộng sản Mác (Marx), vô sản-công nhân đứng lên làm cách mạng, lật đổ giai cấp tư sản, nếu có mất chỉ mất xiềng xích, còn được thì được cả thế giới. Mác nhìn lực lượng tư sản trong quá trình phát triển nhân loại bằng cái nhìn rất hằn học, căm thù, khẳng định “bọn tư sản” về bản chất là xấu xa, độc ác, thói bóc lột đã ngấm vào trong máu, chỉ có biện pháp duy nhất đánh đổ, tiêu diệt chúng, mới xây nên thế giới đại đồng không còn người bóc lột người. Ông Nguyễn Văn Năng, một nhà cách mạng người Thái Bình thời những năm 30 đã viết rằng “Bao giờ thế giới đại đồng/chúng ta mới thoát khỏi vòng gian truân”.
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2024
Đội quân chủ lực bị bỏ rơi
Ở nước ta, lâu nay nông dân được bộ máy tuyên truyền nhà nước tôn vinh, gọi là “đội quân chủ lực của cách mạng”. Những ông to bà nhớn khi đề cập tới nông dân đều dùng mấy chữ ấy. Cho sang mồm.
Tháng 7 tây (chứ không phải tháng 7 cô hồn) năm nay, đối với tôi sự kiện đáng nhớ nhất và ý nghĩa nhất là việc tăng lương, thực hiện ngay từ ngày đầu tháng. Cụ thể nhà nước điều chỉnh tăng lương cơ sở, người đang làm việc mà hưởng lương (cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nhân viên) được thêm 30%, còn người về hưu tăng 15%, so với tháng 6. Đó mới là điều thực sự có ý nghĩa trong tháng 7, chứ những chuyện khác cũng thường thôi, chả đáng ồn ào.
Tất nhiên, trong vụ tăng lương này vẫn còn thứ cần bàn, chẳng hạn cách đối xử với người về hưu, nhưng phải nói, đó là tin vui, niềm vui, của cả dân lẫn chính phủ. Bà Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà còn hăng hái giải thích về niềm vui ấy cơ mà. Được ít cũng mừng, nhiều lại càng mừng. Ai chẳng thích tiền, nhất là lúc cuộc sống đầy khó khăn. Quá khó là đằng khác, chứ không phải như ai nói “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như hiện nay”. Lý luận bao giờ chẳng hay, nhưng giữa lý luận và thực tế vẫn khoảng xa vời. Thực tế thế nào, dân chúng cần lao đều rõ, bởi nó ngay trước mắt, nó hằng ngày xung quanh mình.
Tháng 7 tây (chứ không phải tháng 7 cô hồn) năm nay, đối với tôi sự kiện đáng nhớ nhất và ý nghĩa nhất là việc tăng lương, thực hiện ngay từ ngày đầu tháng. Cụ thể nhà nước điều chỉnh tăng lương cơ sở, người đang làm việc mà hưởng lương (cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nhân viên) được thêm 30%, còn người về hưu tăng 15%, so với tháng 6. Đó mới là điều thực sự có ý nghĩa trong tháng 7, chứ những chuyện khác cũng thường thôi, chả đáng ồn ào.
Tất nhiên, trong vụ tăng lương này vẫn còn thứ cần bàn, chẳng hạn cách đối xử với người về hưu, nhưng phải nói, đó là tin vui, niềm vui, của cả dân lẫn chính phủ. Bà Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà còn hăng hái giải thích về niềm vui ấy cơ mà. Được ít cũng mừng, nhiều lại càng mừng. Ai chẳng thích tiền, nhất là lúc cuộc sống đầy khó khăn. Quá khó là đằng khác, chứ không phải như ai nói “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như hiện nay”. Lý luận bao giờ chẳng hay, nhưng giữa lý luận và thực tế vẫn khoảng xa vời. Thực tế thế nào, dân chúng cần lao đều rõ, bởi nó ngay trước mắt, nó hằng ngày xung quanh mình.
Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2024
Đội quân chủ lực bị bỏ rơi
Ở nước ta, lâu nay nông dân được bộ máy tuyên truyền nhà nước tôn vinh, gọi là “đội quân chủ lực của cách mạng”. Những ông to bà nhớn khi đề cập tới nông dân đều dùng mấy chữ ấy. Cho sang mồm.
Tháng 7 tây (chứ không phải tháng 7 cô hồn) năm nay, đối với tôi sự kiện đáng nhớ nhất và ý nghĩa nhất là việc tăng lương, thực hiện ngay từ ngày đầu tháng. Cụ thể nhà nước điều chỉnh tăng lương cơ sở, người đang làm việc mà hưởng lương (cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nhân viên) được thêm 30%, còn người về hưu tăng 15%, so với tháng 6. Đó mới là điều thực sự có ý nghĩa trong tháng 7, chứ những chuyện khác cũng thường thôi, chả đáng ồn ào.
Tất nhiên, trong vụ tăng lương này vẫn còn thứ cần bàn, chẳng hạn cách đối xử với người về hưu, nhưng phải nói, đó là tin vui, niềm vui, của cả dân lẫn chính phủ. Bà Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà còn hăng hái giải thích về niềm vui ấy cơ mà. Được ít cũng mừng, nhiều lại càng mừng. Ai chẳng thích tiền, nhất là lúc cuộc sống đầy khó khăn. Quá khó là đằng khác, chứ không phải như ai nói “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như hiện nay”. Lý luận bao giờ chẳng hay, nhưng giữa lý luận và thực tế vẫn khoảng xa vời. Thực tế thế nào, dân chúng cần lao đều rõ, bởi nó ngay trước mắt, nó hằng ngày xung quanh mình.
Tháng 7 tây (chứ không phải tháng 7 cô hồn) năm nay, đối với tôi sự kiện đáng nhớ nhất và ý nghĩa nhất là việc tăng lương, thực hiện ngay từ ngày đầu tháng. Cụ thể nhà nước điều chỉnh tăng lương cơ sở, người đang làm việc mà hưởng lương (cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nhân viên) được thêm 30%, còn người về hưu tăng 15%, so với tháng 6. Đó mới là điều thực sự có ý nghĩa trong tháng 7, chứ những chuyện khác cũng thường thôi, chả đáng ồn ào.
Tất nhiên, trong vụ tăng lương này vẫn còn thứ cần bàn, chẳng hạn cách đối xử với người về hưu, nhưng phải nói, đó là tin vui, niềm vui, của cả dân lẫn chính phủ. Bà Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà còn hăng hái giải thích về niềm vui ấy cơ mà. Được ít cũng mừng, nhiều lại càng mừng. Ai chẳng thích tiền, nhất là lúc cuộc sống đầy khó khăn. Quá khó là đằng khác, chứ không phải như ai nói “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như hiện nay”. Lý luận bao giờ chẳng hay, nhưng giữa lý luận và thực tế vẫn khoảng xa vời. Thực tế thế nào, dân chúng cần lao đều rõ, bởi nó ngay trước mắt, nó hằng ngày xung quanh mình.
Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022
Chủ tịch Quận (kỳ 3)
Lớp cán bộ ngoài 50 như Vũ Duy Quận được việc, xốc vác, năng nổ ở nước này không thiếu, nhất là tầm cấp xã cấp huyện, nhưng thật thà mà nói, nơi xã Thụy Hương quê tôi thì hơi khó kiếm. Tôi chả dám chê bai những đời chủ tịch trước, những vị tiền nhiệm của Quận, trong đó có cả người họ hàng nhà tôi, tuy nhiên đến thời Quận “trị nhậm” ngồi ghế chủ tịch xã thì bộ mặt và chất lượng sống nơi đây đã khác lên rất nhiều. Tôi sống xa quê nên không thể hằng ngày chứng kiến bước chuyển mình của cố hương, nhưng có lẽ đó cũng là sự may mắn để mình có dịp so sánh những đổi thay qua mỗi lần trở về. Vẫn biết thành quả do công sức chung chứ chẳng dựa vào riêng ai nhưng vai trò và dấu ấn của Quận là điều không thể phủ nhận.
Điều may mắn cho dân xã cũng như riêng chủ tịch Quận, Thụy Hương là xã đầu tiên ở Hải Phòng được lãnh đạo thành phố thời bí thư Lê Văn Thành chọn xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu. Cả thành phố chỉ có vài xã, nếu tôi nhớ không nhầm thì mỗi huyện được chọn một. Huyện ở Hải Phòng vốn ít, đếm trên đầu ngón tay. Mô hình nông thôn mới là chủ trương chung của cả nước, đã phổ biến tới tận làng bản xa xôi, vùng sâu vùng xa, giờ ít nơi chưa đạt chuẩn nông thôn mới. Nhưng để gắn thêm từ “kiểu mẫu” vào thì hơi bị hiếm. Có nhẽ đây là sáng tạo của Hải Phòng, tiên phong, đi đầu, mở lối, và đang được nhân ra trên cả nước. Nói gì thì nói, dẫu vẫn còn khiếm khuyết, chưa vừa ý, mô hình mới này đã cơ bản thành công. Như tôi đang tận mắt chứng kiến.
Điều may mắn cho dân xã cũng như riêng chủ tịch Quận, Thụy Hương là xã đầu tiên ở Hải Phòng được lãnh đạo thành phố thời bí thư Lê Văn Thành chọn xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu. Cả thành phố chỉ có vài xã, nếu tôi nhớ không nhầm thì mỗi huyện được chọn một. Huyện ở Hải Phòng vốn ít, đếm trên đầu ngón tay. Mô hình nông thôn mới là chủ trương chung của cả nước, đã phổ biến tới tận làng bản xa xôi, vùng sâu vùng xa, giờ ít nơi chưa đạt chuẩn nông thôn mới. Nhưng để gắn thêm từ “kiểu mẫu” vào thì hơi bị hiếm. Có nhẽ đây là sáng tạo của Hải Phòng, tiên phong, đi đầu, mở lối, và đang được nhân ra trên cả nước. Nói gì thì nói, dẫu vẫn còn khiếm khuyết, chưa vừa ý, mô hình mới này đã cơ bản thành công. Như tôi đang tận mắt chứng kiến.
Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022
Chủ tịch Quận (kỳ 2)
Hồi còn ở quê (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, TP.Hải Phòng), tôi biết anh Quận từ khi tôi còn bé, và tất nhiên “chủ tịch” càng bé nữa bởi tôi hơn cả chục tuổi. Sống ở nông thôn, gia đình nông dân, nên đứa nào cũng thạo việc đồng áng, chăn trâu cắt cỏ, đi câu đánh dậm, rau bèo cám bã phụ cho thày bu anh chị. Chả phải tự khen tự sướng, chứ đứa nào cũng chăm làm, chịu khó, giản di, tiết kiệm, cả tôi cả Quận, cả đám trẻ làng Trà Phương. Có nhẽ nhờ cái gốc vững ấy nên sau này dù đứa thành đạt đứa không, làm cán bộ hay chỉ làm dân, nhưng đứa nào cũng tốt. Cán bộ mà chịu khó, nhiệt tình với công việc thì dân được nhờ. Dân xã Thụy Hương đã may mắn được người cầm đầu như vậy.
Kể lại chuyện cũ thì mạn phép xin lỗi, hơi tọc mạch tí, nhất là với chủ tịch Quận, để tỉ mỉ biên chắp lại chút ký ức đẹp. Khác với thày tôi chỉ làm nông, trồng trọt hoa màu, nuôi con lợn con gà, bố anh Quận ngoài “chức” nông dân còn làm thợ may, ông phó may nổi tiếng của làng Trà, của xã Thụy Hương. Khi xưa, những người thợ chuyện nghề nào đó được gọi là ông phó. Phó may, phó cối (đóng cối xay), phó cạo (cắt tóc), phó nháy (chụp ảnh), phó nề (xây), phó ngõa (lợp ngói)… Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Cũng như một thứ danh hiệu, một dạng tuyên dương sự khác biệt, tài giỏi, giống như bây giờ gọi là nghệ nhân.
Kể lại chuyện cũ thì mạn phép xin lỗi, hơi tọc mạch tí, nhất là với chủ tịch Quận, để tỉ mỉ biên chắp lại chút ký ức đẹp. Khác với thày tôi chỉ làm nông, trồng trọt hoa màu, nuôi con lợn con gà, bố anh Quận ngoài “chức” nông dân còn làm thợ may, ông phó may nổi tiếng của làng Trà, của xã Thụy Hương. Khi xưa, những người thợ chuyện nghề nào đó được gọi là ông phó. Phó may, phó cối (đóng cối xay), phó cạo (cắt tóc), phó nháy (chụp ảnh), phó nề (xây), phó ngõa (lợp ngói)… Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Cũng như một thứ danh hiệu, một dạng tuyên dương sự khác biệt, tài giỏi, giống như bây giờ gọi là nghệ nhân.
Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022
Chủ tịch Quận
Chữ Quận viết hoa để ngay từ đầu nói rằng không phải đơn vị hành chính, kiểu như phường xã, quận huyện, mà là tên riêng một người. Anh chủ tịch xã quê tôi đất Phòng, Vũ Duy Quận, bà con thân mến lẫn suồng sã gọi bằng cái tên gắn cả chức danh, chủ tịch Quận.
Mỗi lần có việc đáo cố hương, tôi đều gặp Quận, khi ngoài đường, lúc ủy ban, có bận ngay tại nhà bởi nhà chủ tịch cũng là cửa hàng tạp hóa, tôi đi bộ lên mua chai mắm, chục trứng, hộp bánh, cục xà phòng, bún, bánh cuốn, giò chả, tóm lại không thiếu thứ gì. Đứa cháu tôi cười bảo còn nhiều hàng hơn cả bách hóa tổng hợp ven sông Đa Độ trên phố huyện dạo xưa. Quận không còn trẻ, nhưng chưa phải già. Nhiều dân làng khoe với tôi, cảm nhận đầu tiên về người đứng đầu bộ máy hành chính xã ở đức tính giản dị, dễ gần, năng nổ xốc vác, và ưa nhất là hiểu dân gần dân. Đã lâu nay, trong cái hệ thống chính trị cầm quyền xứ này, cứ nói tới cán bộ, người ta ít có cảm tình bởi sự xa cách khó lấp đầy. Đang làm dân không chức vụ quyền hành thì dễ thương, hễ thành cán bộ y như rằng sinh chuyện sinh hư, quan cách khó chịu. Nhưng chủ tịch Quận là trường hợp hiếm hoi tôi biết không rơi vào cái quy trình hư hỏng ấy.
Mỗi lần có việc đáo cố hương, tôi đều gặp Quận, khi ngoài đường, lúc ủy ban, có bận ngay tại nhà bởi nhà chủ tịch cũng là cửa hàng tạp hóa, tôi đi bộ lên mua chai mắm, chục trứng, hộp bánh, cục xà phòng, bún, bánh cuốn, giò chả, tóm lại không thiếu thứ gì. Đứa cháu tôi cười bảo còn nhiều hàng hơn cả bách hóa tổng hợp ven sông Đa Độ trên phố huyện dạo xưa. Quận không còn trẻ, nhưng chưa phải già. Nhiều dân làng khoe với tôi, cảm nhận đầu tiên về người đứng đầu bộ máy hành chính xã ở đức tính giản dị, dễ gần, năng nổ xốc vác, và ưa nhất là hiểu dân gần dân. Đã lâu nay, trong cái hệ thống chính trị cầm quyền xứ này, cứ nói tới cán bộ, người ta ít có cảm tình bởi sự xa cách khó lấp đầy. Đang làm dân không chức vụ quyền hành thì dễ thương, hễ thành cán bộ y như rằng sinh chuyện sinh hư, quan cách khó chịu. Nhưng chủ tịch Quận là trường hợp hiếm hoi tôi biết không rơi vào cái quy trình hư hỏng ấy.
Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017
Chuyện hợp tác xã (phần 2)
Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp là sản phẩm của những người chủ trương tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Hồi ấy (những năm 1960-1970) bên Liên Xô có nông trường-nông trang, bên Trung Quốc có công xã thì ta chả nhẽ không đi theo bắt chước hai anh. Bước đi đầu tiên là HTX rồi sau đó cũng sẽ tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên nông trường, công xã. Cứ Liên Xô, Trung Quốc thế nào thì ta phải như vậy.
Hồi tôi còn bé, thường thấy các anh chị thanh niên buổi tối tập trung ngoài sân HTX tập văn nghệ, hò hát nhảy múa. Cứ sẩm tối họ đã í ới gọi nhau. Cả ngày làm quần quật nhưng tối phải sinh hoạt đoàn, phải tập văn nghệ để thể hiện niềm vui, niềm yêu cuộc sống mới. Họ hát ca ngợi nông trường ở Liên Xô “dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa”, ca ngợi công xã bên Trung Quốc “công xã là mây xanh, là hoa đẹp sáng tươi, rọi chiếu trên đồng quê trên bao gia đình trong ấm êm”, đại loại tôi còn nhớ như vậy. Sau này có nghe mấy người đi Triều Tiên về kể lại ở Triều Tiên lâu nay chính quyền vẫn bắt người dân phải hằng ngày ca hát nhảy múa để quên đi sự vất vả, để không còn thời gian rảnh mà oán trách chính quyền, để chứng minh với thế giới rằng cuộc sống của họ đầy sinh sắc. Khiếp thật, chả biết xứ ta hồi xưa có mục đích vậy không.
Lại một dạo, coi họa báo Trung Quốc có bài và ảnh về công xã Đại Trại, điển hình nông nghiệp của Trung Quốc (giống như HTX Đại Phong tỉnh Quảng Bình ở ta, do đại tướng Nguyễn Chí Thanh khơi mào) Kinh nhất là có bức ảnh lúa cấy dày mọc ken chặt, bông chín vàng, thóc hạt nào hạt nấy mẩy to như đầu ngón tay út. Và đặc biệt nhất, một đứa trẻ con trèo ngồi lên trên đám lúa chín, vững như trên bàn đá cẩm thạch, khiếp thật. Còn tay chủ nhiệm HTX công xã Đại Trại là Trần Vĩnh Quý (tôi nhớ như in tên ông ta) học chỉ hết tiểu học nhưng được Mao phong anh hùng lao động, cất nhắc làm Phó thủ tướng phụ trách nông nghiệp, khiến nông nghiệp Trung Quốc càng ngày càng lụn bại. Mao chết, đám hậu sinh đạp Quý xuống cái một, kể tội ngu dốt vô học, háo danh…, không đưa ra tòa là may.
Hồi tôi còn bé, thường thấy các anh chị thanh niên buổi tối tập trung ngoài sân HTX tập văn nghệ, hò hát nhảy múa. Cứ sẩm tối họ đã í ới gọi nhau. Cả ngày làm quần quật nhưng tối phải sinh hoạt đoàn, phải tập văn nghệ để thể hiện niềm vui, niềm yêu cuộc sống mới. Họ hát ca ngợi nông trường ở Liên Xô “dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa”, ca ngợi công xã bên Trung Quốc “công xã là mây xanh, là hoa đẹp sáng tươi, rọi chiếu trên đồng quê trên bao gia đình trong ấm êm”, đại loại tôi còn nhớ như vậy. Sau này có nghe mấy người đi Triều Tiên về kể lại ở Triều Tiên lâu nay chính quyền vẫn bắt người dân phải hằng ngày ca hát nhảy múa để quên đi sự vất vả, để không còn thời gian rảnh mà oán trách chính quyền, để chứng minh với thế giới rằng cuộc sống của họ đầy sinh sắc. Khiếp thật, chả biết xứ ta hồi xưa có mục đích vậy không.
Lại một dạo, coi họa báo Trung Quốc có bài và ảnh về công xã Đại Trại, điển hình nông nghiệp của Trung Quốc (giống như HTX Đại Phong tỉnh Quảng Bình ở ta, do đại tướng Nguyễn Chí Thanh khơi mào) Kinh nhất là có bức ảnh lúa cấy dày mọc ken chặt, bông chín vàng, thóc hạt nào hạt nấy mẩy to như đầu ngón tay út. Và đặc biệt nhất, một đứa trẻ con trèo ngồi lên trên đám lúa chín, vững như trên bàn đá cẩm thạch, khiếp thật. Còn tay chủ nhiệm HTX công xã Đại Trại là Trần Vĩnh Quý (tôi nhớ như in tên ông ta) học chỉ hết tiểu học nhưng được Mao phong anh hùng lao động, cất nhắc làm Phó thủ tướng phụ trách nông nghiệp, khiến nông nghiệp Trung Quốc càng ngày càng lụn bại. Mao chết, đám hậu sinh đạp Quý xuống cái một, kể tội ngu dốt vô học, háo danh…, không đưa ra tòa là may.
Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016
Lan man chuyện địa chủ, nông dân
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong buổi hội nghị Xây dựng nền công nghiệp nông nghiệp Việt Nam ngày 18.12 tại TP.HCM đã nói nhiều về vấn đề tích tụ ruộng đất. Theo ông, đây là hướng phát triển cơ bản của nông nghiệp nước ta trong những năm tới. Nếu cứ manh mún hộ cá thể sở hữu ruộng đất nhỏ lẻ, nông nghiệp VN không thể nào làm ăn lớn, tạo sản phẩm có giá trị tham gia thị trường quốc tế một cách sâu rộng, vững bền.
Tất nhiên điều ông Phúc nói là đúng, chỉ có điều cái đúng này (tích tụ ruộng đất) giờ mới được phát hiện, được chỉ ra, được yêu cầu thực hiện sau gần một thế kỷ làm sai, kể từ cái thời tiền nhân của ông Phúc giương cao khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rể”. Đánh đổ địa chủ, coi là một trong 4 kẻ thù chính của cách mạng dân chủ, những người cách mạng vô sản có lý riêng của họ. Để lôi cuốn nông dân, mà họ gọi là chủ lực quân của cách mạng, chả gì tốt hơn là hô to khẩu hiệu (lại khẩu hiệu, người cách mạng vô sản rất giỏi khẩu hiệu, là chúa trùm về khẩu hiệu) “ruộng đất về cho dân cày”. Với nông dân, chả có thứ gì quý hơn, cần hơn là ruộng đất. Ruộng đất là mục đích, mơ ước, lẽ sống, bầu sữa nuôi sống họ. Cách mạng thấy ngay điều ấy nên cũng thấy ngay rằng phải giành đoạt cướp lại ruộng đất của địa chủ trao cho nông dân, đặc biệt cho bần cố nông. Biết lợi dụng sức mạnh vĩ đại của nông dân ở một nước nông nghiệp, một xã hội đến hơn 90% là nông dân, nên người cách mạng đã thành công trong cuộc đấu tranh của mình.
Và có lẽ, rất giáo điều, họ đã quy tất cả địa chủ - người nhiều ruộng đất - vào làm một loại kẻ thù. Cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình, bài bản của Trung Quốc được họ áp dụng cực kỳ “chuẩn” không sai một li so với đàn anh từ những ngày kháng chiến chống Pháp, năm 1953, đã thành trận cuồng phong cuốn cả xã hội vào vực sâu đen tối. Người ta hay nhắc đến bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ có công với kháng chiến, bị xử bắn đầu tiên, để giúp các thế hệ sau hình dung được sự tàn khốc của cuộc cải cách (thực chất là cách mạng) ruộng đất. Dù có cái gọi là “sửa sai”, khóc lóc đi chăng nữa thì cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất ấy đã đi vào lịch sử VN hiện đại như một chương đậm bi kịch, buồn thảm nhất.
Tất nhiên điều ông Phúc nói là đúng, chỉ có điều cái đúng này (tích tụ ruộng đất) giờ mới được phát hiện, được chỉ ra, được yêu cầu thực hiện sau gần một thế kỷ làm sai, kể từ cái thời tiền nhân của ông Phúc giương cao khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rể”. Đánh đổ địa chủ, coi là một trong 4 kẻ thù chính của cách mạng dân chủ, những người cách mạng vô sản có lý riêng của họ. Để lôi cuốn nông dân, mà họ gọi là chủ lực quân của cách mạng, chả gì tốt hơn là hô to khẩu hiệu (lại khẩu hiệu, người cách mạng vô sản rất giỏi khẩu hiệu, là chúa trùm về khẩu hiệu) “ruộng đất về cho dân cày”. Với nông dân, chả có thứ gì quý hơn, cần hơn là ruộng đất. Ruộng đất là mục đích, mơ ước, lẽ sống, bầu sữa nuôi sống họ. Cách mạng thấy ngay điều ấy nên cũng thấy ngay rằng phải giành đoạt cướp lại ruộng đất của địa chủ trao cho nông dân, đặc biệt cho bần cố nông. Biết lợi dụng sức mạnh vĩ đại của nông dân ở một nước nông nghiệp, một xã hội đến hơn 90% là nông dân, nên người cách mạng đã thành công trong cuộc đấu tranh của mình.
Và có lẽ, rất giáo điều, họ đã quy tất cả địa chủ - người nhiều ruộng đất - vào làm một loại kẻ thù. Cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình, bài bản của Trung Quốc được họ áp dụng cực kỳ “chuẩn” không sai một li so với đàn anh từ những ngày kháng chiến chống Pháp, năm 1953, đã thành trận cuồng phong cuốn cả xã hội vào vực sâu đen tối. Người ta hay nhắc đến bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ có công với kháng chiến, bị xử bắn đầu tiên, để giúp các thế hệ sau hình dung được sự tàn khốc của cuộc cải cách (thực chất là cách mạng) ruộng đất. Dù có cái gọi là “sửa sai”, khóc lóc đi chăng nữa thì cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất ấy đã đi vào lịch sử VN hiện đại như một chương đậm bi kịch, buồn thảm nhất.
Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015
Chuyện rơm rạ (kỳ 2)
Khi gặt lúa, các bà các chị quẹt cái liềm sắc vào ngang cây lúa, lấy đoạn dài khoảng nửa mét, cột lại thành từng lượm. Phần này sau khi đập lấy thóc, sau có máy suốt thì nhàn hơn, gọi là rơm. Cũng có khi đồng khô ráo thì cắt tận gốc ngay, sau đó có người đi xén giữa, lấy phần ngọn bó gánh về. Phần còn lại của cây lúa ở còn trên đồng gọi là rạ. Trong tiếng Việt có từ rơm và rạ là vậy. Đừng tưởng rạ thì bỏ nhé. Thu hoạch lúa xong lại đi cắt rạ. Cắt lúa cũng như cắt rạ, ở đồng khô còn đỡ, chứ đồng nước, trên đầm (quê tôi hồi ấy có đầm Trợ, đầm Phương Đôi, đầm cánh Bến-Mả Đò, thày tôi bảo rằng có chỗ là đoạn sông cụt của sông Văn Úc, có chỗ do ngày xưa người ta đào lấy đất đắp thành phủ Kiến Thụy) nhất là vào mùa đông, vất vả vô chừng. Rét cắt da cắt thịt, ngụp xuống đầm thò liềm xuống sát gốc lúa, lại xoẹt một cái không được bỏ phí tí nào. Mà vẫn chưa hết. Đám gốc rễ nằm dưới đất, sau khi cày ải phơi nỏ, đập nương xong còn thu gom tất tật, phơi khô đem về đun. Bây giờ nhớ lại, không có rơm rạ, chắc chỉ còn nước ăn gạo sống.
Mỗi lần phơi rơm, bu tôi cẩn thận lắm. Sân dành để phơi thóc nên rơm phơi ngoài đường. Mỗi nhà cát cứ một đoạn ngay trước nhà mình. Bu tôi rải rơm sang hai ven đường chừa lối giữa cho người qua lại dễ dàng, nhất là người đi xe đạp. Có người chạy xe đạp tay lái yếu gặp đoạn phủ đầy rơm lúng túng ngã chổng kềnh trên đám rơm khô. Có hôm tôi đang câu cá ở cừ (kênh) ven đường thấy cô Khi chở cô Loan, 2 cô giáo người thôn Quế Lâm dạy lớp 2 bị rơm quấn vào xe đạp ngã lăn chiêng, khuy áo xống tung cả ra, tôi vội che mặt, chả dám chạy lại giúp. Hai cô đẹp trắng lắm, còn mình hồi ấy học lớp 4, đã biết ngượng ngùng.
Hôm trời nắng phải canh nắng, đến giữa buổi thì lấy cái nạng lật rơm lên cho khô đều, khoảng 2 nắng là được. Thấy có bóng mây thì canh mưa gom chạy cho kịp. Rơm chưa khô mà bị sũng nước mưa, gặp mấy ngày không nắng lại, chỉ vài hôm là thối. Đến nước ấy chỉ còn cách vứt ra vườn đắp vào gốc mía gốc chanh chứ chả đun nổi, trâu bò cũng không thèm ăn.
Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015
Chuyện rơm rạ (kỳ 1)
Chuyện buồn xứ ta cũng như chuyện buồn ở nước Phú Lãng Sa dù sao đã xảy ra rồi, có nghĩ mãi cũng chả vui lên được. Thôi, tôi biên lên đây phần ký ức để hầu bạn đọc lúc đầu óc mọi người còn chếnh choáng sự đời. Sự ghi nhớ dài, sẽ chia thành nhiều kỳ cho ai đọc sẽ cảm thấy đỡ mệt. Chúc cả nhà ngày chủ nhật an lành.
CHUYỆN RƠM RẠ
Nhớ có lần tôi đã viết mấy dòng trên Facebook bảo rằng bây giờ chả mấy đứa lớp trẻ hiểu được “rút rơm” là việc gì, vài bạn đáp rằng anh ơi chú ơi, quê em quê cháu vẫn còn rơm đấy. Nghe vậy tự dưng thấy ấm lòng.
Hồi năm 77 tôi về Tiền Giang, nhìn ra cánh đồng khói đốt rơm nghi ngút, tiếc đứt ruột. Bảo với ông bạn đồng nghiệp dân Nam Bộ, ông ạ, bà con mình lãng phí quá, ai lại đốt hết cả rơm ngoài đồng thế kia. Anh ấy trố mắt nhìn tôi, sau thủng chuyện, cười bảo đốt để lấy tro bón ruộng, vả lại ai hơi đâu lôi của nợ về nhà. Tôi thắc mắc, thế đun bằng gì, lợp nhà bằng gì, trâu ăn bằng gì, anh ấy ôm bụng cười, miền Nam cái gì cũng có đủ, đâu cần đến rơm. Rơm chỉ để bón ruộng thôi.
Miền Bắc những năm 60-70. Cái chi cũng dồn cho tiền tuyến. Hạt lúa củ khoai, thậm chí hột muối cũng “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Có nhẽ chỉ rơm là miền Nam không cần. Tôi chưa thấy hợp tác xã đi huy động rơm chi viện cho miền Nam bao giờ. Chứ lấy cả rơm thì gay to.
Đến năm 1964, cả miền Bắc đã cơ bản gom hết nông dân vào hợp tác xã. Hợp tác lấy hết ruộng đất, trâu bò, tất tần tật, chỉ chừa lại cho sào đất thổ cư có cái nhà trên đó. Làm việc hợp tác, cứ tính theo công điểm mà phát thóc, chia rơm. Thóc gạo hẻo đã đành một nhẽ bởi hột ngon hột lành nộp vào kho lương thực, một phần để nuôi đám thành phố ăn sổ gạo, trẻ con 14 ký/tháng, người lớn 17 ký, phần thì để đưa ra tiền tuyến nuôi bộ đội. Trong khi ấy, nông dân chỉ bình quân 7 - 8 cân thóc/đầu người, chưa bằng một nửa của đứa trẻ thành phố rong chơi. Vô lý vậy mà kéo dài suốt mấy chục năm.
Ngay cả rơm cũng thiếu. Chất đốt chủ yếu là rơm rạ, còn lại thì lá tre, cây thuốc lào, cây đỗ, lá mía, cành củi xì xằng nhặt nhạnh trong vườn. Chỉ nhà cán bộ, công nhân đi thoát ly mới có than đốt lò, nông dân đừng có mơ. Than Hòn Gai - Cẩm Phả đào được hòn nào rót cả xuống tàu trả nợ vũ khí cho Liên Xô, Trung Quốc, ngay dân vùng than cũng không có than đốt. Lợp nhà cũng trông cậy vào rơm. Thức ăn cho trâu cũng trông vào đám rơm ít ỏi ấy. Nói không ngoa, nếu hạt thóc là hạt vàng thì cọng rơm cũng chả khác cọng vàng.
Ngày thu hoạch vụ chiêm hoặc mùa, đường làng phơi kín rơm. Bây giờ tụi trẻ ở miền Bắc ăn hột gạo có sẵn chả biết vụ nào với vụ nào. Vụ chiêm là vụ cấy vào mùa xuân (lúa chiêm xuân), thu hoạch khoảng tháng 5 âm lịch, trùng vào mùa hè. Vụ mùa là vụ cấy vào cuối hè đầu thu, thu hoạch từ tháng 10 âm lịch về sau, trùng vào mùa đông. Lúc sắp hết vụ này nhưng chưa chuyển qua vụ khác gọi là thời giáp hạt (tháng ba ngày tám, tức tháng ba và tháng tám âm lịch), thóc gạo đã hết mà chưa có thóc mới, đói lắm. Đi học bụng đói, bước chân loạng quạng, ruột sôi ùng ục, mắt cứ hoa đi nhìn cái chi cũng mờ mờ, chả nghe thấy thầy giảng gì, chỉ nghĩ đến bát cơm trộn khoai khô bốc khói.
(còn tiếp)
(còn tiếp)
Nguyễn Thông
Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013
Sao cứ để nông dân tự xoay xở mãi thế
Tôi về quê trúng kỳ thu hoạch vụ chiêm. Đồng đất quê hương
đã đổi thay nhiều, nhà cửa chen chúc khiến ruộng lúa ngày càng co lại, chật
hẹp. Tuy vậy vẫn còn đủ để phác một bức tranh nông thôn quen thuộc, những cánh
đồng vàng óng trĩu bông hạt mẩy, bà con rủ nhau tranh thủ ra đồng từ sớm thu
hoạch cho khỏi nắng, nơi gặt tay thì nón trắng nhấp nhô, còn nơi máy móc hỗ trợ
thì máy gặt mini nổ phành phạch bò hết thửa này sang thửa khác. Lúa được chuyển
đến ven đường hoặc chỗ đồng cao cho máy suốt thóc, rơm đùn từng đống. Nông thôn
ngày mùa mang dáng vẻ no ấm đáng yêu.
Nhưng điều cũng rất dễ nhận ra, trong những ngày cuối cùng
của quy trình “một hạt thóc vàng chín giọt mồ hôi” ấy, làng quê chìm trong màn
khói. Khói theo gió thổi thốc vào nhà cửa, bay mù mịt đường cái quan lẫn đường
liên thôn liên xã, lan lên tận những khu dân cư thị trấn hoặc ven thành phố. Có
lúc tất cả như được phủ bức màn khói khổng lồ khiến ai đó không rành dễ liên
tưởng đám cháy lớn đang xảy ra đâu đây. Ấy là khói đốt rơm đốt rạ sau thu hoạch.
Ta đều biết giờ đây người nông dân không cần vun vén nhặt
nhạnh từng cọng rơm như trước nữa. Chất đốt đã có gas có điện hoặc bét nhất
cũng than tổ ong. Làm đồng đã có máy móc vừa nhanh vừa nhàn nên lũ trâu cũng
được “về hưu”, họa hoằn mới gặp vài con, chả cần rơm tích thành đống trữ thức
ăn cho chúng làm gì. Tự dưng cái cọng rơm trở nên mất giá, vướng víu, thừa
thãi, rẻ như rơm, chỉ muốn khuất mắt cho xong. Để phơi trên ruộng, biết bao giờ
nó mới mục mới hoai trong khi đất cần quay vòng làm ngay, “không cho đất nghỉ
không ngừng tay ta”. Ruộng đất ít người đông, chả nên để phí ngày nào. Nông dân
chỉ còn cách hỏa thiêu rơm rạ. Vẫn hiểu như thế là lãng phí, là nguy hiểm, tổn
hại môi trường, là này là nọ nhưng đành phải vậy thôi. Có ai bày cho họ cách
tốt hơn đâu, xưa nay họ bị tự xoay xở quá nhiều thành quen rồi.
Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013
Đừng để nông dân khát
Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được thực hiện theo sự chỉ đạo của Chính phủ tính đến nay đã gần chục năm. Phải nói một cách khách quan, sau chừng ấy năm nhiều vùng nông thôn đã có nước sạch, cùng với việc có điện, cuộc sống sinh hoạt của nông dân đã thay đổi căn bản. Đó là những giá trị thỏa mãn mơ ước ngàn đời của nông dân.
Mỗi lần vào mùa khô, mùa hè, sự thiếu nước tất nhiên căng
thẳng hơn so với những thời điểm khác trong năm. Tại khu vực thành thị, dẫu
thiếu nước nhưng người dân vẫn có nước sạch nhờ sự cố gắng tối đa từ nhà cung
cấp. Giá nước tăng cao, tuy nhiên vẫn có để dùng. Nông thôn thì khác. Những cơn
khát dai dẳng kéo dài năm này qua năm khác, bất kể mùa khô mùa mưa. Và thật éo
le, nhiều nơi bà con mình khát ngay trên đồng nước.
Nói có sách mách có chứng. Cách đây chưa lâu, báo chí phản
ánh hiện thực không tin nổi: thiếu nước sạch sinh hoạt trầm trọng, nông dân
nhiều xã ở Cà Mau phải chấp nhận nhịn đủ mọi thứ để dồn tiền vào mua nước ngọt.
Bà con có nơi vào lúc cao điểm khát phải trả đến 100.000 đồng cho lu nước 100
lít. Nhiều vật nuôi chết vì thiếu nước uống; cây trồng cháy lá, chết khô do
không nước tưới. Giữa mênh mông đồng nước mà người và vật vẫn khát cháy bởi
nước nhiễm phèn nhiễm mặn nặng, chưa kể nguồn nước ngọt ao hồ kênh rạch còn lại
bị ô nhiễm đến mức tưới cây cây cũng chết, nói chi để bà con sinh hoạt hằng
ngày.
Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013
Quyền xem pháo hoa
Tết đã qua. Nhưng dư âm của tiếng pháo phi pháp vẫn còn. Thủ tướng vừa chính thức phê bình. Phải nói ngay rằng tình trạng đốt pháo dịp tết năm nay chỉ diễn ra ở vài tỉnh miền Bắc, chủ yếu là vùng nông thôn, chưa đến mức nghiêm trọng có thể tạo nên phản ứng dây chuyền vào những năm sau. Dư luận, báo chí đã nêu, phân tích nhiều khía cạnh khác nhau của hành vi đó, nhìn chung là phê phán sự vô chính phủ, coi thường kỷ cương phép nước của một bộ phận dân chúng trong khi cả nước nghiêm túc thực hiện. Bài viết này chúng tôi xin đi vào một khía cạnh khác.
Chúng
ta đều biết việc cấm đốt pháo đã được Chính phủ ban hành cách nay gần hai chục
năm. Cụ thể, sau rất nhiều cân nhắc lợi hại, thăm dò dư luận nhận được sự đồng
tình ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, cộng với sự kiên quyết của Chính
phủ, tháng 8.1994 Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký ban bố Chỉ thị về việc cấm sản xuất,
buôn bán và đốt pháo. Kể từ tết nguyên đán Ất Hợi 1995 cả nước dường như im tiếng
pháo. Các làng pháo cổ truyền như Bình Đà, Đồng Kỵ, Nam
Ô… chuyển đổi sản xuất, cửa hàng không bán pháo, người dân không đốt pháo, các
lực lượng chức năng làm việc tích cực, nên việc thực hiện chỉ thị rất nghiêm
túc. Dĩ nhiên không tránh khỏi nảy sinh sự tiếc nuối khi một nét đặc trưng của
tết đã không còn, nhớ tràng pháo trong “cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”,
tiếng pháo nổ “mơ tết mơ xuân mơ tiếng pháo”. Không tiếng pháo giòn rã lúc giao
thừa, liệu tết có kém vui? Dường như lường trước được tâm trạng đó, chỉ thị của
Chính phủ cũng nêu rõ “Trong các ngày lễ lớn, các ngày tết, ngày hội có tổ chức
bắn pháo hoa, đốt pháo hoa thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải thông báo
cho nhân dân biết thời gian, địa điểm bán pháo hoa, đốt pháo hoa”. Từ đó, pháo
hoa đã thế chỗ cho tiếng pháo nổ để đem lại niềm vui cho cộng đồng ngày tết.
Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012
Bài hát tặng bạn ngày chủ nhật: Hát về cây lúa hôm nay
Con người xứ ta, dù ít dù nhiều, ai cũng lớn lên cùng cây lúa, được nuôi dưỡng bởi hạt gạo làm ra từ một nắng hai sương. Vì vậy mình rất ghét những người chê nông dân là nhà quê, coi nông thôn như vùng tồn đọng những cổ hủ, lạc hậu. Mình tự biết là cực đoan nhưng thật lòng vậy, bởi thày bu mình là nông dân, mình cũng từng là nông dân, sinh ra và nhớn lên ở làng quê, ăn hạt gạo từ lúc lọt lòng đến tận bây giờ.
Để có hạt thóc (miền Nam gọi là lúa) thật bao gian nan khổ cực. Vụ chiêm nắng cháy da cháy thịt, vụ mùa rét thấu xương. Nhớ hồi ở quê đi học nửa ngày, làm ruộng nửa ngày, giữa tiết đại hàn vẫn lội nước đầm Trợ đến ngang ngực đẩy thuyền đi nhặt lúa cho hợp tác. Cả tuổi thơ của mình run trong rét lạnh, nó ngấm vào người giờ nghĩ lại còn thấy rùng mình.
Vì thế cây lúa, hạt thóc với mình là kỷ niệm. Thày mình gọi hạt gạo là ngọc thực, một hạt rơi cũng nhặt cho bằng được. Con mình bây giờ ăn cơm không sạch bát, mình lấy gương ông nội để nhắc nhở, chúng vâng vâng dạ dạ nhưng hình như chả hiểu vì sao cái hạt gạo bé xíu ấy lại được ông và bố cho là ngọc.
Nhạc sĩ Hoàng Vân viết Hát về cây lúa hôm nay năm 1978, mình nhớ người hát đầu tiên là ca sĩ Kiều Hưng. Tuyệt vời. Sau cũng có một vài người khác hát, nhưng không thích, nhất là họ tùy tiện sửa lời, ví dụ lời nguyên là "quê hương ơi có gì đẹp hơn thế" thì họ sửa "quê hương ơi có gì đẹp hơn lúa"... Nếu xếp hạng bài ca về nông thôn, mình xin treo cho Hát về cây lúa hôm nay giải đầu bảng.
Để có hạt thóc (miền Nam gọi là lúa) thật bao gian nan khổ cực. Vụ chiêm nắng cháy da cháy thịt, vụ mùa rét thấu xương. Nhớ hồi ở quê đi học nửa ngày, làm ruộng nửa ngày, giữa tiết đại hàn vẫn lội nước đầm Trợ đến ngang ngực đẩy thuyền đi nhặt lúa cho hợp tác. Cả tuổi thơ của mình run trong rét lạnh, nó ngấm vào người giờ nghĩ lại còn thấy rùng mình.
Vì thế cây lúa, hạt thóc với mình là kỷ niệm. Thày mình gọi hạt gạo là ngọc thực, một hạt rơi cũng nhặt cho bằng được. Con mình bây giờ ăn cơm không sạch bát, mình lấy gương ông nội để nhắc nhở, chúng vâng vâng dạ dạ nhưng hình như chả hiểu vì sao cái hạt gạo bé xíu ấy lại được ông và bố cho là ngọc.
Nhạc sĩ Hoàng Vân viết Hát về cây lúa hôm nay năm 1978, mình nhớ người hát đầu tiên là ca sĩ Kiều Hưng. Tuyệt vời. Sau cũng có một vài người khác hát, nhưng không thích, nhất là họ tùy tiện sửa lời, ví dụ lời nguyên là "quê hương ơi có gì đẹp hơn thế" thì họ sửa "quê hương ơi có gì đẹp hơn lúa"... Nếu xếp hạng bài ca về nông thôn, mình xin treo cho Hát về cây lúa hôm nay giải đầu bảng.
Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012
Những bài hát của một thời (48): Hát lên em, ơi cô gái xã viên
Mình sinh ra và nhớn lên ở nông thôn. Trà Phương quê mình là làng nhỏ dưới chân núi Chè, xã Thụy Hương, H.Kiến Thụy, Hải Phòng. Làng nghèo nhưng anh chị em nhà mình luôn mến yêu, gắn bó với quê. Từ khi biết đi mình đã theo thày bu ra đồng, rồi biết làm đủ việc nhà nông như cày bừa cấy gặt, đập nương, bắt sâu, trồng dưa trồng thuốc lào... Thày bu đã dạy cho mấy chị em bài học đầu tiên là phải biết làm ra hạt lúa củ khoai có ích cho đời. Khi quê vào hợp tác xã, mấy đứa trẻ ranh bọn mình tự dưng thành xã viên thực thụ. Các anh chị lớn người ra chiến trường, người vào hỏa tuyến, chỉ còn chúng mình ở nhà, vừa học vừa làm, nên mau già.
Gắn bó với đồng quê như thế, chả trách nghe những bài hát của nhạc sĩ Trần Chung viết về nông thôn cứ thấy bồi hồi. Tự cho rằng Trần Chung là một trong số ít nhạc sĩ viết hay nhất về cuộc sống nông thôn và người nông dân miền Bắc những năm 60-70, thậm chí ngay cả đến bây giờ.
Blog này đã từng giới thiệu về bác Trần Chung (xem, nghe ở đây), nay không nói thêm nữa, để bạn có thêm thời gian thưởng thức ca khúc Hát lên em, ơi cô gái xã viên. Giai điệu thật vui tươi, rộn rã, tình người thật đôn hậu thật thà. Tiếng sáo réo rắt làm ta chợt ngơ ngác nhớ về đồng đất quê ta, "về đồng đất năm xưa ai qua vẫn nhớ", thoang thoáng chút buồn bã bâng khuâng.
Gắn bó với đồng quê như thế, chả trách nghe những bài hát của nhạc sĩ Trần Chung viết về nông thôn cứ thấy bồi hồi. Tự cho rằng Trần Chung là một trong số ít nhạc sĩ viết hay nhất về cuộc sống nông thôn và người nông dân miền Bắc những năm 60-70, thậm chí ngay cả đến bây giờ.
Blog này đã từng giới thiệu về bác Trần Chung (xem, nghe ở đây), nay không nói thêm nữa, để bạn có thêm thời gian thưởng thức ca khúc Hát lên em, ơi cô gái xã viên. Giai điệu thật vui tươi, rộn rã, tình người thật đôn hậu thật thà. Tiếng sáo réo rắt làm ta chợt ngơ ngác nhớ về đồng đất quê ta, "về đồng đất năm xưa ai qua vẫn nhớ", thoang thoáng chút buồn bã bâng khuâng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)